Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NHÂN MÙA VU LAN NÓI VỀ CHỮ HIẾU





K hông biết những tôn giáo khác nói gì về việc báo ân cha mẹ. Riêng Đạo Phật, HIẾU với cha mẹ là 1 trong Tứ Trọng Ân mà người Phật Tử cần phải báo đền. Tứ trọng ân gồm: Ân phụ mẫu, Ân Tam Bảo (có nơi ghi là ân Thầy, bạn), Ân Đất nước, Ân chúng sinh. Nhưng dù các vị trí khác có thể thay đổi, riêng Ân phụ mẫu lúc nào cũng được đặt lên hàng đầu. Vài thập niên gần đây, Chùa nào cũng tổ chức Đại lễ Vu Lan hết sức long trọng vào ngày rằm tháng Bảy, gọi là Mùa Báo Hiếu, để các Phật Tử theo hạnh của Đại Hiếu Mục Kiền Liên cúng dường Trai Tăng, báo hiếu cho phụ mẫu còn sống cũng như đã qua đời. Các Phật Tử còn được nghe thuyết pháp về công ơn cha mẹ, nhiều em đã xúc động rơi nước mắt. Qua bài giảng, các em thấy mình sống chưa xứng đáng. Chắc chắn sau đó các em sẽ bị ảnh hưởng để thay đổi. Trong khi xã hội quá nhiễu nhương, gia đình, nhà trường không lo xuể, thì ít ra Chùa cũng góp một phần trong việc giáo dục về chữ Hiếu cho những thiếu niên còn hướng thiện để làm nền tảng cho các em khi trưởng thành.

Cũng không phải vô lý khi Ân phụ mẫu được đặt lên hàng đầu, bởi con người không thể có mặt ở cuộc đời và lớn lên, nếu không có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc, đùm bọc của cha mẹ. Thật vậy, theo dõi sự hình thành của một con người bắt đầu từ con tinh trùng gặp được cái trứng thì cũng đã là một sự may mắn hãn hữu vì đã phải vượt qua hàng triệu ứng viên khác. Trong quá trình nằm trong bụng mẹ, có biết bao nguy hiểm rình rập, chỉ cần chút sơ sẩy thí dụ thai phụ bị trợt ngã là mất mạng như chơi. Phút cuối, để chui ra khỏi bào thai cũng không dễ dàng, chỉ cần có nhau choàng hay bác sĩ, cô đỡ non tay nghề, chậm vài phút là thai nhi bị ngộp, là công lao người mẹ nâng niu cái trứng, vất vả mang nặng 9 tháng 10 ngày kể như vất đi. Thế rồi rời bụng mẹ với cái thân trần trụi, đứa bé sơ sinh phải được bảo vệ một cách cẩn thận. Người mẹ phải quạt nồng, ủ ấm, tập cho con bú, bón từng muỗng sữa, muỗng cháo cho con dần biết ăn, rồi mới tới cơm. Phải nói nuôi được một đứa con lớn lên không bị tổn hại là cha mẹ đã đổ vào đó không biết bao nhiêu nhọc nhằn. Không chỉ là tiền bạc, mà còn công sức, đến nỗi người đời hay ví một người nào quan tâm, bận rộn đến việc gì đó một cách quá chu đáo bằng cụm từ “như chăm con mọn” thì đủ biết.

Với cha mẹ, con cái là “báu vật trời cho”. Khi người chồng hay gia đình được báo tin vợ, con, dâu đã mang thai là hết sức vui mừng. Nghèo gì cũng cố gắng tẩm bổ cho người mẹ tối đa, không cho làm nặng, bắt đi đứng cẩn trọng, kiêng khem đủ thứ. Phần người mẹ, từ lúc biết mình mang thai thì rất hồi hộp, chờ từng tín hiệu của con. Nó biết quẫy, biết đạp là người mẹ vui mừng tột độ, đếm từng ngày, chọn lựa từng món áo, quần, tã, nón, vớ, loại tốt nhất theo khả năng để chờ con chào đời. Đứa con đôi khi là sự mong đợi của gia đình hiếm hoi, đến nỗi có gia đình cổ hủ sẵn sàng ép con trai bỏ vợ nếu không sinh được con trai để nối dõi.

