TÁC PHẨM
TÁC GIẢ





Huyền Viêm sinh năm 1930 tại Quảng Nam .

Hiện sống tại Sài Gòn - Nam Việt Nam.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

.Thơ Mùa Chinh Chiến.
. Hạnh Ngộ.








THƠ


PHỐ HỘI TÌNH XA

THU XƯA HÀ NỘI

HAI MÙA PHƯỢNG

DƯ ÂM HUẾ

HUYỄN MỘNG

ĐÂU NHỮNG MÙA XUÂN ?

CHÙM THƠ XUÂN

CHÙM THƠ ĐẦU MÙA HẠ




BIÊN KHẢO


THÂM TÂM VỚI DANH TÁC “TỐNG BIỆT HÀNH”

CHUYỆN TÌNH CỦA TÔ ĐÔNG PHA

HAI CÁI CHUNG TÌNH
MỐI TÌNH THƠ NGUYỄN BÍNH – ANH ĐÀO


SAINT EXUPÉRY

PHI CÔNG HUYỀN THOẠI


DƯƠNG QUÍ PHI
Người Đẹp Làm Nghiêng Ngửa Nhà Đường


TỪ HY THÁI HẬU
NGƯỜI PHỤ NỮ LÀM SỤP ĐỔ CƠ NGHIỆP NHÀ THANH


VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

VÕ TẮC THIÊN, NỮ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA TÀN ÁC VÀ DÂM ĐÃNG

VỀ HUẾ THĂM LĂNG

YẾN LAN VỚI BẾN MY LĂNG HUYỀN THOẠI

TÂY CŨNG HỌA THƠ

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ XUÂN ĐƯỜNG TỐNG

THƠ XUÂN CỦA ĐÔNG HỒ VÀ MỘNG TUYẾT

THIÊN TÌNH SỬ CỦA LỤC DU

TRẦN HUYỀN TRÂN , ĐÂY MỘT LOÀI HOA KHÁC HẢI ĐƯỜNG

CHUYỆN TÌNH CỦA LƯƠNG KHẢI SIÊU

QUANG DŨNG, THI SĨ TÀI HOA, LÃNG MẠN

TÌM XUÂN QUÁ MUỘN

QUANG DŨNG VÀ NHỮNG MỐI TÌNH







































QUANG DŨNG
VÀ NHỮNG MỐI TÌNH



Quang Dũng, nhà thơ của xứ Đoài mây trắng, là một chàng trai lãng tử, đa tình. Thuở còn ở Hà Nội, Quang Dũng có hai người bạn là Chương và Kính, mỗi người sống một nơi nhưng rất thân nhau nên khi đi kháng chiến ông không thể nào quên được :

Ngày xưa ở Hà Nội

Có ba chàng phất phơ.

Mỗi chàng một xe đạp,

Mỗi chàng một “dinh cơ”.

Chàng Kính lầu Hàng Cót,

Chàng Chương trại Ngọc Hà.

Chàng Dũng ở “biệt thự”

Ấp Trường Sơn, Thái Hà.

Thỉnh thoảng về thăm vợ,

Tàu hỏa ngược Bắc Ninh.

Ô tô đi Đan Phượng,

Ca nô xuôi Thái Bình.

Thân nhau là vậy mà đến khi kháng chiến đành phải xa nhau :

Người ở miền duyên hải,

Kẻ Việt Bắc xa xôi.

Người viễn chinh Tây tiến,

Nhớ nhau đành ngậm ngùi (1).

Đó là tình bạn, còn tình yêu cũng thiết tha không kém. Trong cuộc trường chinh, trải qua các miền đất khác nhau của tổ quốc, nhiều cuộc tình duyên đã đến với quãng đời phiêu bạt của chàng trai lãng tử, đa tình :

Cứ thế, tháng ngày trong xứ lạ,

Rất nhiều tình mới, rất nhiều duyên.

Bên đường hoa lá buồn nhan sắc,

Im lặng buồn qua tuổi dại điên.

* CÔ GÁI VƯỜN ỔI

Quang Dũng có một người tình là cô gái vườn ổi. Nói như thế vì nhà cô có một vườn ỗi thơm nức khi đến mùa ổi chín. Cô gái rất xinh đẹp mà lại có óc tân tiến và quan niệm rất phóng khoáng về tình yêu.

