Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (24)

Bắc Thuộc lần III


Người Việt Ngàn Năm Chống Đồng Hóa





S ử gia Tư Mã Thiên nói, người Việt bị chia rẽ do nhiều thủ lĩnh người Việt bị mua chuộc và cộng tác với triều đình Tàu.

Một số người Hoa sống ở nước Việt, làm việc cho chính quyền đô hộ Tàu tại Giao Châu, đẩy mạnh Hán hóa người Việt.

Ngược lại, một số người Hoa khác, do sống lâu giữa cộng đồng Việt có sức sống mạnh mẽ, đã dần dần Việt hóa. Họ trở thành các hào trưởng, góp phần phát triển xã hội người Việt cổ. Có người là thủ lĩnh các phong trào chống triều đình Tàu: Lương Thạc, Lý Trường Nhân, Lý Bí.

Người Việt ngàn năm chống đồng hóa

Trong 1000 năm Bắc thuộc, người Việt luôn đấu tranh. Giành lại đất nước. Thế kỷ X. Từng bước thoát sự ràng buộc của Tàu. Để bảo tồn nòi giống, người Việt luôn chống lại sự đồng hóa của người Tàu.

Nhận định về Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc, sử gia Trần Trọng Kim khẳng định: "Người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với nước Tàu".

Song những cuộc di dân và đồng hóa có những tác động lớn đối với đời sống xã hội nước Việt dài lâu. Khó chữa.

Những người dân Bách Việt bản địa ở đồng bằng Giang Châu sau nhiều thế kỷ bị Hán hóa đã thành người Hoa Quảng Châu. Người Lạc Việt ở vùng Châu thổ sông Hồng tuy bị Bắc thuộc nhưng không bị Hán hóa. Các sử gia xem việc thành lập Quảng Châu với ba quận tách khỏi Giao Châu của Ngô Cảnh Đế Tôn Hưu năm 264 là do sự chia rẽ văn hóa giữa nhóm người Việt bị Hán hóa và nhóm người Việt chống đồng hóa.

Dù trong ngàn năm Bắc thuộc đã xảy ra quá trình hòa trộn, dung hợp giữa người Việt cổ và người Hán về phương diện nhân chủng, văn hóa, xã hội, nhưng phương hướng chủ yếu là Việt hóa. Người Việt kiên trì bám đất bám làng, bám chắc địa bàn sinh tụ, không bỏ nơi chôn nhau cắt rốn và tiếng nói, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt. Đấu tranh bất khuất để sinh tồn và phát triển nòi giống Việt.

Phía nam Ngũ Lĩnh, vùng châu thổ sông Hồng của Việt Nam hiện nay, là vùng đất nhỏ cuối cùng, duy trì sự tồn tại của nền văn minh lúa nước trong thế giới cổ đại, giữ được lối sống truyền thống của người Việt trước sự đồng hóa của người Tàu.

Giữ tiếng nói & Thuần phong mỹ tục Việt trường tồn

Hơn nghin năm Bắc thuộc. Người Tàu đã đưa vào nhiều thứ lễ giáo của Tàu. Nhưng những nếp ăn, ở, lối sống, ứng xử truyền thống (gọi chung là thuần phong mỹ tục) trong đời sống người Việt vẫn trường tồn.

Sống trong ngàn năm Bắc thuộc, người Việt thời đó vẫn không bỏ những phong tục như búi tóc, xăm mình, ăn trầu, chôn người chết trong quan tài hình thuyền hay thân cây khoét rỗng, nhuộm răng, các nghi lễ Tâm linh, lễ hội cổ truyền như Tết Nguyên Đán với bánh chưng, bánh dày của các vua Hùng…

Cố Giáo sư sử học Trần Văn Giàu nói: “Bị đô hộ hàng mười thế kỷ… số dân đông hơn gấp bội mà sau mấy ngàn năm- Ta vẫn là ta- hẳn không phải vì mũi tên nhọn hơn, bắp thịt cứng hơn mà chủ yếu là nhờ văn hóa, nhờ đạo lý, nhờ hệ giá trị tinh thần của riêng mình”.

Nền văn hoá truyền thống Việt Nam, tức là Nhân cách người Việt Nam, được hình thành từ nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của mỗi người Việt Nam gắn bó mật thiết với xóm làng, quê hương.

Trong xã hội Việt Nam kim cổ, dân cư tụ hội thành làng xã nơi đồng ruộng và phường, hội ở thành thị. Làng và phường là cái bọc sinh tồn Việt tộc. Dân Việt chung sống cùng tồn tại bất diệt nhờ thuần phong, mỹ tục và Tiếng Việt.

