Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM






      CỐ ÐÔ HUẾ



Ngọ Môn


Ngọ Môn là một công trình kiến trúc bề thế dài 58m rộng 27,5m, cao 17m là cửa chính của Hoàng thành. Ngọ môn có 5 cửa. Cửa chính giữa chỉ giành cho vua ra vào, cao 4,2m, rộng 3,7m. Hai cửa hai giáp môn giành cho các quan. Hai cửa ngoài cùng là tả hữu dịch môn giành cho lính hầu và đoàn tùy tùng. Trên vòm cổng là lầu Ngũ Phụng, nơi nhà vua ngự trong những dịp lễ. Đây còn là nơi xướng danh các sĩ tử trúng tuyển trong những kỳ thi Hội và thi Đình 3 năm một lần, trước khi đem yết bảng ở Phu Văn Lâu. Suốt đời nhà Nguyễn, chỉ khi nào vua đi hay tiếp các sứ thần thì Ngọ Môn mới mở cửa.


Điện Thái Hoà


Điện Thái Hoà được xây dựng năm 1805, theo thể thức chung của các cung điện, đền miều ở kinh thành Huế vào thế kỷ XIX. Mặt bằng kiến trúc của điện vào khoảng 1300m2. Căn nhà chính dài 43,3m, rộng 30,3m. Điện gồm hai nhà ghép lại, nhà trước là tiền điện, nhà sau là chính điện theo kiểu "trùng thiềm điệp ốc". Nơi đây đặt ngai vàng của nhà vua. Điện Thái Hoà là trung tâm quan trọng nhất của Hoàng thành, nơi tổ chức những buổi thiết triều.


Thế Miếu


Đây là một trong những miếu thờ cúng các vua, chúa triều Nguyễn kể từ khi vào Nam lập nghiệp. Trong Hoàng thành có 5 ngôi miếu: Triệu Miếu (thờ Nguyễn Kim, người mở đầu triều Nguyễn vào Nam dựng nghiệp), Thế Miếu (thờ 9 chúa Nguyễn), Hưng Miếu (thờ cha vua Gia Long), Thế Miếu (thờ các vua triều Nguyễn) và điện Phụng Thiên cũng thờ các vua nhà Nguyễn, nhưng dành cho các bà ở nội cung đến lễ, vì họ không được phép vào Thế Miếu.

Thế Miếu được xây dựng năm 1821 để thờ vua Gia Long. Sau đó, tiếp tục thờ các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Kiến Phúc, Đồng Khánh, Khải Định. Tháng 1 năm 1959, theo yêu cầu của những người trong Hoàng tộc và dân chúng, linh vị của 3 vị vua có tinh thần chống Pháp là Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân đã được đưa vào thờ tại Thế Miếu. Như vậy, Thế Miếu thờ 10 vị vua triều Nguyễn.

Thế Miếu là một toà nhà kép (trùng thiềm điệp ốc) như điện Thái Hoà, dài 55m, rộng 28m, mỗi gian trong nội thất của Thế Miếu bày một sập chân quỳ sơn son thếp vàng, khán thờ, bài vị và một số đồ tế khí quý giá. Tai nơi đây, vào ngày kỵ của các vua triều Nguyễn, triều đình Huế tổ chức tế lễ rất lớn, do đích thân nhà vua chủ trì. So với những miếu điện cổ kính Việt Nam còn lại, Thế Miếu là công trình kiến trúc vào bậc nhất.


Cửu đỉnh


Cửu đỉnh gồm có 9 đỉnh đồng, mỗi đỉnh mang một tên: Cao, Nhân, Chưong, Anh, Nghị, Thần, Tuyên, Dụ, Huyền. Lớn nhất là Cao đỉnh nặng 4,307kg, cao 2,5m. Huyền đỉnh là đỉnh nhỏ nhất 1,935kg, cao 2,31m. 9 đỉnh nầy đã đúc trong 3 năm 1835 - 1837 và phải sử dụngtới trên 20 tấn đồng thau. Đây chính là những thành tựu xuất sắc về kỹ thuật và nghệ thuật đúc đồng của nước ta vào thế kỷ XIX.

Mỗi đỉnh tượng trưng cho một vua và cả hàng đỉnh tượng trưng chosự bền vững của triều đại nhà Nguyễn. Trên thân của mỗi đỉnh có 18 tiết họa và chữ đúc nổi lên, thanh thoát, theo mô típ cổ điển về các chủ đề cảnh vật, sản phẩm, chim muông, hoa lá và cả những nét sinh hoạt của người Việt. Nhiều người đã xem Cửu đỉnh như là một bộ bách khoa thư khái quát về con người và đất nước Việt Nam.


Hiển Lâm Các


Hiển Lâm Các nằm chung trong khu vực Thế miếu, dựng bằng gỗ có chiều cao 25m, gồm có 3 tầng. Đây là một công trình kiến trúc caonhất trong Hoàng thành. Nó phá vỡ tính đơn điệu về chiều ngang của những cung điện. Hiển lâm các được coi như một đài lưu niệmghi công đức những công thần đã góp sức xây dựng triều Nguyễn. Nếu những vị vua triều Nguyễn được thờ trong Thế miếu thì những vị công thần được thờ trong hai nhà tả tùng tự và hữu tùng tự của Hiển Lâm Các.


Tử cấm thành


Tử cấm thành là nơi ở của vua và gia đình. Khu vực nầy là một bộphận quan trọng của kinh thành Huế bao gồm các cung: Cành thành - nơi ở của vua, cung Khôn Thái - nơi ở của Hoàng Hậu, cung Diên Thọ - nơi ở của mẹ vua, cung Trường Sinh - giành cho bà nội vua. Hiện nay khu vực nầy đã bị phá hủy hầu toàn, chỉ có cung Diên Thọ và cung Trường Sinh còn nguyen vẹn. Cung Diên Thọ được xây dựng từ năm 1804. Điều đáng nói ở cung Diên Thọ là hệ thống hành lang có mái che nối liền với nơi vua ở, để nhà vua có thể đi thăm mẹ bất cứ lúc nào.


Lăng tẩm Huế


Những kiến trúc vùng lăng tẩm Huế được cấu tạo trên nhận thức về địa lý phong thủy, nhân văn trong những buổi đầu thế kỷ XIX và kéo dài mãi trong những thời điểm khác nhau. Những kinh nghiệm thực tiễn, với những biến động do tình thế của mỗi triều vua gây nên, cộng thêm những nhận thức về mỹ thuật, điêu khắc, kiến trúc, hội hoạ, trang trí.

Những khoa toán học, thiên văn học, hình học, mỹ học... tất cả đã vận dụng những chất liệu đó tạo thành cốt lỏi trong việc phát họa. Bảy khu lăng tẩm nầy mang bảy phong cách hoàn toàn khác nhau.

Lăng Gia Long trông phóng khoáng, phản ảnh tư duy con người chứa đựng nhiều tham vọng.