Thời ấy Quang Dũng mới ngoài hai mươi, đẹp trai, khỏe mạnh, vóc dáng cao lớn lại tài hoa rất mực : làm thơ hay, vẽ đẹp, đánh đàn giỏi ; ông đã kéo nhị cho một gánh hát khi vừa mới rời khỏi ghế trường trung học.

Quang Dũng xuất hiện ở vườn ổi làm chấn động tâm hồn cô gái. Thế rồi sau vài lần gặp gỡ, họ bắt đầu yêu nhau :

Em tuổi hai mươi

Yêu anh hào hiệp

Mối tình ấy thanh cao, trong trắng khiến cho hai người về sau dù xa cách vẫn luôn luôn nhớ đến nhau và quí trọng nhau :

Em ơi ! Vườn ổi thơm ao,

Nước xanh còn động hôm nào tiếng em.

Hai mươi tuổi mộng êm đềm,

Ta mang trong trắng đi tìm thanh cao.

Cảnh và tình đẹp biết bao ! Ao thơm hương vườn ổi, làn nước trong xanh phẳng lặng ba động tiếng người yêu, cảnh tình ấy suốt đời không quên được.

Để tìm hiểu gia cảnh của người yêu, có lần cô gái vườn ổi đã về quê Dũng ở làng Phượng Trì (Đan Phượng, Sơn Tây), được mẹ và các em gái của Quang Dũng tiếp đón thân mật như người nhà, hai mươi năm sau Quang Dũng vẫn không quên :

Đường về quê hương mùa lúa chin,

Chim ngói bay vào thửa tám thơm.

Em đã đi về xem gặt lúa,

Lòng anh bừng sáng cả đường rơm.

Mẹ đã chiều em như gái nhỏ,

Thềm cao em bước, mắt tươi cười

Đã tưởng đấy là quê vĩnh viễn,

Đời em chỉ có một quê thôi.

Tình đẹp là thế mà kết cuộc rất buồn. Quang Dũng vốn có máu phiêu bạt giang hồ nên dấn mình vào một chuyến viễn du để rộng tầm con mắt. Thế là đôi lứa xa nhau :

Bỏ em, anh đi,

Đường hai mươi năm

Dài bao chia ly.

Sau này, Quang Dũng không khỏi se lòng khi nhớ lại :

Ơi con đường xưa !

Những mùa trút lá.

Cành bàng mồ côi,

Cổng cũ rêu phong

Ý đợi người.

Thế rồi cô gái đành phải lấy chồng để trở thành vợ đảm, mẹ hiền. Nhưng vài năm một lần, nàng về thăm người cũ và tặng những món quà nhỏ rất cần cho cuộc sống thiếu thốn lúc bấy giờ (2).

* CÔ GÁI VƯỜN CHANH

Đây chỉ là mối tình thoáng qua, tình đơn phương, nhưng với sự đa tình của Quang Dũng, nó đã trở thành thơ mộng.

Nguyên là vào khoảng năm 1947-1948, những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, đơn vị của Quang Dũng đóng quân tại ngôi nhà cạnh một vườn chanh rộng. Khi đêm về, mùi hương hoa chanh thơm ngát phảng phất trong không khí gợi lên niềm xúc động rạt rào. Trong khung cảnh ấy lại có một mỹ nhân, một cô gái mà chồng đã xa vắng tự bao giờ, lơ đãng ngồi quay tơ dệt lụa thì đẹp biết dường nào. Thế là cảm xúc thành thơ :

Ngàn năm bèo đọng ở trên ao,

Cô gái vườn chanh thắm má đào.

Quê Việt Nam nằm trong bóng trúc,

Dòng đời thoang thoảng suối hương cau.

Sao buồn tiếng nhạc trong khung cửi,

Dệt lụa quay tơ đã mấy chiều.

Mười tám, đôi mươi sầu dạ khách,

Ngẩn ngơ tình lạc biết bao nhiêu.

Người thiếu phụ ấy có vẻ mặt buồn, rất buồn vì chồng đi xa đã lâu, không biết bao giờ mới quay về. Những buổi hoàng hôn, tiếng lay động của chùm tre khóm trúc đối với cô là những khúc nhạc sầu :

Cô gái vườn chanh thắm má đào,

Chồng cô xa vắng đã từ bao?

Sớm chiều ao ước ru bèo ngủ,

Tre trúc hoàng hôn nhả nhạc sầu.