Tiếng nói Việt- Trái tim trong bộ não người Việt

Cốt tủy của sự bảo tồn giống nòi và văn hóa Việt để chống đồng hóa là sự bảo tồn tiếng Việt. Tiếng nói Việt là hơi thở, dòng máu, bộ não, trái tim của người Việt sinh tồn trên trái đất. Tiếng Việt được các nhà khoa học xác định thuộc nhóm ngôn ngữ từ xưa ở Đông Nam Á. Điều đó cho thấy gốc tích lâu đời, bản địa của người Việt. Các triều đình Tàu chỉ tiêu diệt được chính quyền cai trị người Việt, nhưng không tiêu diệt được tiếng Việt.

Ngoại trừ một nhóm người Việt tham gia bộ máy cai trị Tàu tại Việt Nam học tiếng Hán, còn lại đa số người Việt vẫn sống theo cách sống riêng và duy trì tiếng nói của Tổ Tiên. Dù đã có sự hòa trộn những từ, ngữ Hán trong tiếng Việt. Nhưng người Việt đã hấp thu chữ Hán theo cách sáng tạo riêng, Việt hóa những từ ngữ đó theo cách dùng, cách đọc, tạo thành một lớp từ, được gọi là từ Hán Việt.

Do chữ Hán không có đủ phiên âm để phiên âm đúng nhiều từ ngữ trong tiếng Việt cổ, lại thêm hàng loạt từ ngữ nhập vào từ tôn giáo và văn hóa Ấn Độ, càng khiến chữ Hán không đủ để phiên âm dùng trong đời sống người Việt, nên cần phải chế biến ra chữ Nôm từ chữ Hán để phiên âm những từ tiếng Việt mà chữ Hán không có.

Tiếng Việt- Tiếng Mẹ Rồng Tiên

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Tiếng Việt, còn gọi tiếng Việt Nam hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Hán để viết, sau đó được cải biên thành chữ Nôm, tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Nam Á có số người nói nhiều nhất. Ngày nay tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, cùng các dấu thanh để viết.

Tiếng Việt- Âm thanh của Văn minh Nông nghiệp

Tiếng Việt là ngôn ngữ có nguồn gốc bản địa, xuất thân từ nền văn minh nông nghiệp, tại nơi mà ngày nay là khu vực phía bắc lưu vực sông Hồng và sông Mã của Việt Nam.

Hệ thống thanh điệu trong tiếng Việt xuất hiện theo quy luật hình thành thanh điệu trong con người Việt, sống giữa thiên nhiên đồng lúa nước sông Hồng, sông Mã. Sự xuất hiện các thanh điệu, bắt đầu khoảng thế kỷ VI (thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam) với ba thanh điệu và phát triển ổn định vào khoảng thế kỷ XII (nhà Lý) với sáu thanh điệu. Sau đó một số phụ âm đầu biến đổi cho tới ngày nay. Trong quá trình biến đổi, các phụ âm cuối rụng đi, làm thay đổi các kết thúc âm tiết và phụ âm đầu chuyển từ lẫn lộn vô thanh với hữu thanh sang tách biệt. Có sáu âm sắc chính: ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.

Kể từ đầu thế kỷ thứ XII. Nho học phát triển, việc học văn tự chữ Nho được đẩy mạnh. Tầng lớp trí thức được mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt bằng chữ Nho cực kỳ phát triển với áng văn nổi tiếng Nam Quốc Sơn Hà bên sông Như Nguyệt (sông Cầu).

Cùng thời gian này, một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt theo nguyên tắc ghi âm tiết được phát triển, là chữ Nôm. Để tiện cho việc học chữ Hán và chữ Nôm của người Việt, Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) đã biên soạn cuốn sách Tam thiên tự giải âm. Tam thiên tự giải âm chỉ lược dạy 3000 chữ Hán, Nôm thông thường, đáp ứng nhu cầu cần thiết, nhớ chữ, nhớ nghĩa từng chữ, mỗi câu bốn chữ.

Trần Văn Giáp đánh giá đây tuy chỉ là quyển sách dạy học vỡ lòng về chữ Hán, như lời tác giả đã nói, nhưng thực ra cũng có thể coi nó chính là sách tự điển Hán Việt thông thường và phổ biến ở cuối thế kỷ XVIII. Nhờ có chữ Nôm, văn học Việt Nam đã có những bước phát triển rực rỡ nhất, đạt đỉnh cao với Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820). Tiếng Việt, được thể hiện bằng chữ Nôm ở những thời kỳ sau này về cơ bản rất gần với tiếng Việt ngày nay. Tuy hầu hết mọi người Việt đều có thể nghe và hiểu văn bản bằng chữ Nôm, chỉ những người có học chữ Nôm mới có thể đọc và viết được chữ Nôm.

Chữ Nôm được chính thức dùng trong hành chính khi vua Quang Trung lên ngôi năm 1789.

Chữ Quốc ngữ & Ánh Sáng châu Âu

Nửa cuối thế kỷ thứ XIX. Pháp xâm lược Việt Nam. Tiếng Pháp dần dần thay chữ Nho như là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục, hành chính và ngoại giao. Chữ Quốc ngữ, được sáng tạo bởi một số nhà truyền giáo châu Âu, đặc biệt là hai tu sĩ người Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa, với mục đích dùng ký tự Latinh để biểu hiện tiếng Việt, ngày càng được phổ biến, đồng thời chịu ảnh hưởng bởi những thuật ngữ, từ ngữ mới của ngôn ngữ Tây phương (chủ yếu từ tiếng Pháp). Tờ Gia Định báo là tờ báo đầu tiên được phát hành bằng chữ Quốc Ngữ năm 1865, khẳng định sự phát triển và xu hướng của chữ Quốc Ngữ như là chữ viết chính thức của nước Việt Nam hiện nay.

Chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, chỉ sử dụng 27 ký tự Latin và 6 dấu thanh, đơn giản, tiện lợi và có tính khoa học cao, dễ học, dễ nhớ, thông dụng; thay thế hoàn toàn tiếng Pháp và tiếng Hán vốn khó đọc, khó nhớ, không thông dụng với người Việt.

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu

Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thức của Việt Nam, và cũng là ngôn ngữ phổ thông đối với các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Tiếng Việt được hơn 1 triệu người sử dụng tại Hoa Kỳ (đứng thứ 7 toàn quốc, thứ 3 tại Texas, thứ 4 tại Arkansas và Louisiana và thứ 5 tại California), cũng như trên 100.000 người tại Canada và Úc (đứng thứ 6 toàn quốc).

Theo Ethnologue tiếng Việt còn được nhiều người dùng tại Anh, Ba Lan, Campuchia, Côte d'Ivoire, Đức, Hà Lan, Lào, Na Uy, Nouvelle-Calédonie, Phần Lan, Pháp, Philippines, Cộng hòa Séc, Sénégal, Thái Lan, Trung Quốc và Vanuatu, Đài Loan, Nga...

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt luôn mang một thanh điệu nào đó. Do các thanh điệu của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ được biểu thị bằng các dấu thanh, còn gọi là dấu, nên một số người quen gọi các thanh điệu của tiếng Việt là các "dấu". Có sự khác biệt về số lượng thanh điệu và điệu trị của thanh điệu giữa các phương ngôn của tiếng Việt, thanh điệu có tên gọi giống nhau không đồng nghĩa với việc chúng sẽ được nói giống nhau trong mọi phương ngôn của tiếng Việt. Phương ngôn tiếng Việt Bắc Bộ có sáu thanh điệu. Phương ngôn tiếng Việt Trung Bộ và Nam Bộ có năm thanh điệu. Thanh điệu của tiếng Việt tiêu chuẩn được cho là gồm sáu thanh (thanh ngang còn gọi là thanh bằng vì không dấu) ngang, sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng.

Chính bởi tiếng Việt là một ngôn ngữ thanh điệu, nên khi nó được viết và nói thì những thanh điệu hòa âm, rung lên những cung bậc của trí tuệ và tâm hồn Việt. Người Việt nói như hát và xuất khẩu thành thơ. Người Việt chửi cũng thành Thơ Hồ Xuân Hương Bà Chúa Thơ Nôm.

Vậy nên chúng ta không ngạc nhiên khi người dân cả nước Việt làm thơ. Đó là tiếng Việt được rung lên nhiều cung bậc của trái tim trong bộ não người Việt. Với người Việt thơ không phải là đặc quyền, đặc lợi của bất kỳ một nhóm người nào.

Tiếng Việt được nói lên, hát lên, âm vang sông núi, địa cầu là quyền bất khả xâm phạm. Đó là Quyền Tự Do của Con người trong Trời Đất mà Thượng đế đã ban.

Phong trào Thơ Mới- Hồn Việt thoát Tàu

Sau Thế chiến thứ nhất, cùng với việc người Pháp đẩy mạnh phong trào khai phá thuộc địa đã vô tình đẩy nhanh làn gió văn hóa phương Tây vào Việt Nam.