Lăng Minh Mạng hoàn chỉnh, ngăn nắp, uy nghi, hiện thân của vị vua trong một xã hội thái bình, thịnh trị thời phong kiến.

Lăng Thiệu Trị được tập hợp những yếu tố của hai lăng trên.

Lăng Tự Đức kiến tạo sau 16 năm lên ngôi báu, trong tình thế nhiễu nhương của đất nước; những mâu thuẫn nội tại của tâm hồn nhà vua với những phản ứng, dằn vặt do xã hội bên ngoài tác động mãnh liệt, đã ảnh hưởng trong việc xây lăng dùng làm nơi nghỉ ngơi thứ hai trong đời mình.

Lăng Dục Đức là một tận cùng của sức ma sát chính trị. Lăng Đồng Khánh nằm trong giai đoạn giao thời của đất nước, trước những phản ứng của văn hoá Tây Phương du nhập. Lăng Khải Định phản ảnh tình trạng nước mất nhà tan, cố thu hẹp lại, để chứa ẩn những khả năng bột phát bên trong của mình.

Những tay thợ lành nghề nhất đã thực hiện được ý chí nầy của nhà vua. Đi viếng lăng Huế, không chỉ nhìn vào những kiến trúc bên trong, gần gủi nhất, mà cần nhìn cảnh quan thiên nhiên toàn thể bên ngoài được chọn lựa: tiền án, hậu chẩm, rồng chầu, hổ phục, minh đường, thủy tạ: ngoại cảnh thiên nhiên mới là những nét hoành tráng của khung lăng đáng quan tâm.

Tất cả những sông núi, ao hồ, khe suối, cây cỏ chung quanh đều được tận dụng đến tối đa trong việc bố cục cho mỗi lăng tẩm. Nếu một khu đất nào không có được những yếu tố đó, thì các nghệ nhân lạidùng đến tài năng của mình để tạo chất liệu thiên nhiên, đưa vào trong cảnh trí.

Nhà văn hoá Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong Tạp Chí, khi đến viếng thăm những lăng tẩm Huế đã nhấn mạnh:

"Lăng đây là cả một toà thành, cả một vùng núi, chớ không phải một khoảng năm ba sào, một khu vài ba mẫu. Lăng đây là gồm cả màu trời, sắc nước, núi cao, rừng rậm, gió thổi ngọn cây, suối reo hang đá, chớ không phải một cái nấm con con của tay người xây dựng. Lăng đây là bức cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, ghép thêm một bức cảnh nhân tạo tuyệt khéo. Lăng đây là cái nhân công tô điểm cho sơn thủy, khiến cho có một cái hồn não nùng u uất, như phảng phất trong cung điện âm thầm, như rì rào trên ngọn thông hiu hắt..."


Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng)

Lăng vua Gia Long xây tại địa phận làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, ở tả ngạn sông Hương, cách kinh thành Huế chừng 12 cây số; khởi công xây năm 1814 và hoàn thành năm 1820.

Lịch sử xây dựng lăng vua Gia Long phân chia ra thành nhiều thời kỳ, nội dung khác phức tạp, vì đây không chỉ lăng nhà vua duy nhất, mà lại còn là một quần thể nhiều lăng tẩm khác trong gia đình của nhà vua cũng như liên hệ đến dòng họ, trong đó bao gồm cả lăng Trường Phong của chúa Nguyễn Phúc Chu, lăng Quang Hưng của một bà vợ chúa Nguyễn Phúc Tần là Sùng Hiên Hoàng hậu, lăng Vĩnh Mậu của một bà vợ chúa Nguyễn Phúc Trăn, lăng Thoại Thánh của mẹ vua Gia Long, lăng Hoàng Cô của Thái Trưởng Công Chúa Long Thành (tức là chị ruột của vua Gia Long), lăng Thiên Thọ Hữu của Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ thứ của vua Gia Long, tức là mẹ đẻ của vua Minh Mạng) và lăng của Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu (vợ chánh của vua Gia Long).

Những lăng tẩm nầy nằm rải rác nhiều nơi tại làng Định Môn, không theo một thứ tự sắp xếp nào rõ rệt cả và cũng được xây dựng qua những thời kỳ khác nhau, từ thế kỷ thứ 19 cho đến thế kỷ thứ 20.

Thậm chí đến hai lăng chính là lăng vua Gia Long và lăng Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu tuy nằm song song với nhau, nhưng cũng không thể diễn ra trong một thời điểm, mà lại kéo dài nhiều năm từ vua Gia Long cho đến vua Thiệu Trị. Chẳng hạn như vào tháng tư năm 1814, sau khi bà Thừa Thiên Hoàng Hậu qua đời, nhà vua và hoàng tộc dự tính xây dựng thành một loại hợp lăng để có thể chôn bên cạnh nhau, theo phong tục từ ngàn xưa với quy lệ "càn khôn hợp đức lệ".

Ngoài ra, nhà vua cũng nêu ý kiến là chỉ xây hai lăng nầy đơn giản, bình dị, để tránh những tốn kém. Thành thử, khi Lê Duy Thanh và Tống Phúc Lương là hai quan đại thần trong bộ Lễ được giao phó trách nhiệm tìm điạ điểm và thiết trí lăng Gia Long đã nghiên cứu thực hiện đúng tinh thần đó.

Theo những tài liệu trong Quốc Sử Tạp Lục và Quốc triều Chánh Biên Toát Yếu thì công trình xây dựng đuợc khởi công từ ngày 11 tháng 5 năm 1814, sau một lễ khai thành, đã huy động khoảng 550 người từ hai huyện Hương Trà và Hương Thủy cùng với lính trong đội Cấm Binh tham gia. Những tay thợ chính được điều động từ nhiều địa phương, với tay nghề cao và kỹ thuật vững vàng, nổi tiếng.

Chính nhà vua thường xuyên đến kiểm soát và đôn đốc, theo đúng ý định kiến trúc của mình. Lăng được xây trên núi Thụ Sơn, sau đổi tên là núi Thiên Thụ Sơn. Vùng nầy có đến 42 ngọn núi cao thấp khác nhau và cũng được đặt những tên riêng, ghi trong Sơn Phả hệ. Công trình xây dựng nầy kéo dài trong vòng 6 năm, cho đến khi vua Gia Long băng hà; sau đó, lại được vua Minh Mạng cho trùng tu thêm ba đợt khác vào 1824, 1828 và 1833.

Kiến trúc toàn bộ như sau: Trước hết là đỉnh Thiên Thụ và hai trụ biểu bằng gạch cao chừng 15 mét. Sau hai trụ biểu là hồ vòng cung. Qua khỏi hồ, chính giữa có sân rộng hai bên dựng hai dãy tượng đá đứng hầu. Sau đó đến 6 cái sân nữa liên tiếp nhau và cao dần lên. Sân cao nhất gọi là Bái Đình. Sau Bái Đình là Bảo Thành có cánh cửa bằng đồng. Trong lại thêm một lần thành bao bọc nữa, một mặt trổ cửa; mặt kiacó bình phong. Trong lam thành nầy có 2 nấm mộ bằng đá hình chữ nhật xây song song và kích thước giống nhau; đó là mộ của vua Gia Long và của Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu.Mỗi mộ có một án thờ bằng cẩm thạch.

Bên tả Bảo Thành có Bi Đình, trong dựng bia nhà vua. Bên hữu Bảo thành có tẩm điện gọi là điện Minh Thành, thờ thần vị vua Gia Long. Sau điện có Tùng Viện; trước điện có sân rồi đến cửa Nghi Môn; hai bên có Phối điện.

Điện Minh Thành được vua Khải Định ra lệnh đại tu bổ vào năm 1922 cùng với một số lăng tẩm khác trong vùng, đồng thời cũng đưọc trùng tu nhiều lần sau đó, nhưng qua nhiều biến cố và chiến tranh tàn phá, toàn thể đã rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng. Cho đến nay (1997) vẫn chưa có một chương trình trùng tu nào.

Lăng Gia Long ở vào một vị thế đặc biệt. So với những lăng tẩm của triều Nguyễn khác, thì vị trí của lăng Gia Long ở xa nhất, đối với trung tâm thành phố Huế; tuy nhiên, quang cảnh nơi đây cũng hùng vĩ và khoáng đạt nhất.

"Không có đình, không có tạ, không có cầu, không có đài, chỉ trơ trơ một tấm sân đá mênh mông, ngoài xa hai cột đồng trụ cao ngất trời! Hùng thay! Thực rõ cái chí của một vị khai quốc đại anh hùng, không ưa những sự hư văn vô ích. Phàm lăng là xây tự sinh thời vua, chứ không phải khi vua thăng hà rồi mới xây, cho nên mỗi cái lăng là một biểu tinh thần tính cách riêng của mỗi ông vua, tự tay đặt kiểu lấy cái nhà ở sau cùng của mình. Như thế thì lăng Thiên Thụ nầy thực là tấm gương phản chiếu cái khí tượng anh hùng của đức Gia Long vậy..." (Phạm Quỳnh - Mười ngày ở Huế - NPTC số 10).

Đứng giữa thiên nhiên bao la, lăng Gia Long có tính chất hùng vĩ, đơn giản, như cuộc đời của một vị võ tướng ra công xây dựng sự nghiệp. Những công trình kiến trúc thưa thớt, bình dị, được trải ra theo chiều ngang như hoà hợp với khung cảnh của thiên nhiên vùng núi Thiên Thọ.

Đứng nhìn từ xa, thì vùng núi đồi chung quanh lăng được bao quanh, tưởng chừng như một dãy thành thiên nhiên che chở. Đáng quan tâm nhất là khu tống táng của nhà Vua và Hoàng Hậu. Cả hai nằm kề bên nhau, song song, quyện với nhau. Bên trên có hai mái chảy xuôi, thoạt trông giống như những mái nhà xưa, mà màu thời gian đã biến đổi thành màu xám xịt như thử thách với non sông.

Nhà nghiên cứu kiến trúc đến đây sẽ không tìm thấy được những đường nét chạm trỗ huê dạng nào như các lăng tẩm khác trong vùng; tất cả chỉ còn là những tảng đá thanh phẳng lì, đơn giản, bình dị lạ thường. Nhìn hai lăng kề nhau, du khách dễ tưởng đến tình nghĩa vợ chồng tào khang sắt son gần lại với nhau, mặn nồng san sẻ cho nhau, vào sinh ra tử, sống chết đã có nhau.

Nhà vua khi nghĩ đến việc cấu trúc lăng của mình đã suy nghĩ điều đó cho mai sau. Đơn giản đó nhưng sâu sắc cũng ở đó.

Hầu hết những vua nhà Nguyễn đều tính chuyện xây lăng mộ của mình ngay từ khi còn sanh thời. Vua Gia Long khi mới lên ngôi, vì còn nhiều vấn đề phải giải quyết của triều cương mới, cho nên đến 12 năm sau (1814), khi bà Thuận Thiên Hoàng hậu qua đời, thì nhà vua mới nghĩ đến chuyện nầy.

Nhà vua sai quan đại thần Tống Phúc Khuông và thượng thư bộ Binh là Phạm Như Đăng đứng ra đảm trách công việc tìm đất. Hai nhân vật nầy đã giới thiệu một thầy địa lý nổi danh là Lê Duy Thanh, con trai của nhà học giả Lê Quý Đôn đi tìm vùng cát địa.

Theo ý của nhà vua là nên tổ chức theo kiểu "hợp lăng" của những triều vua Trung Quốc, cho nên tập trung nhiều lăng mộ các chúa Nguyễn và thân bằng quyến thuộc trong một vùng tập trung ở Thiên Thọ Sơn. Toàn bộ của vùng nầy được bao quanh bởi 42 ngọn núi lớn nhỏ khác nhau trong thế "long tàng hổ phục", mà trong đó Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng nhà vua.

Lê Duy Thanh phải tìm mạch đất và bói quẻ đên bảy lần mới chọn được thế đất tốt theo thế tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ, minh đường, thủy tụ. Khi nghe được tin nầy, nhà vua rất mừng, liền cởi voi đến xem xét vùng đất, nhưng lại không đồng ý, cho nên đã chọn nơi mai táng trên khu đồi Chánh Trung, như vị trí hiện nay.

Vua Gia Long cho gọi Lê Duy Thanh đến mà quở mắng: " Nếu như nhà ngươi muốn nói đến long mạch thích hợp, thì nơi đây mới chính là vị trí thích hợp nhất cho một kiểu lăng. Có phải là nhà ngươi muốn để giành lại khu đất nầy, để chôn nhà ngươi sau nầy chăng?" .

Lê Duy Thanh van xin mãi, nhà vua mới tha tội. Triều thần có người hiểu được tài năng và lòng trung thành của Lê Duy Thanh, nhưng hiểu được nhà vua, cho nên không ai lên tiếng trong vụ nầy. Nhà vua muốn vững tâm hơn, trước khi bắt tay thi công, nhà vua sai Hoàng tử thứ 4 là người hiểu Kinh Dịch, bói thử một quẻ. Quẻ bói là "Dư", được giải ra là "Đại Cát hanh"; bấy giờ nhà vua mới yên tâm. Tuy nhiên quẻ bói chỉ nói đến ngày giờ thích hợp choviệc khởi công mà thôi.

Lăng nầy được khởi công ngày 22 tháng 3 âm lịch năm Gia Long thứ 13 (1814). Đại Nam Thực Lục Chánh biên viết: "Một người như Lê Duy Thanh có công với nhà vua thì lại hoá ra là kẻ có tội".

Tương truyền từ đó về sau, Lê Duy Thanh tuyên bố giải nghệ và không bao giờ chịu xem mạch đất cho bất cứ một người nào, kể cả hàng vua chúa nữa. Trong những ngày thi công, nhà vua thường đến vùng Thiên Thọ để giám sát. Một hôm, trời bỗng dưng chuyển tiết, một trận cuồng phong dữ dội xoáy mạnh đột ngột, làm sập ngôi nhà mà nhà vua đang trú ẩn.

Nhanh chân, nhà vua nhảy vào môt cái hố gần đấy để núp, nhưng cũng bị thương ở trán và mí mắt; chân cũng bị dập do một thanh xà rơi trúng. Hai vị Hoàng tử thứ bảy và thứ tám cùng đi theo tên là Tấn và Phổ cũng bị trọng thương. Nhiều người thơxây cất cũng bị chết.

Vua Gia Long không trừng phạt các quan thi công bất cẩn, mà lại còn cấp tiền bạc, thuốc men, đồng thời cũng đã ban 500 chuẩn gạo cho dân làng Định Môn, để giúp cho những gia đình bị nạn trong cơn lốc dữ dội nầy. Nhiều người tỏ ra nghi ngờ việc thay đổi phần đất do theo ý của nhà vua.


Lăng Minh Mạng


Lăng Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế Minh Mạng được xây tại vùng núi Cẩm Kê, trong địa phận thuộc ấp An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ngọn núi nầy được nhà vua đổi tên là Hiếu Sơn (1840) năm 1841 đời Thiệu Trị năm thứ nhất, nhà vua dâng lễ, đổi tên lăng gọi là Hiếu Lăng.

Từ năm 1826, năm Minh Mạng thứ bảy, chính nhà vua đã cho mời những nhân vật nổi tiếng trong khoa địa lý phong thủy đi tìm vùng đất thích hợp nhất, để từ đó chuẩn bị lăng mộ cho mình. Vị quan điều động công việc nầy là Lê Văn Đức; nhà vua rất bằng lòng và thăng thưởng lên hai cấp bậc.

Sau đó, thì nhà vua đã sai các quan đại thần Trương Đăng Quế, Bùi Công Huyên điều động những binh sĩ thuộc Giám Thành Vệ đến vùng đất được chọn lựa để tiến hành việc khảo sát toàn thể địa thế, khoanh vùng, lập sơ đồ, đo đạc địa diện. Những dự án chi tiết về những bộ phận chính như La Thành, Bửu Thành, Đền đài, đình tạ, đường sá cũng được soạn thảo chu đáo trình lên cho vua duyệt xét lại.

Nhưng mãi cho đến tháng 4 năm 1840, lăng Minh Mạng mới bắt đầu được khởi công và hoàn tất cơ bản vào tháng 12 năm 1843. Để hoàn tất công trình nầy, triều đình đã huy động đến 3,000 lính, nhân công, và những tay nghề nổi tiếng trong sáu huyện của tỉnh Thừa Thiên, cùng thợ giỏi làng Phường Đúc giúp sức.

Nhìn tổng quát, Hiếu Lăng không có được cảnh trí hùng vĩ, uy nghiêm như Thiên Thọ, nhưng lại mang tính chất thơ mộng hơn. Chung quanh lăng, những La thành được bọc kín lại, ôm quanh khá chặt chẻ, không giống như cảnh trí khoáng đảng của Thiên Thụ Lăng.

Toàn vùng, cây cối mọc um tùm, những điểm xây dựng đình tạ, lâu đài rải rác khắp nơi. Phía trong cùng quần thể nầy là Bảo Thành tức là ngôi mộ chính của nhà vua; tuy nhiên, vào thời nầy, việc chôn vua được giữ cẩn mật, cho nên không biết rõ vị trí chính xác tại điểm nào.

Nhiều giả lăng cũng được dựng lên. Trên nguyên tắc căn bản trong kiến trúc nầy thì sau khi chuẩn bị xong, phải cho đào những đường toại đạo để đưa linh cửu nhà vua đặt vào; sau đó thì phá hết những lối đi để không tìm thấy dấu vết nữa. Vùng Bảo thành, ở phía trước chỉ cao 6 thước, nhưng phía sau thì cao đến 8 thước; những cửa ra vào vùng Bảo Thành đều được xây bằng đá cẩm thạch, những cánh cửa đều bằng đồng.

Lối ra vào Bảo Thành là 36 bệ cấp. Phía trước của Bảo thành là hồ Tân Nguyệt, khá rộng rãi; ở chính giữa hồ đưa vào bờ, có xây cầu Thông Minh Chính Trực, làm nơi ngoạn cảnh. Ngoài cầu nầy là núi Tam Tài, ở lưng chừng có Minh Lâu. Hai bên núi Tam Tài có hai ngọn núi khác được đặt tên là Bình Sơn và Thành Sơn.

Trên mỗi đỉnh núi đều được dựng lên một trụ biểu khá cao, điêu khắc công phu hình tứ quý và kỷ hà, sóng nước. Phía ngoài của Minh Lâu có hồ Trừng Minh rất thơ mộng. Nhiều công trình khác được dựng lên trong khu vực nầy; gần bên bờ hồ, phía hữu có đình Điếu Ngư, nơi nhà vua thường đến câu cá, đề thơ.

Phía tả có quán Nghinh Hương, cũng mang một chức năng tương tự như ngôi đình bên cạnh. Trên hồ nầy có ba chiếu cầu đá sắp đặt theo mô thức phong thủy; ở giữa là cầu Trung Đạo; còn hai bên là cầu Tả Phụ và cầu Hữu Bật. Phía tây của hồ nầy lại còn có thêm một chiếc cầu đá khác nữa, có tên là cầu Yển Nguyệt.

Ngoài cầu Trung Đạo, đi qua cửa Hoằng Trạch, quamột sân rộng, thì đi đến điện Sùng Ân, được xây dựng trên núi Phụng Thần. Điện nầy là nơi lễ tế chính thức nhà vua. Hai bên của sân nầy có Tả, Hữu Tùng Viện là nơi đặt những di vật của nhà vua.

Một số thi ca của nhà vua cũng được bảo lưu tại đây. Phía ngoài của điện Sùng Ân, còn có thêm một sân phía trước, hai bên có Đông Phối Viện và Tây Phối Viện là nơi để triều thần chuẩn bị trong những lúc hành lễ. Cuối sân nầy có cửa Hiển Đức. Đây là phần kết thúc của phần chánh của lăng; bên ngoài còn có thêm Bi Đình là nơi dựng bia ghi lại công đức nhà vua.

Bái Đình là nơi các quan lại đến lễ thường. Bi Đình do vua Thiệu Trị cho dựng lên vào ngày 25 tháng 1 năm 1842; tấm bia nầy bằng đá cẩm thạch. Phía ngoài Bi Đình còn thêm một sân bằng gạch; hai bên có hai hàng tượng đá, dựng những hình voi, ngựa, quan lại đứng chầu. Chung quanh vùng điện đài nầy còn có những núi non hùng vĩ như núi Tĩnh Sơn, núi Đức Hoá, núi Đạo Thống, núi Phúc Ấm.