Nỗi buồn của người thiếu phụ lan sang nhà thơ đa cảm, bỗng dưng chàng thấy lòng buồn vô hạn như nhớ kẻ tri âm :

Mà đêm nay khuya hoa chanh thơm,

Ta bên vườn vắng cũng âm thầm.

Lắng hồn nghe nhạc từng hoa cỏ,

Dạ buồn như nhớ kẻ tri âm.

Bên kia nhà cô, đây vườn chanh,

Sớm chiều bóng dáng ngất ngây tình.

Than ôi ! Cách biệt vườn thơm ngát

Đời thấy u sầu trong đêm xanh…

Thế rồi đoàn quân lên đường, để lại vườn chanh người thiếu phụ mong chồng với những đêm dài phảng phất hương hoa và những buổi hoàng hôn với nhạc sầu tre trúc…

* CÔ GÁI HÀ NỘI TẢN CƯ

Một buổi trưa hè nắng gắt, trên đường hành quân, Quang Dũng ghé nghỉ nhờ một cái quán nghèo ven đường mà chủ nhân là một cô gái Hà Nội tản cư lên đây bán quán :

Tôi, lính qua đường, trưa nắng gắt,

Nghỉ nhờ đây, quán lệch tường xiêu.

Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu,

Mùa gạo đắt, đường xa, thưa khách vắng.

Lúc ấy cô gái chủ quán đang lên cơn sốt nặng, mê sảng, đỏ hồng cả đôi má và run rẩy dưới tấm chăn dày khiến nhà thơ vô cùng xúc động :

Em đắp chăn dày, tóc em trĩu nặng,

Tôi, mồ hôi ra ngực áo chan chan.

Đường tản cư bao suối lạ sương ngàn,

Em mê sảng, sốt hồng lên má đỏ.

Quang Dũng nhìn quanh, thấy nhà hoang vắng xác xơ và hàng của cô chủ quán chả có gì đáng giá, chỉ có những chai lọ tầm thường :

Em có một mình, nhà hoang vắng quá,

Mảnh chăn đào em đắp có hoa thêu.

Hàng của em chai lọ xác xơ nghèo,

Tôi nhìn lại mảnh quần xưa đã vá.

Tác giả thương cho cô gái cô đơn, cũng như mình, xa Hà Nội từ những ngày đầu khói lửa, chịu bao vất vả gian truân trên bước đường phiêu bạt nên lòng rưng rưng “thương nhau qua dọc đường”. Rồi tác giả ra đi mà lòng còn vấn vương hình ảnh của ai kia thui thủi một mình trong quán vắng bên đường :

Tiền nước trả em rồi. Trưa nắng gắt,

Đường xa xa mờ mờ núi và mây.

Hồn lính vương qua vài sợi tóc,

Tôi thương mà em đâu có hay !

* CÔ GIÁO A. TR.

Thời kháng chiến chống Pháp, Quang Dũng thường hay qua lại Thanh Hóa, lúc đó là vùng tự do rất đông người tản cư từ Hà Nội và từ khu III đến. Có lần Quang Dũng ghé thăm một người bạn thân, anh ta kể cho nghe về một cô giáo dạy trường Phổ thông trung học thị xã, đó là cô A. Tr., một cô gái đẹp người đẹp nết khiến cho biết bao chàng trai trong vùng chết mê chết mệt. Nhà thơ si tình tuy chưa gặp mặt nàng nhưng đã thấy lòng rung động. Thế là lặng lẽ xuống bến sông, kê cuốn sổ nhỏ lên đùi viết bài thơ Trắc ẩn :

Chưa gặp sao đành thương nhớ nhau?

Đòi phen số mệnh cũng cơ cầu.

Người đi mang nửa hồn đơn lẻ,

Tôi về hoài vọng một đôi câu.

Khói thuốc chiều sông hỡi dáng người,

Phương nào đôi mắt ngó xa xôi?

Có ai thấu được niềm u ẩn

Từng lắng nhiều trong những mảnh đời…

Dù biết thơ không bao giờ gửi nhưng vẫn viết, viết để bày giãi nỗi lòng :

Tôi viết chiều nay, chiều tưởng vọng,

Làm thơ mình lại tặng riêng mình.

Sông trôi luống gợi dòng vô hạn,

Biền biệt ngày xanh xa ngày xanh…

Rồi tác giả nghĩ đến người con gái đơn độc trên đường về với cõi lòng trống lạnh :

Chiều ấy em về thương nhớ ai?

Tôi chắc đường đi đã rất dài.