Giới trí thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra vần luật, niêm luật của chữ Nho đã quá gò bó trong việc thể hiện tiếng nói, tiếng thơ của con người. Năm 1917 trên báo Nam Phong (số 5), Phạm Quỳnh, nổi tiếng là người bảo thủ, cũng phải thú nhận sự gò bó của các luật thơ cũ:

"Người ta nói tiếng thơ là tiếng kêu của con tim. Người Tàu định luật nghiêm cho người làm thơ thực là muốn chữa lại, sửa lại tiếng kêu ấy cho nó hay hơn nhưng cũng nhân đó mà làm mất đi cái giọng tự nhiên vậy."

Sau đó, Phan Khôi cũng viết nhiều bài báo chỉ trích những trói buộc của thơ văn cũ và đòi hỏi cởi trói cho sáng tác thơ ca.

Trong khoảng 1924-1925, cuốn tiều thuyết của Hoàng Ngọc Phách kể về mối tình Đạm Thủy- Tố Tâm đã gây sóng gió trong giới học sinh và thanh niên thành thị. Tiếp theo đó, năm 1928, Nguyễn Văn Vĩnh đã phá vỡ vần điệu niêm luật, số câu, số chữ của "thơ cũ" khi dịch bài La cigale et la fourmi (Con ve và con kiến) của La Fontaine sang tiếng Việt. Năm 1929, Trịnh Đình Rư tiếp tục viết trên báo Phụ nữ tân văn (số 26):

"Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn. Ta nếu còn ưa chuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát đạt được vậy."

Ngày 10 tháng 3 năm 1932, bài thơ Tình già của Phan Khôi ra mắt bạn đọc trên báo Phụ nữ tân văn số 122 cùng với bài giới thiệu mang tên Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ đã có tiếng vang mạnh mẽ, được xem là bài thơ mở đầu cho phong trào Thơ mới. Ngay sau đó, cuộc tranh luận giữa lối thơ mới và thơ cũ diễn ra vô cùng gay gắt. Mãi đến năm 1941, cuộc tranh chấp mới chấm dứt do sự thắng thế của lối thơ Mới, khép lại mấy trăm năm thống lĩnh của thơ Đường. Một thời kỳ vàng son mới của văn học Việt Nam đã bùng vỡ với tên gọi phong trào Thơ mới.

Khuynh hướng chung của thời kỳ Thơ mới những năm 1930-1945 là khuynh hướng lãng mạn, là lý tưởng thẩm mỹ cái "tôi" của tác giả, thẩm mỹ hóa cái cuộc sống rối ren, tơi bời của xã hội nửa thực dân, nửa phong kiến và là tâm trạng buồn sầu, ưu uất, lạc lõng giữa vòng đời.

Tính khuynh hướng của nghệ thuật lãng mạn rất đa dạng, có khi lãng mạn, mộng mơ, ai ca, thần bí, cô đơn, triết học, cũng có khi lãng mạn anh hùng, lãng mạn công dân hay lãng mạn xã hội,... Nhưng nét bao trùm chủ nghĩa lãng mạn là mộng mơ.

Các nhà thơ muốn thoát không khí ngột ngạt của xã hội thời Thơ Mới bằng cách tưởng tượng, trốn vào trong cái thế giới vô cùng lý tưởng ấy. Đối với chủ nghĩa lãng mạn, chỉ có cái gì khác thường, khác người, khác đời, và sự đối lập giữa mộng và thực là đáng kể. Trong cảnh mất nước, sống giữa cái xã hội hủ lậu, nô lệ, ngột ngạt ấy thì sự đối lập là dễ hiểu.

Trong văn học thời kỳ này, thơ cũng như văn xuôi, cá nhân tự khẳng định, tự biểu hiện ra niềm vui, mơ ước, khát vọng. Cảm hứng sáng tác gắn liền với ý thức cá nhân; Thơ Mới là thơ của cái "tôi", một cái "tôi" chưa bao giờ được biết đến trong thơ cổ điển.

Làng nói tiếng cổ hàng nghìn năm ở Thanh Hóa

Lang thang trên Google, tôi đi tìm Tiếng Việt, gặp bài phóng sự Làng nói tiếng cổ hàng nghìn năm ở Thanh Hóa của tác giả Duy Cảnh.

Làng Cổ Định thuộc xã Tân Ninh (huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa) nằm trên vùng đất tối cổ từ thời Hùng Vương. Năm 248, nơi đây là căn cứ kháng chiến giúp bà Triệu Thị Trinh chống giặc Ngô xâm lược.

Về làng Cổ Định, bên cạnh nét độc đáo của các di tích, người ta dễ bắt gặp cảnh dân chào nhau bằng thứ tiếng cổ khác lạ, tức là chỉ có người dân địa phương mới hiểu.

Xã Tân Ninh có 13 làng, tiếng cổ chỉ có ở làng Cổ Định. Từ già đến trẻ, ai cũng biết đến thứ tiếng đó. Nhưng số người nắm rõ nhất giờ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ông giáo Bá là người biết nhiều nhất. 

Cụ Lê Ngọc Bá (xóm 3, thôn Cổ Định), nguyên trưởng phòng giáo dục huyện Triệu Sơn, nghỉ hưu. Năm nay tròn 92 tuổi, cụ giáo Bá là một trong số ít người nắm giữ vốn tiếng cổ phong phú của làng Cổ Định.

Ngồi lật từng trang giấy cũ ghi chép, cụ Bá say sưa kể: “Tiếng nói của làng Cổ Định thuộc loại cổ xưa, hình thành cách đây hàng ngàn năm. Khi lớp người như chúng tôi sinh ra, ngôn ngữ này đã được sử dụng rộng rãi rồi”.

Trải qua năm tháng, tiếng cổ ở làng Cổ Định chưa bị mai một nhiều. Con cháu đỗ đạt, đi làm ăn xa hàng nhiều năm, mỗi lần về thăm quê, họ vẫn luôn nhớ tiếng cổ của làng. Những ngày lễ tết, hội làng, loại phương ngữ này càng được sử dụng nhiều hơn”.

Thời đại Internet- Tiếng Việt Vang Sông Núi

(Theo Google) Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (giao thức IP). Hệ thống này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện nghiên cứu và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu.

Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực tuyến (chat), công cụ tìm kiếm (search engine), các dịch vụ thương mại và chuyển ngân và các dịch vụ về y tế, giáo dục như là chữa bệnh từ xa hoặc tổ chức các lớp học ảo. Chúng cung cấp một khối lượng thông tin và dịch vụ khổng lồ trên Internet.

Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET. Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết bốn địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network – WAN) đầu tiên được xây dựng.

Thuật ngữ “Internet” xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974. Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET.

Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội... Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet.

Nhờ internet người Việt nam trên khắp năm châu đã đến được với nhau, thân thương nguồn cội Tiên Rồng qua Tiếng Việt. Sự kết nối này đã giúp chúng ta tìm được Tổ Tiên Việt của mình. Giờ đây, từng thời khắc kết nối internet con cháu Rồng Tiên nắm tay nhau, hòa hơi thở, giao thoa nhịp trái tim Đi Tìm Tổ Tiên Việt. Và Hào quang Tiên Tổ Tình Bay Tinh Cầu.

Giờ đây từng thời khắc vũ trụ chuyển động, bên Hồ Gươm, người Nấu Sử Sôi Kinh nghe vang vọng Tiếng Việt Âm Vang Sông Núi.

Tiếng Việt Âm Vang Sông Núi

“Nước Việt mấy ngàn năm Bắc thuộc/ Sinh tồn bất diệt Tinh hoa Tiên Rồng/ Không dính mùi trá gian Tào Tháo/ Nảy chồi từ huyết mẹ, tình cha/ Bú mớm thơm nguồn cội ông bà/ Hồn Việt muôn đời ru ca dao/ Sắn, ngô, khoai, rau, cháo, tương cà/ Chân bật máu đồng khô, đồi cháy/ Lớp này ngã, lớp kia bùng dậy/ Lớn khôn nhờ Tục ngữ, Lịch sử, truyện Kiều…/ Đền nợ nước bằng Tình yêu Tiếng Việt/ Bàn tay cha uốn từng nét chữ/ Ấm huyết hồng, tim óc Tổ tông/ Tiếng nói Việt ầu ơ, mẹ hát/ Tiên Rồng quằn quại thoát lệ nô/ Học nhân loại, xây thể chế Dân chủ/ Tiếng Việt khai sáng Quyền làm Người/ Tiếng Việt Tâm Trí Đức mở lối đi/ Cỏ cây hoa hướng lên Mặt Trời/ Tiếng Việt tiếp Tinh hoa thế giới/ Internet mênh mông đổi thay đời/ Tâm linh Tổ Tiên Việt khơi nguồn/ Luyện văn, võ, Thiền Thần thông/ Tiếng Việt Vang Sông Núi, Biển Rồng Tiên.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 07.9.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004