Trên mỗi ngọn núi đều có xây những sở, hiên, gò, đống, như Hiên Tuần Lộc, sở Quan Lan, đảo Trấn Thủy, Truy Tư Trai, hồ Hư Hoài... Bốn mặt Hiếu Lăng có xây La thành bao bọc khá kiên cố, chiều cao chừng 2,7 thước, chiều dày là 0,5 thước chung quanh đo được 1,700 thước. Mặt trước có cửa Đại Hồng Môn hai bên tả hữu có các cửa Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn.

Nhìn chung lại, lăng Minh Mạng được xây dựng trong một quần thể điện đài khá hoàn chỉnh. Ngoài việc chọn vùng núi non hoành tráng, toàn thể được thiết kế theo một trục duy nhất chạy từ cửa Đại Hồng Môn cho đến lăng mộ nhà vua.

Hai hồ Tân Nguyện và Trừng Minh dùng làm nền tảng cho toàn cảnh trí. Nhờ vậy, tăng thêm cảnh thơ mộng, lại hợp với tư duy phong thủy. Trọng tâm thì vẫn là điện Sùng Ân và Bảo Thành. Những phần còn lại chỉ điểm xuyết thêm ngoại cảnh.

Từ con sông Ngự Hà tiến vào lăng, toàn thể có chiều sâu hun hút, với chiều dài khoảng 700 mét. Chung quanh toàn là núi non thoai thoải, trên mỗi ngọn đều có những kiến trúc cục bộ. Những công trình nầy sắp đặt theo kiểu đối xứng, song song từng cặp. Điều nầy thể hiện được toàn vẹn tư tưởng của nhà vua.

Nếu thời Gia Long là giai đoạn tái lập mọi trật tự cần thiết, nhất là xoá tan khuynh hướng hoài Lê, tinh thần phong trào Cần Vương, thì triều vua Minh Mạng là xây dựng vững chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Nhà vua dùng kỹ cương Nho giáo để trị nước, cho nên nhận thức quan nầy in đậm nét mọi công trình, kể cả lăng tẩm. Thần trí và hồn tính triều vua nầy toả khắp mọi ngành hoạt động.

Một điều trực nhận khác: Phía ngoài lăng, những kiến trúc đơn giản, tự nhiên, thì càng đi sâu thêm vào chừng nào, những công trình kiến trúc đa dạng lan toả càng nhiều thêm và dày thêm, không có những vẻ thiên nhiên, bao quát như Thiên Thọ Lăng.


Lăng Thiệu Trị


Lăng Thiệu Trị còn gọi là Xương Lăng. Vua Thiệu Trị chỉ trị vì được bảy năm thì lâm bệnh nặng mà băng hà, lúc đó chỉ 41 tuổi, cho nên mọi công trình xây dựng đã không hoàn thành như ý định từ trước.

Theo những tài liệu còn lưu lại cho biết: Khi nhà vua vào giờ lâm chung thì đã căn dặn triều thần và vị vua kế ngôi rằng: Vùng đất chọn xây lăng là Sơn Lăng, chọn nơi bãi cao và dưới chân núi; như vậy việc kiến thiết cũng được dễ dàng nhiều. Quan trọng nhất là con đường đi vào huyệt mộ, khởi từ Hiếu Lăng, y cứ theo đó.

Những điện đài nên xây dựng khiêm tốn, cần kiện, không vụ lấy nhiều, gây những hao tổn tiền của dân chúng. Những điều nói trên đã nêu rõ những nét căn bản của Xương Lăng. Cũng như những triều vua trước, trước khi tiến hành việc xây lăng, bố cục toàn thể, vua Thiệu Trị đã cho mời những thầy địa lý phong thủy nổi tiếng đến thăm dò xu thế và cảnh quan điạ diện.

Địa thế thích hợp với ý định của nhà vua là vùng dưới chân núi thuộc làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, cách trung tâm kinh thành Huế tương đối không xa, như hai lăng của các vua tiền nhiệm. Ngọn núi nầy về sau được đặt tên là núi Thuận Đạo Sơn.

Lăng được khởi sự xây cất vào ngày 11 tháng 2 năm 1848 và được hoàn thành những phần căn bản vào tháng 12 năm đó, tính ra vào khoảng 10 tháng. Mọi công trình điều động và giám sát đều do vị võ tướng trong triều là Vũ Văn Giai chỉ huy. Theo chiếu chỉ của vua Tự Đức, thì trong thời gian tiến hành, phải báo cáo thường xuyên về nhà vua. Điều quan trọng nhất mà nhà vua thường nhắc nhở là phải theo lời trăn trối lúc lâm chung xây con đường toại đạo như lăng Minh Mạng để che dấu ngôi mộ chính, tránh những chuyển phá hoại, yểm trừ.

Toàn thể cảnh quan lăng tẩm vua Thiệu Trị được phân ra làm hai phần: Phần chính gồm lăng vua và phần cúng lễ; phần phụ nằm về phía Tây có thêm một số điện đài và phối điện.

Trước hết, về phía trong cùng là Bảo Thành, vùng lăng mộ chính của nhà vua. Mộ vua được chuyển vào theo đường toại đạo, nên không thể xác định rõ vị trí. Chu vi của vùng Bảo Thành khoảng 145 thước, cao hơn ba thước. Bên cạnh lăng nằm về phía bên phải có gác Hiển Quang, tồn trữ một số di vật của nhà vua. Phía trước lăng là hồ Ngưng Thúy khá thơ mộng.

Muốn vượt qua cầu nầy có thể dùng ba chiếc cầu xây bằng đá Thanh Lương: cầu Chánh Trung rộng nhất, nằm ở giữa; bên trái là cầu Đông Hoà; bên phải là cầu Tây Định, tương đối nhỏ hơn. Khi qua khỏi những cầu nầy, thì đến vùng lầu Đức Hinh là nơi cúng lễ nhà vua hằng năm (lễ nhằm ngày mồng 4 tháng 11).

Kiến trúc lầu nầy khá phức tạp, công phu, nhiều chi tiết đẹp. Trước lầu có Bi Đình, trên đó ghi sự nghiệp trị nước của nhà vua. Những vị quan trong bộ lễ do Trần Xuân Mỹ soạn ra. Phía trước Bi Đình còn có một sân rộng, có hai hàng tượng đá gồm voi, ngựa và quan chầu như lăng Minh Mạng. Công trình điêu khắc do tốp thợ chính của Phường Đúc và Long Thọ đảm nhiệm. Sau hết là bình phong khá mỹ thuật và chấm dứt khu vực nầy bằng hồ Nhuận Trạch.

Khu vực 2 thì đơn giản hơn. Về mé bên tả, nhìn ngang qua từ Bi Đình, thì có điện Biểu Đức: Điện nầy có nhiều kiểu trang trí tứ quý, tứlinh, bát vật và nhiều thơ văn. Phía sau của điện Biểu Đức là hai viện khác: Tả Tùng Viện và Hữu Tùng Viện. Tuy nhỏ hơn nhưng điêu khắc, kiến trúc không kém. Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương trông coi hai viện nầy và lưu nhiều thi văn. Ngoài ra phía trước của điện Biểu Đức còn có thêm hai phối điện là Đông Phối Điện và Tây Phối Ðiện. Cả năm cung điện lập thành một quần thể liên hoàn. Phía sau cùng là cửa tam quan, gọi là Hồng Trạch Môn.

Cũng cần kể thêm ngôi mộ của bà Từ Dũ, vợ của vua Thiệu Trị cũng được chôn cất gần Hồng Trạch Môn, nhìn chéo qua. Tất cả những công trình kể trên đã bị hư hỏng khá nhiều qua cuộc chiến vừa qua, đến nay, việc trùng tu không đáng là bao.

Nhìn tổng thể, thì lăng Thiệu Trị đơn giản hơn hai lăng của vua Nguyễn tiền nhiệm, tuy nhiên vẫn được thiết kế đầy đủ: hồ, tạ, bi ký, điện thờ, đường toại đạo, nhất là được bố cục trên nguyên lý phong thủy truyền thống.


Lăng Tự Đức


Một trong những lăng nổi tiếng nhất tại kinh thành Huế là lăng vua Tự Đức. Lăng nầy được xây ở phía hữu ngạn của sông Hương, tại vùng núi Khiêm Sơn, làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Lăng được xây từ năm 1864 và hoàn tất vào năm 1867. Vua Tự Đức trong lúc sinh thời thường thích thơ phú, yêu thiên nhiên cho nên thường đến lăng mình; tại đây được xây dựng như một cung điện thứ hai ngoài Hoàng Thành. Thành thử ngài quan tâm sâu sắc đến lăng mình, với những thiết kế uy nghiêm tráng lệ với đã đủ tiện nghi trong thời gian sống tại đây.

Điều nghịch lý trong cuộc sống của nhà vua thời nhiễu nhương nhất của đất nước, mà lại bỏ nhiều thời giờ chăm sóc và lui tới vùng lăng tẩm nầy. Nhà vua lên ngôi năm 20 tuổi (1848), rồi thời gian sau đó quân Pháp tìm cách để đánh chiếm lấy nước ta, khởi đầu là những tỉnh của phía Nam. Lăng được hoàn tất khi vua đã 40 tuổi, và sau đó còn sống thêm 16 năm còn lại.

Điều nầy đã giúp vua giành nhiều thì giờ cho việc kiến thiết và mở mang lăng của mình. Vốn là một nhà thơ, thích ngâm vịnh, thích gần thiên nhiên, cảnh trí thoát tục, cho nên trong mỗi công trình kiến tạo về lăng tẩm, nhà vua đã để nhiều tâm huyết vào.

Cũng như các lăng tẩm khác, trước khi xây dựng lăng cho mình, nhà vua đã vạch ra những điểm cơ bản thích hợp với tư duy, sau đó mới tìm những điều kiện cần thiết để tiến hành. Thuật phong thủy được đặt ra đầu tiên trong việc tìm địa diện. Đồ án kiến trúc toàn bộ được chấp nhận vào tháng 10 năm 1864, nhưng phải đợi thêm một thời gian sau, tìm ngày giờ thích hợp, so với tuổi, mới cho khởi công.

Theo tính toán công trình với nhân công, thợ chuyên môn cần thiết, thì phải mất trong vòng 5, 6 năm trời mới hoàn tất được. Thoạt đầu, triều đình vận dụng 3,000 lính trong Đại nội và những vùng chung quanh tham gia, cộng thêm những tay nghề cao trong các phủ huyện được trưng dụng. Quan Biện Lý bộ Công là Hàm Nguyên Nguyễn Văn Chất và Tham Tán Trần Quang Trực đứng ra phụ trách điều hành.

Theo dự kiến cho hai vị nầy, thì có thể thực hiện trong vòng ba năm trời, tính đã trừ ra những ngày mưa gió khó khăn. Sau đó, thống chế Lê Văn Xa được thay thế chỉ huy mọi chương trình thi công. Theo quy định, thì trong mỗi 10 ngày, phải trình lên cho nhà vua biết kết quả, thuận lợi và khó khăn. Những vị quan nầy đã gấp rút trong những công trình khó khăn cho nên về sau đã cưỡng bức lao động, cấm ngặt những kỳ nghỉ phép, làm thêm giờ và kiểm soát khắt khe. Chính điều nầy đã gây nhiều bất mãn trongviệc xây Vạn Niên Cơ nầy:

Vạn Niên là Vạn Niên nào,

Tường xây xương lính, hào đào máu dân.

Một số nhân vật đối lập nhân cơ hội nầy đã phát động cuộc chống đối; đứng đầu là anh em Đoàn Trưng, Đoàn Trực và Đoàn Hữu Ái. Cuộc nổi dậy vào ngày 16 tháng 9 năm 1866, sau hai năm xây dựng. Họ lấy danh nghĩa tôn phò Ngũ đại Hoàng tôn, đưa Ưng Đạo (Đinh Đạo) lên ngai vàng.

Nhưng cuộc khởi nghĩa chẳng bao lâu thì thất bại. Nhiều người tham gia bị giết. Sau vụ nầy, nhà vua đổi viên chỉ huy công trường rồi vẫn tiếp tục.

Đại cương lăng vua Tự Đức được phân chia làm ba phần: phần lăng mộ, phần cung điện nhà vua và phần hồ tạ. Khiêm Lăng vừa là lăng, vừa là cung cho nên những công trình kiến tạo vẫn tiếp tục không ngừng.

Phần thứ 1: Trước hết là phần Bảo Thành, kiến trúc khá tinh vi; tuy nhiên người ta không rõ thi hài nhà vua được chôn giấu nơi nào. Sau Bảo Thành là Bi Đình. Đây là tấm bia lớn nhất tại kinh thành Huế. Bia được soạn ngay khi nhà vua còn trị vì, nội dung kể lại tiểu sử của ngài. Hai bên bia có dựng hai trụ hoa biểu. Chung quanh lăng có tường bao bọc, có dựng cửa tam quan ra vào được gọi là Khiêm Cung Môn. Chính giữa có điện Hoà Khiêm là nơi thờ phụng nhà vua; điện nầy gồm chánh tịch và tiền tịch, kiến trúc khá tinh vi. Nhiều thơ đề còn lưu lại tại đây. Sau Bi Đình là Bái Đình, xây thành nhiều cấp bậc khác nhau; hai bên có hai hàng tượng đá gồm voi, ngựa và quan lại. Xa hơn có hồ nhỏ gọi là Tiểu Khiêm.

Phần 2: Cung điện của vua. Khung cảnh chính của vùng nầy là điện Lương Khiêm, nơi nhà vua dùng làm chỗ tạm trú trong những lúc lên viếng cảnh lăng. Chung quanh điện Lương Khiêm còn có bốn toà nhà khác; hai bên tả hữu thì có Lễ Khiêm và Pháp Khiêm; đông tây thì có Minh Khiêm Đường và Ông Khiêm Đường. Ngoài ra, sau điện nầy lại còn có hai viện khác, gọi là viện Tùng Khiêm và viện Dụng Khiêm. Tả hữu còn có Chí Khiêm đường và Y Khiêm, Trì Khiêm.

Phần 3: Phần chính của vùng nầy là Khiêm hồ. Đây là nơi thường ngồi câu cá, ngắm cảnh, đề thơ. Trong hồ nầy có dựng lên hai nhà tạ có tên là Tạ Dũ Khiêm và Tạ Xung Khiêm. Giữa hồ lại có hòn đảo nổi lên gọi là Khiêm đảo. Trên đảo nầy có dựng lên những đình viện nhỏ là đình Nhã Khiêm, đình Tiêu Khiêm và đình Lạc Khiêm. Những nơi nầy dùng để xem hoa, thưởng nguyệt. Từ trên hồ nầy có bậc ra những chiếc cầu, phân chia đều chung quanh là cầu Tuần Khiêm, cầu Tiễn Khiêm và cầu Do Khiêm.

Ngoài ra, bên nhà tạ, phía dưới chân núi còn thêm đình Thể Khiêm là nơi tập bắn của nhà vua. Từ xa nhìn về, Khiêm Lăng có La thành bao bọc khá kiên cố. Chung quanh có ba cửa ra vào là cửa Vụ Khiêm, cửa Thượng Khiêm và cửa Tự Khiêm. Một hệ thống nhà cửa của quân lính canh phòng bên ngoài, gồm có quân thự, quân xá và điếm canh.

Nhìn chung lại, Khiêm Lăng có một lối bố cục độc đáo. Toàn thể đã phá vỡ mô thức cân đối thường thay trong các lăng tẩm hay công trình kiến trúc khác tại kinh đô. Những lối đi quanh co, khúc chiết, nối tiếp nhau khiến du khách có cảm tưởng bị thu hút trong quanh cảnh trang nghiêm kỳ bí do người chủ trương cố ý tạo ra.

Bất cứ công trình nào cũng đặt đúng trọng điểm. 40 cảnh quan nhỏ được rải rác khắp nơi, tạo ra một sức quyến rủ khác thường. Việc xây lăng gặp những chống đối của quan quân như đã nói, nhất là trong thời kỳ đất nước gặp chuyện nhiễu nhương, tuy nhiên, trên một bình diện khác thì Khiêm Lăng đã tạo nên một cảnh trí và hồn tính vô cùng sâu sắc. Phải có một tâm hồn nghệ sĩ trầm thâm mới phác hoạ được cảnh trí nầy.

Theo những tài liệu lưu lại thì lăng Tự Đức có chôn nhiều vàng. Năm 1913, chiến tranh thế giới lần thứ nhất sắp bùng nổ, chính quyền Bảo Hộ Pháp Trung Kỳ do Khâm sứ Mahé điều động đã ra lệnh cho đào vàng một vài điạ điểm ở Khiêm Lăng. Số vàng đào được đã đưa về nước, dùng trong chiến tranh. Điều nầy khiến cho một số quan lại chống đối trong số có Thượng thư Nguyễn Hữu Bài. Vua Duy Tân hết sức bất mãn.

Những nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa 1916 đã tố cáo "Phụ Hoàng Hoàng đế, hà tội kiến thiên. Dực Tôn tôn lăng, hà cố kiến quật".


Lăng Dục Đức


Công việc xây dựng lăng Dục Đức gặp nhiều khó khăn. Lên ngôi ngày 20 tháng 7 năm 1883, nhưng chỉ ba ngày sau thì lại bị phế (23 tháng 7 năm 1883) bị quản thúc tại Dục Đức Đường, sau đó chuyển qua giam ở Thái Y Viện băng hà vào ngày 6 tháng 10 năm 1883. Tiếp theo đó là một chuỗi ngày tháng rối ren của lịch sử:

Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết;

Tứ nguyệt, tam vương, triệu bất tường"...

mà giòng họ nhà Nguyễn thời đó thì:

"Một nhà sinh được ba vua;

Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài".

Theo những tài liệu truyền miệng lại thì ngày vua Tự Đức qua đời, triều đình đã không cho thân nhân của nhà vua biết để lo việc mai táng, chỉ bó lại sơ sài và chôn tại vườn chùa Tường Quang. Về sau, đến năm 1888 con trai của vua Dục Đức là Nguyễn Phước Bửu Lân được đưa lên ngai vàng, niên hiệu là Thành Thái. Sau khi lên ngôi, nhà vua mới cho quan quân xây lăng mộ cho thân phụ tươm tất hơn, đặt tên là An Lăng, để lo việc thờ cúng.

Ngoài ra, đến năm 1891, triều đình còn dựng thêm một ngôi miếu khác ở phường Thuận Cát, gần Đại Nội, đặt tên là Tân Miếu, để thờ phụng.

Lăng Dục Đức (còn gọi là An Lăng) của Công Tôn Huệ Hoàng Đế được xây trong địa phận của làng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Lăng nầy được xây vào năm Thành Thái thứ hai (1890). Thiết trí của lăng nầy cũng khuôn rập theo những lăng của các vua tiền nhiệm, nhưng do hoàn cảnh, đã đơn giản hơn. Bảo thành của An Lăng xây khá lớn, nhưng kiến trúc đơn giản. Phía ngoài của Bảo thành có dựng cửa tam quan, có dựng lầu phíatrên; hai bên có dựng Đông Hoa Biểu và Tây Hoa Biểu. Tiếp theo đó là Bái Đình phân thành nhiều cấp bậc. Chung quanh có xây những dãy lan can, điểm xuyết nhiều chậu hoa mai tứ thời.

Phần thờ phụng của nhà vua là điện Long Ân, được xây dựng vào năm 1899, bao gồm một chánh tịch và một tiền tịch. Phiá trước có Tả Phối Điện và Hữu Phối Điện, là nơi tàng trữ nhiều kỷ vật của thời nhà vua trị vì. Ngoài ra, phía sau còn có Tả hữu Kiều Gia và tả hữu Tùng Viện. Những điện nầy để cho 7 bà vợ thứ của vua Dục Đức ăn ở, để trông nom việc thờ cúng quanh năm.

Chỉ còn có bà Từ Minh Hoàng Thái Hậu (mẹ của vua Thành Thái) được ở tại cung Diên Thọ trong Đại Nội. Trước mặt lăng có dựng cửa lầu ở tam quan. Ngoài ra, bên ngoài có quân vụ, thái vụ, điếm canh của những lính canh giữ lăng.

Năm 1906, bà Từ Minh Hoàng Thái Hậu qua đời; triều đình đã cho tu chỉnh lại lăng vua Dục Đức, để trở thành một khu vực "lăng kép" theo kiểu Thiên Thọ Lăng mô hình "càn khôn hiệp đức".

Năm 1907, khi vua Thành Thái bị lưu đày và vua Duy Tân lên nối ngôi, thì nhà vua đã cho xây dựng thêm một số "nhà tây" ở phía bên phải điện Long Ân, để cho 20 bà thứ phi của vua Thành Thái ăn ở tại đấy. Chỉ còn có mẹ đích của vua Duy Tân là Nguyễn Gia Thị Anh và mẹ đẻ của vua là Nguyễn Thị Định thì được sống trong cung Diên Thọ.


Lăng Đồng Khánh


Lăng vua Đồng Khánh (còn gọi là Tư Lăng) tọa lạc về phía tây của ngọn núi Khiêm Sơn, trong địa phận của làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Lăng xây vào đầu năm 1889 và hoàn tất và cuối năm đó. Việc xây dựng lăng Đồng Khánh gặp khá nhiều trở ngại. Nhà vua chết năm mới 25 tuổi (28 tháng giêng năm 1889), chỉ trị vì trong khoảng ba năm, cho nên đã không chuẩn bị việc xây lăng cho mình như những vị vua triều Nguyễn trước đó.

Sau khi vua Đồng Khánh băng hà hơn 20 ngày, thì quan tài của nhà vua được đưa đến quàn tại điện Ngưng Hy trong địa phận của lăng mộ Kiến Thái Vương, tức là thân phụ của vua Đồng Khánh. Mãi cho đến tháng 4/1889 thì mới đưa qua chôn tại tu lăng mộ đã được chọn gần đó, mặc dù những công trình kiến trúc trong lăng nầy chưa hoàn tất.

Bảo Thành của lăng nầy không quy mô như những lăng các vua tiền nhiệm, nhưng được xây bằng những vật liệu khá kiên cố. Nhờ kỹ thuật ngày càng thêm tối tân. Ngoài Bảo thành có Bái đình, chia làm ba cấp, rồi sau đó đến Bi đình. Trong Bi đình có bia của đức Thánh Đức Thần Công do vua Khải Định dựng lên vào ngày 16 tháng 6 năm 1917.

Ngôi tẩm điện chính nằm về phía trái của lăng nhà vua, được gọi là điện Ngưng Hy cũng được phân làm chánh tịch và tiền tịch. Phía trước của lăng có tả hữu phối điện. Phía sau lại có thêm tả hữu Tùng viện. Phần lớn những công trình của lăng Đồng Khánh còn giữ lại cho đến ngày nay đều được vua Khải Định điều động để thực hiện.

Theo những tài liệu trong Đại Nam Thực Lục, thì sau khi lên ngôi chừng hai tháng, vua Khải Định đã xuống chiếu cho bộ Công chăm lo việc tu sửa lại toàn thể khu lăng tẩm nầy. Công việc cứ thế mà tiến hành qua nhiều đợt những năm 1916, 1917, 1921 và 1923.

Xem như vậy thì lăng Đồng Khánh đã không có những chuẩn bị từ trước, mà chỉ dựng lên trong khu vực lăng Kiến Thái Vương, sau đó thì sửa sang dần dà, tùy theo khả năng và hoàn cảnh. Tính chất nhất quán, đồng bộ đã không được bố trí ngay từ đầu.


Lăng Khải Định


Lăng Khải Định (Ứng Lăng) xây lên tại làng Châu Chử, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, cách trung tâm thành phố Huế chừng 4 cây số. Lăng nầy được xây công phu trong suốt 11 năm trời, từ 1920 cho đến năm 1931, từ khi vua còn đang tại vị cho đến đời vua Bảo Đại.

Lăng được xây trong một triền núi cao, phải mở đường, phá núi, lớp thung lủng, cho nên việc xây dựng vô cùng tốn kém. Triều đình đưa những tù nhân, binh lính, nhân công từ nhiều nơi đến, để lo việc tạo thành một địa diện lớn để xây lăng. Đã vậy, vùng Châu Chữ, Châu Ê nổi tiếng là nơi ma thiêng nước độc, sơn lam chướng khí, cho nên bệnh tật phát ra liên miên:

Đường đi Châu Chữ gập ghềnh;

Ma thiêng nước độc, cũng đành phải đi;

Châu Ê! ơi hỡi Châu Ê!

Khi đi thì có, khi về thì không..."

... nói lên tình cảnh bi thiết của những người phục dịch. Khác với những lăng tẩm khác, Ứng Lăng xây dựng theo mô thức Tây Phương: Ngoài những vật liệu có sẵn trong nước, chiếm phần nhỏ, còn đa số đều nhập cảng từ Pháp, Nhật, Trung Hoa.

Để có kinh phí, triều đình đã gia tăng thuế khóa toàn quốc lên thêm lên đến 30%. Lăng được xây bằng xi măng cốt sắt, cho nên đã bảo tồn phần lớn cho đến ngày nay.

Những thành phần chính của Ứng Lăng gồm có: Phần trong cùng là Tẩm điện, gồm nơi đặt thi hài nhà vua, phía trước là Điện Khải Thành, phía sau là Phòng thờ vua. hai bên có Tả, Hữu Trực phòng. Ra phía ngoài có đến ba lớp sân rộng, với tất cả 127 bậc thềm. Ở sân thứ tư có Bi đình, hai bên có hai biểu trụ khá lớn. Tiếp theo đó là Bái đình, hai bên dựng hai hàng tượng voi, ngựa, quân hầu, thị vệ.

Chung quanh lăng Khải Định là khu vực của núi Châu Chữ; phía trước lăng là khe Châu Ê chảy quanh năm. So với những lăng khác, địa diện Ứng Lăng nhỏ hơn; tuy nhiên phần quan trọng nhất là nội điện. Những đường nét điêu khắc, kiến trúc, hội họa và trang trí nội thất bao gồm các điểm then chót như sau:

1- Tại những Trực Phòng nền xi măng được tô bằng màu xanh sẩm, giả làm đá cẩm thạch. Trên trần Điện Khải Thành, rộng đến hàng chục mét vuông, có những bức họa hình rồng phượng đang tung bay. Màu sắc hài hoà, nét vẽ sinh động.

2- Đặc biệt hơn hết là nghệ thuật gắn ghép những mẫu sành sứ lên tường. Toàn thể đều được đắp nổi lên, tạo thành hàng trăm hàng nghìn cảnh vật khác nhau, lôi cuốn du khách mãnh liệt. Những hình của những bộ tranh diễn đạt về tứ thời, bát bửu, thất loại, tứ quý, ngũ quả, ngũ phúc, thập loại.

Nghệ thuật tạo hình của những thể loại nầy rất tinh vi, trang trí mỹ thuật điêu luyện. Đường nét phóng lên rất thanh nhã, hồn nhiên, thoát sáo lạ thường.

3- Ngay nơi điện thờ nhà vua, nơi ngự toạ, chiếc bửu tán rộng lớn, với những đường nét uốn cong uyển chuyển, mềm mại. Sự kết hợp linh động khiến người thưởng ngoạn có cảm tưởng là mọi vật đang di chuyển theo chiều vòng quanh. Hoa lá như lay động, chim chóc như chuyền nhau từ cành nọ sang cành kia...

Nhìn chung, Ứng Lăng với những kỹ xảo về nghệ thuật trang trí của những tay nghề thượng thặng, đã thay đổi hẳn kiểu kiến trúc lăng tẩm Việt Nam.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 01.10.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004