Tim tím chiều hôn lên bóng núi,

Dọc đường mờ những cánh hoa phai.

Sau đó có lần Quang Dũng gặp được cô giáo, ông thấy lòng mình càng đắm say hơn và một bài thơ văn xuôi đã ra đời :

“Tôi gặp em chiều ấy nhiều mây nặng. Sao rất ít. Lưa thưa Bắc đẩu xa mờ. Tôi, áo quần vừa độ bạc màu năm tháng. Đời nghèo với ý thơ.

Vầng trán em cao, sáng ngời linh hồn. Ôi đẹp và say đôi mắt ! Mái tóc lung linh, áo trắng hiện về hư ảo. Người ơi ! Vườn xưa nhớ chuyện Liêu Trai. Đêm vắng qua phố hoang tàn. Gió chạy dài heo hút.

Tôi nhớ chuyện đời em. Đời em bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu dòng lệ. Em cười vui thật không? Rượu say đôi má đỏ hồng… đau đớn. Ta thương Người một sáng hôm nào, giường trắng tinh, gió mát thổi hương cau. Gió mát từ ao qua khung cửa sắt.

Giường trắng êm êm, dáng nằm ngoa ngoắt. Ôi không phải của mình. Chiếc rèm buông màu tím. Tường mát dịu màu xanh…

Chiều về đường quạnh vắng

Em đi.

Tôi bâng khuâng thất vọng

Vẽ em trên dọc đường về…”


* THUYỀN TÌNH GHÉ BẾN

Đi lang thang khắp bốn phương trời với những mối tình bất chợt trên đường “rất nhiều tình mới, rất nhiều duyên” mà tình nào cũng không có đoạn kết, cuối cùng thuyền tình cũng đành ghé bến. Cái bến đỗ ấy là bà Bùi Thị Thạch, người bạn đời chung thủy đã tặng cho nhà thơ năm người con : ba trai, hai gái.

Từ năm 1983, Quang Dũng bị bệnh tim mạch, đi không vững, nói không rõ, dần dần chuyển thành tai biến mạch máu não, liệt nửa người. Trần Lê Văn, bạn thân của Quang Dũng, đã tả ông bên cửa sổ bệnh viện :

Anh bình lặng trắng phau ngồi đó

Hay đám mây mùa thu mới lạc vào phòng?

Rời bệnh viện, ông trở về nhà, một căn nhà nhỏ khu Nguyễn Công Trứ, Hà Nội, sống nhờ vào sự chăm sóc tận tụy của vợ và hai con gái Phương Hạ, Phương Thảo. Bạn bè nhiều người yêu quí ông vẫn thường hay lui tới viếng thăm, nhưng ông không nói được lời nào.

Một lần, khi các bạn đến thăm, gặp lúc bà Bùi Thị Thạch đang đút cháo cho chồng, bà nói, nửa như thở than, nửa như trách móc :

- Thời thanh xuân, anh ấy (Q.D.) có nhiều em lắm, nay tuổi già và bệnh tật, chẳng thấy em nào cả, chỉ có em này ngồi đút cháo mà thôi.

Năm năm trời như thế, đến ngày 13-10-1988 thì ông vĩnh viễn ra đi, để bao tiếc thương cho người ở lại (3).

Trong bài thơ khóc chồng nhan đề “Trách ai”, bà Bùi Thị Thạch viết :

Rau cháo thăm nom khi sớm tối,

Lứa đôi tình trọn lòng ước mong.

Trách ai san sẻ nhiều vương vấn,

Ngậm tủi hờn cho kiếp má hồng.

….. Đôi mắt trừng trừng lúc nửa đêm

Nhìn tôi đau đớn ngủ không yên.

Thôi niềm tâm sự, lời trăng trối,

Tiếng nói còn đâu, chỉ tiếng rên !

Mở nắp quan tài lần cuối cùng,

Hôn lên vầng trán lạnh như băng.

Bến nào, cát bụi, ai thương nhớ?

Mỉm cười, thầm hẹn :“Cõi hư không”.

_______________________________________________

(1) Theo Hoàng Thu Đông (tức Hoàng Trọng Miên) trong cuốn “Quang Dũng, thi sĩ lãng mạn và cách mạng” (NXB Nhân Văn Sài Gòn 1972).

(2) Tư liệu của Trần Lê Văn.

(3) Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921, mất năm 1988, thọ 67 tuổi.




Email: huyenviem@hcm.vnn.vn



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC