Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (24)

Bắc Thuộc lần III


Dương Đình Nghệ Khởi Sóng Bạch Đằng Giang






N ăm 930. Nước Nam Hán xua quân sang bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ (con Khúc Hạo) chiếm Đại La. Sai Lý Tiến làm thứ sử.

Dương Đình Nghệ ( ?- 937) giải phóng thành Đại La. Giành quyền tự chủ nước Việt được sáu năm.

Dương Đình Nghệ là hào trưởng, người làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương- Thanh Hóa. Thời Khúc Hạo cầm quyền (907 - 917) Dương Đình Nghệ là một trong những bộ tướng của họ Khúc. Từ tướng của Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ làm bộ tướng Khúc Thừa Mỹ (917 - 930).

Dương Đình Nghệ tập hợp hơn 3.000 "con nuôi" làm lính chủ lực tại lò võ làng Giàng- Tư Phố (nay là các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hoá- Thanh Hóa), dùng Ngô Quyền, Đinh Công Trứ (thân sinh của Đinh Bộ Lĩnh), Kiều Công Tiễn... làm nha tướng.

Vua Nam Hán (Lưu Nham) phong Dương Đình Nghệ thứ sử Ái Châu. Dụ dỗ ông nô lệ Nam Hán.

Tháng 3- 931. Dương Đình Nghệ cầm quân từ Ái Châu, đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của Nam Hán. Lý Tiến bỏ chạy. Dương Đình Nghệ giải phóng thành Đại La. Vua Nam Hán sai Trần Bảo mang quân tiếp viện. Dương Đình Nghệ mở cửa thành đón, và diệt viện binh Nam Hán. Chém chết Trần Bảo. Dương Đình Nghệ tự lập làm Tiết độ sứ.

Tháng 4- 937. Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn, hào trưởng Phong Châu, tướng phản ông, giết, cướp quyền.

Dương Đình Nghệ- Giành lại đất Họ Khúc đã mất

Dương Đình Nghệ là một tướng thiện chiến, huấn luyện một đạo quân tinh nhuệ, dù không thật hùng hậu. Từ Thanh Hóa, bừng bừng Bắc tiến, đánh bại liên tiếp hai đạo quân Nam Hán. Hạ thành Đại La, giết tướng Tàu cứu viện. Đánh trận đầu thắng ngay. Dương Đình Nghệ giành lại đất Việt.

Dương Đình Nghệ nêu cao tinh thần đoàn kết người Việt. Tận tâm thương yêu tướng sĩ như con cháu, làm cho họ đồng lòng, dốc sức cùng ông, đánh giặc.

Việt Nam- với tên gọi "Tĩnh Hải quân" lúc đó, dù đã thoát khỏi tay người Tàu. Nhưng dưới thời họ Khúc trước đây và cả nhà Ngô sau này, còn nhiều chia rẽ giữa các địa phương. Dương Đình Nghệ thu phục lòng người. Tập hợp những hào kiệt giỏi nhất, từ các vùng miền như: Ngô Quyền, Đinh Công Trứ, Kiều Công Tiễn.... Ông lấy tình cha con để ràng buộc họ. Việc làm của ông không thể coi là "thái quá" và sai lầm. Trong 3.000 người ông nhận làm con nuôi, có một mình Kiều Công Tiễn phản bội. Trong Kiều tộc, nhiều người phản đối Kiều Công Tiễn phản chủ. Các nhân tài do Dương Đình Nghệ đào tạo và trọng dụng: Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Đinh Công Trứ… đều trở thành những trụ cột chính trường Việt Nam thế kỷ X.

Chiến thắng Nam Hán của Dương Đình Nghệ, khởi sóng Bạch Đằng Bạch Đằng, của con rể ông là Ngô Quyền. Tạo sức mạnh tinh thần rất lớn cho người Việt.

Dương Đình Nghệ chỉ ra cho, đời nối đời dân Việt:

Dù đã bị Bắc thuộc 1000 năm, người Việt vẫn hoàn toàn đủ sức đứng vững và đương đầu được với các cuộc tấn công của người Tàu, để tách riêng thành một cõi độc lập.

Lưu Nham- Nam Hán Cao Tổ

Lưu Nghiễm, sinh năm 889, nguyên danh Lưu Nham, còn có tên Lưu Trắc, Lưu Cung, là vua đầu tiên của nước Nam Hán thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Mùa thu năm 917. Vua Lưu Nham đóng đô tại Phiên Ngung, đặt quốc hiệu "Đại Việt".

Tháng 11- 918. Lưu Nham tế Nam Giao, ra lệnh đại xá, cải quốc hiệu Nam Hán.

Năm 922. Lưu Nham tin lời thuật giả nói ông rời kinh đô, tránh tai họa, nên đã ngao du Mai Khẩu gần biên giới Mân. Vương Diên Mỹ, tướng Mân đem binh tập kích đoàn của Lưu Nham. Trước khi quân Vương Diên Mỹ đến. Lưu Nham nhận mật báo, bỏ trốn.

Năm 924. Lưu Nham dẫn binh xâm lược Mân, đóng quân ở Đinh châu và Chương châu. Lưu Nham thua quân Mân. Chạy trốn.

Năm 923. Hậu Lương bị Hậu Đường chinh phục. Hậu Đường Trang Tông làm chủ Trung Nguyên. Lưu Nham lo sợ thế lực hùng mạnh này. Năm 925 sai Cung uyển sứ Hà Từ triều cống Hậu Lương và dò xét sức mạnh của Hậu Lương. Hà Từ về, bảo: “Hậu Đường Trang Tông kiêu dâm, bất chính. Không đáng sợ”. Lưu Nham rất vui, từ đó không qua lại triều đình Trung Nguyên.

Năm 928. Thủy quân Sở tiến công Nam Hán. Bao vây Phong Châu. Lưu Nham lệnh Tả hữu nhai sứ Tô Chương đem 3.000 cung thủ giỏi, 100 chiến hạm, cứu Phong Châu. Tô Chương giăng dây sắt chìm dưới sông, hai bên bờ căng dây, đắp đê dài để giấu quân. Giao chiến với thủy quân Sở. Tô Chương giả vờ rút lui, lừa quân Sở đuổi theo. Hạm đội Sở lọt vào nơi phục kích, bị quân Nam Hán bắn tên. Quân Sở bại trận, phải lui.

Lưu Nham Gào khóc thảm thiết bên sông Bạch Đằng

Năm 930. Vua Nam Hán (Lưu Nham) sai bộ tướng Lương Khắc Trinh và Lý Thủ Phu tấn công Giao Châu- thủ phủ Tĩnh Hải quân. Bắt Tĩnh Hải tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ. Tĩnh Hải quân về tay Nam Hán. Chấm dứt quyền họ Khúc. Lương Khắc Trinh tiến công Chiêm Thành, cướp vật quý, rồi lui. Lưu Nham sai Lý Tiến cai trị Giao Châu.

Nam Hán không giữ Tĩnh Hải quân được lâu. Họ Khúc bị lật đổ. Dương Đình Nghệ tiến quân giành lại Tĩnh Hải quân. Lý Tiến nhận hối lộ của Dương Đình Nghệ, không chống trả. Năm 931. Dương Đình Nghệ bao vây Giao Châu. Lưu Nham sai Thừa chỉ Trình Bảo đem binh cứu. Thành Đại La bị Dương Đình Nghệ chiếm trước khi Trình Bảo đến. Lý Tiến chạy trốn về Phiên Ngung, bị Lưu Nham giết. Trình Bảo bao vây thành Giao Châu. Dương Đình Nghệ xuất chiến. Trình Bảo chết.

Năm 936. Vua Nam Hán (Lưu Nham) sai bộ tướng Tôn Đức Uy chiếm Mông Châu và Quế Châu, nước Sở. Sở vương Mã Hy Phạm đem 5.000 bộ kỵ binh đến Quế châu, Tôn Đức Uy triệt thoái.

Năm 937. Tại nước Việt, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết. Năm 938. Ngô Quyền tướng của Dương Đình Nghệ, tiến công Giao Châu. Kiều Công Tiễn cầu viện Nam Hán. Lưu Nham nhân cơ hội này, quyết chiếm đoạt Tĩnh Hải quân.

Lưu Nham nghĩ Dương Đình Nghệ chết, Tĩnh Hải quân không còn tướng giỏi. Phong Lưu Hoằng Thao, con trai thứ chín, sang làm Bình Hải tướng quân Giao Chỉ vương Lưu Hoằng Thao thống lĩnh thủy quân, đem binh đánh Giao Châu.

Lưu Nham hăng tiết vịt. Tự mình đem đội thủy chiến theo sau Lưu Hoằng Thao, định đóng ở Hải Môn. Lưu Nham hỏi Sùng văn sứ Tiêu Ích về sách lược.

Tiêu Ích nói: "Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo, rồi sau mới nên tiến". Lưu Nham không nghe.

Khi Lưu Hoằng Thao tiến đến Giao Châu. Ngô Quyền đã giết Kiều Công Tiễn, chiếm Giao Châu. Lưu Nham lệnh cho Lưu Hoằng Thao tung chiến hạm theo sông Bạch Đằng. Đánh Giao Châu. Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Thủy triều xuống, chiến hạm Nam Hán bị cọc sắt ngăn lại, không thể tiến và lui. Quân Nam Hán đại bại, sĩ tốt chết quả nửa. Lưu Hoằng Thao chết. Sử Việt- Tàu gọi là trận Bạch Đằng.

Lưu Nham biết tin dữ, gào khóc thảm thiết, thu tàn quân về Nam Hán.

Năm 942. Lưu Nham bệnh nặng. Ông biết Tần vương Lưu Hoằng Độ và Tấn vương Lưu Hoằng Hy đều kiêu ngạo, phóng túng. Lưu Hoằng Xương là người hiếu cẩn, có trí thức. Lưu Nham bàn để Lưu Hoằng Độ đi trấn thủ Ung Châu. Lưu Hoằng Hy đi trấn thủ Dung Châu. Lập Lưu Hoằng Xương kế vị. Tiêu Ích bảo Lưu Nham: “Nếu không lập con trai trưởng kế vị, là loạn”. Lưu Nham ngừng âm mưu. Ngày Đinh Sửu tháng 4 Âm lịch năm 942. Lưu Nham chết. Lưu Hoằng Độ thay, là Nam Hán Thương Đế.

Tư trị thông giám nhận xét Lưu Nham- Nam Hán Cao Tổ:

“Cao Tổ là người tinh ý và có tài ứng biến, song tự kiêu, thường gọi Thiên tử Trung Quốc [tức Trung Nguyên] là "Lạc châu thứ sử". Lĩnh Nam là nơi có nhiều đồ quý hiếm, ông tích góp, đến nỗi cùng xa cực lệ. Cung điện đều dùng vàng, ngọc, ngọc trai, ngọc bích làm đồ trang trí. Ông dùng hình thảm khốc, bao gồm quán tị (cắt mũi), cát thiệt (cắt lưỡi), chi giải (chặt tay chân), khô dịch (phanh thây phụ nữ mang thai), pháo chích (buộc vào cột sắt nung nóng), phanh chưng (nấu); hoặc cho rắn độc vào nước, rồi ném tù nhân vào đó, gọi là "thủy ngục". Khi Đồng bình chương sự Dương Đỗng Tiềm can, ông không nghe. Trong những năm cuối, ông càng trở nên nghi kỵ, cho rằng các sĩ nhân phần nhiều là tập trung tâm chí vì con cháu của họ thay vì quốc gia, nên tín nhiệm hoạn giả, do vậy tại Nam Hán hoạn giả đại thịnh”.

Lưu Hoằng Độ lên ngôi, cải danh Lưu Phần, đổi niên hiệu Quang Thiên, phong em Tấn vương Hồng Hi làm phụ chính. Chưa được một năm. Lưu Hoằng Độ bị các em Hồng Hi, Hồng Cảo, Hồng Xương sai người ám sát.

Hồng Hi lên ngôi, đổi tên Lưu Thịnh. Lo sợ bị các em cướp ngôi, nên chém giết tàn độc. Năm sau 944. Giết Hồng Xương, Hồng Trạch, Hồng Cảo. Năm 945. Giết Hồng Nhã. Năm 947. Các loại em Hồng Bật, Hồng Đạo, Hồng Ích, Hồng Tể, Hồng Giản, Hồng Kiến, Hồng Chiêu Hồng… đều bị giết. Năm 954, Hồng Mạc bị giết. Năm 955. Hồng Chính người cuối cùng, bị anh giết. Ba năm sau. Lưu Thịnh chết non vì bệnh (38 tuổi).

Kiều Công Tiễn cầu Nam Hán, bị Ngô Quyền giết

Kiều Công Tiễn (?- 938) người Phong Châu (Phú Thọ) là Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ cuối cùng, cai trị nước Việt thời Tự chủ năm 937- 938.

Kiều Công Tiễn là hào trưởng Phong Châu, thời họ Khúc tự chủ. Khi vua Nam Hán chiếm Tĩnh Hải quân, bắt Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình Nghệ tập hợp quân ở Ái Châu, chống Hán.

Kiều Công Tiễn theo Dương Đình Nghệ, được dùng làm nha tướng. Năm 931. Kiều Công Tiễn cùng Dương Đình Nghệ, đánh đuổi Nam Hán. Dương Đình Nghệ tự xưng là Tiết độ sứ. Kiều Công Tiễn được sai giữ Phong Châu.

Năm 937. Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, nắm quyền, tự xưng Tiết độ sứ. Kiều Công Chuẩn (con Kiều Công Tiễn) và cháu nội Kiều Công Hãn không theo Kiều Công Tiễn. Kiều Công Chuẩn mang con nhỏ Kiều Công Đĩnh về Phong Châu. Kiều Công Hãn mang quân vào Ái Châu theo Ngô Quyền. Kiều Thuận (con trai Kiều Công Chuẩn) theo hầu ông nội Kiều Công Tiễn.

Ngô Quyền đang trấn thủ Ái Châu, tập hợp lực lượng, phát lời kêu gọi chống Kiều Công Tiễn. Các hào trưởng, hào kiệt ở nhiều nơi: Dương Tam Kha, Đinh Công Trứ, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc... về theo Ngô Quyền. Kiều Công Tiễn bị cô lập. Run sợ. Cầu viện vua Nam Hán.

Tháng 4- 938. Ngô Quyền mang quân ra Bắc. Đạo quân tiên phong do Dương Tam Kha và Ngô Xương Ngập, con trưởng Ngô Quyền chỉ huy. Chớp choáng, hạ thành Đại La. Giết Kiều Công Tiễn. Quân Nam Hán chưa kịp đến cứu viện. Kiều Công Tiễn xưng Tiết độ sứ chưa đầy một năm, bị giết. Không rõ bao nhiêu tuổi.

Kiều Thuận (cháu nội duy nhất theo ông nội Kiều Công Tiễn) thoát chết, khi thành Đại La bị hạ, trốn về ẩn náu ở Hồi Hồ (Phú Thọ).

Ngô Quyền nể Kiều Công Hãn (anh ruột Kiều Thuận) có công giúp mình. Không giết Kiều Thuận.

Hai cháu nội Kiều Công Tiễn- Hai phe đối nghịch

Kiều Công Hãn, con Kiều Công Chuẩn, anh trai Kiều Thuận. Hai người là cháu nội Kiều Công Tiễn.

Kiều Công Hãn chống ông nộị Kiều Công Tiễn. Mang quân vào Ái Châu cùng Ngô Quyền, giết ông nội. Đánh thắng quân Nam Hán sang nước Việt, theo lời Kiều Công Tiễn cầu xin.

Kiều Công Hãn phục vụ nhà Ngô, được phong thứ sử Phong Châu.

Kiều Thuận, em ruột Kiều Công Hãn theo ông nội. Bỏ cha. Kiều Thuận lập một sứ quân nổi dậy thời loạn 12 sứ quân. Trong số các sứ quân, Kiều Thuận đại diện cho lực lượng đối địch với cả hai triều nhà Ngô và nhà Đinh.

Thần tích của một xã ở Cẩm Khê, lưu Viện Hán Nôm: "Khi Kiều Thuận sinh ra có điềm lành: Ánh sáng lạ tràn ngập khắp ngôi nhà. Tuổi thơ thì thông tuệ, lớn lên thì thông minh mẫn tiệp, tuổi tráng niên, Kiều Thuận có gồm đủ trí dũng". Thần tích này cho biết thêm chi tiết Kiều Thuận lấy một bà vợ họ Mai. Trước khi qua đời, bà để lại một di thư, khuyên sứ quân Kiều Thuận theo ý Trời, quy phục Đinh Bộ Lĩnh, để dân tránh khỏi nạn binh đao, chết chóc. Kiều Thuận không nghe lời linh cảm của vợ.

Một vùng rộng lớn từ Ma Khê đến Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu được Kiều Thuận gây dựng, cai quản hơn 20 năm. Dân sống yên ổn. Nông nghiệp mở mang. Thế lực vững, uy danh vang dội, các sứ quân khác nể phục. Đội quân của Kiều Thuận có vài vạn người. Tổ chức chặt chẽ. Kỷ luật nghiêm minh. Trên dưới một lòng.

Nhà Ngô suy. Các sứ quân nổi dậy chống triều đình. Kiều Thuận nổi dậy thành một sứ quân trong loạn 12 sứ quân. Ông tự xưng Kiều Lệnh Công, trấn giữ thành Hồi Hồ (nay thuộc làng Văn Khúc, huyện Cẩm Khê- Phú Thọ).

Sách Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước khẳng định sứ quân Kiều Thuận bại trận và bị giết. Không thuộc số các sứ quân về hàng hoặc quy thuận Đinh Bộ Lĩnh.

Ngô Quyền bảo: Hoằng Thao là đứa trẻ khờ dại

Lưu Hồng Thao (?-938), hay Lưu Hoằng Thao là hoàng tử, tướng Nam Hán. Lưu Hoằng Thao chỉ huy đội binh thuyền Nam Hán tấn công Tĩnh Hải quân. Bị Ngô Quyền đánh. Cậu chết trong trận đánh trên sông Bạch Đằng cuối năm 938.

Lãnh thổ Nam Hán ở vùng Quảng Đông, Quảng Tây, giáp với Tĩnh Hải quân của người Việt. Kinh đô Nam Hán đặt ở Phiên Ngung, là kinh đô của Triệu Đà, nước Việt xưa. Đầu thế kỷ X. Tĩnh Hải quân, giành quyền tự chủ. Năm 930- 931. Vua Lưu Nham đánh chiếm được một thời gian. Năm 937. Tĩnh Hải quân có vụ Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ tiếm quyền. Bị Ngô Quyền hỏi tội. Kiều Công Tiễn cầu viện Nam Hán. Nam Hán hỷ hả mang quân sang xâm chiếm đất Việt.

Sách Tân Ngũ Đại sử của Tàu chép:

Năm thứ 10, Giao Châu nha tướng Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ tự lập, tướng cũ của Đình Nghệ là Ngô Quyền đánh Giao Châu, Công Tiễn xin cứu viện. Nghiễm phong Hồng Thao tước Giao vương, xuất binh theo hướng Bạch Đằng tấn công. Còn Nghiễm thì đóng binh tại Hải Môn.

Đại Việt sử ký toàn thư chép:

Mậu Tuất, [938], (Tấn Thiên Phúc năm thứ 3). Mùa đông, tháng 12, nha tướng của Đình Nghệ là Ngô Quyền từ Ái Châu cất quân đánh Công Tiễn. Công Tiễn sai sứ sang đút lót để cầu cứu với nhà Hán. Vua Hán là Cung muốn nhân khi nước ta có loạn chiếm lấy nước, bèn cho con là Vạn vương Hoằng Thao làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao vương, đem quân sang cứu Công Tiễn. Vua Hán tự làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện.

Ngô Quyền bảo với các tướng:

Hoằng Thao là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát.

Năm 938. Lưu Hoằng Thao chưa quá 18 tuổi. Lưu Nham, cha Hoằng Thao, bấy giờ tuổi gần 50. Vua cha Lưu Nham, tuy quái cụ về chính trị, quân sự, mà sai lầm, giao đội quân chủ lực cho đứa trẻ khờ dại đấu với Ngô Quyền- vị tướng tuổi 40 hùng khí, trải qua hai cuộc chiến đánh Nam Hán, giành quyền tự chủ nước Việt.

Lưu Hoằng Thao tính khí trẻ con. Kiêu ngạo. Vô mưu. Cậu lập tức sa bẫy Ngô Quyền. Sau vài trận thắng dễ dàng. Cậu mắc mưu khiêu chiến. Ngô Quyền vờ thua chạy. Dụ địch đuổi theo. Lưu Hoằng Thao hăm hở tiến quân. Bị rơi vào điểm đặt phục binh của quân Việt. Các chiến thuyền giặc đều dính vào cọc, lật úp. Rối loạn. Tan vỡ. Quân Nam Hán chết đuối quá nửa. Quân Việt đuổi đánh. Đánh tơi bời. Đánh tan đạo quân chủ lực của quân Nam Hán. Lưu Hoằng Thao bị Ngô Quyền bắt, giết. Máu giặc nhuộm đỏ sông Bạch Đằng.

Bên sông Bạch Đằng. Vua cha Nam Hán Gào khóc thảm thiết. Chạy về Phiên Ngung. Từ đó, Nam Hán ngậm ngùi. Bỏ hẳn ý định đánh chiếm Tĩnh Hải quân. Bốn năm vua Lưu Nham chết.

Dương Đình Nghệ khởi sóng Bạch Đằng Giang

Dấu tích lịch sử Việt- Tàu in hằn trên từng tấc đất Việt Nam ngày nay. Mỗi bước chân người Việt hôm nay, khi chạm tới từng tấc đất Việt Nam hình chữ S, ôm vòng Biển Đông, đều hiện lên Sự Thật Lịch Sử Việt- Tàu, rành rành từng chi tiết sống động. Không thể xóa. Không ai quên.

Dù Tổ Tiên Việt phải ẩn giấu Sự Thật Lịch Sử Nước Việt vào cổ tích, huyền thoại, chùa, đền, miếu, hòn đá, gốc cây, giếng nước, ao làng… để che mắt kẻ thù, và lưu truyền cho con cháu, đời nọ nối đời kia. Tổ Tiên Việt- Anh hùng xả thân cứu dân bằng xương, bằng thịt, phải mai danh, ẩn tích… là sự hy sinh cao cả.

Tại sao Tổ Tiên Việt- Ông Bà Cha Mẹ chúng ta phải làm như vậy?

Mục đích để tránh sự hủy diệt Lịch sử Bách Việt của người Tàu.

Hủy diệt làm sao nổi?

Sự Thật Lịch Sử Nước Việt huy hoàng hiện lên trên từng con sóng Bạch Đằng Giang. Nước lên. Nước xuống. Sóng Tâm linh tuôn trào bất diệt. Sóng Bạch Đằng Giang vang hồn thiêng sông núi Nước Nam. Sóng Bạch Đằng Giang, ầm ĩ, tiếng Lưu Nham- Vua Nam Hán- Hán Cao Tổ Gào khóc thảm thiết (chữ ghi tại Wikipedia).

Ngày 29- 4- 2015. Tiếng vua Nam Hán Gào khóc thảm thiết trên sóng Bạch Đằng Giang thê thảm. Người Nấu Sử Sôi Kinh bên Hồ Gươm nghe vắt vẻo giọng thơ Hồ Xuân Hương

Hỏi Hán Cao Tổ

“ Nam Hán Cao Tổ, rất ô hô/ Ông ham, ông hố đồ quý Việt/ Cướp ngọc trai, bạc, vàng, bôi cung điện/ Tra tấn thảm khốc dân tù oan/ Mang quân xâm lược ác hung hăng/ Mà sao ông Gào khóc thảm thiết/b>/ Bên sông Bạch Đằng nước Việt Nam?/ Nín đi! Chị bảo cho mà biết/ Phiên Ngung kinh đô Triệu Đà- Bách Việt/ Cha con ông hòa gen Việt tộc/ Quyền/ Tiền gây thảm khốc biệt ly/ Ngai vàng Nam Hán chông chênh nền Việt/ Phiên Ngung- Tổ Tiên Việt không để yên/ Làm vua Tham Ác hay hớm gì? Ngàn năm Địa ngục gớm ghê ghi/ Tội đồ sám hối ngài Địa Tạng/ Dạy cháu con ông giữ Hòa Bình/ Sông Núi Nước Nam dân Nam ở/ Sang chơi vui nhé, chớ cướp lừa/ Đừng Lấy vải thưa che mắt Thánh/ Bạch Đằng Giang Thần Bách Việt không tha!”


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 05.10.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004