Không phải thai phụ nào cũng xuôi thuận, chỉ thèm chua hoặc thèm ngọt như nhiều người. Có cái thai nhiều khi hành người mẹ điêu đứng. Ăn không được món nọ, món kia. Ăn vô là ói. Đôi khi chỉ cần nghe mùi là đủ ói. Có người sợ mùi xăng, người thì sợ mùi cá, có người sợ cả mùi cơm. Có khi thai hành bắt ăn những thứ kỳ cục. Có người ăn gạo sống, có người ăn than. Hễ thèm gì là phải ăn cho bằng được. Đôi khi đang đêm mà thèm trái ổi hay trái cóc ngoài vườn tối om cũng phải đốt đuốc tìm cho ra. Ở nhà quê tôi từng nghe có bà kể không biết tại sao bà lại thèm ăn cái cứt trâu khô trộn với bùn người nhà quê dùng để trét những kẽ hở của những tấm cằng tăng (tức là những sợi tre chẻ mỏng, đan theo chiều ngang, nhiều tấm kết lại với nhau, làm thành một vòng tròn, cao chừng vài mét gọi là cái bồ để chứa lúa). Người ở quê tôi trét hỗn hợp đất sét và phân trâu cho kín những khe hở, không cho lúa lọt ra. Vậy mà bà ăn một cách ngon lành trong khi người khác nghe nói đã muốn ói!

Từ thân hình mảnh dẻ của một cô gái, cái tử cung nhỏ bé từ lúc chứa đựng cái trứng đã phải giãn nở hết cỡ để chứa một bọc bào thai và cả nước ối nặng đến chục ký lô. Bào thai càng lớn thì đứng, nằm, ngồi đều khó khăn. Giờ phút sinh con cũng là cả một hành trình đau đớn, sinh tử, không ai chia xẻ được gọi là “vượt cạn”. Người mẹ lúc sinh nở phải “banh da, xẻ thịt” đổ máu, để cho sinh linh cả mấy kí lô chui ra, đau đớn biết mấy. Vậy mà bà mẹ nào cũng quên hết đau đớn, nhọc mệt, lại vô cùng vui sướng khi ngắm nhìn tấm hình hài bé nhỏ, đỏ hỏn đang oe oe khóc khi hòa nhập vào cuộc đời. Lại thêm những ngày đau đớn hành hạ khi dạ con co thắt. Người sản phụ lúc đó yếu đuối, mong manh, phải kiêng khem nhiều thứ cho mình, cho con. Cả tháng sau mới dần bình phục, thân hình cũng sồ sề, không còn mảnh dẻ như xưa. Người khá giả còn được nghỉ một thời gian để phục hồi. Có những phụ nữ cuộc sống khó khăn, chỉ được nghỉ vài hôm là lại phải lao vào cuộc mưu sinh rất tội nghiệp.

Mang thai đã nhọc nhằn mà nuôi con cũng là cả một kỳ công! Nào thức đêm thức hôm để pha sữa, thay tã cho con khỏi bị ướt, bị lạnh. Mỗi khi con quẫy khóc lại phải xem coi có con gì đốt hay nó bị đau bụng rồi lại phải ru cho con ngủ yên mẹ mới được ngủ lại. Gặp đứa ít bệnh còn đỡ. Có nhiều đứa ốm đau, dặt dẹo thì cha mẹ chân không bén đất. Khuya khoắt cỡ nào, đường xa mấy, nghe đâu có thuốc hay, thầy giỏi cũng lặn lội tìm đến, hoặc khăn gói bồng bế con đến BV ngồi chầu chực để con được khám, được chữa! Tốn kém mấy, chạy nợ kiểu gì, thậm chí cầm cố nhà cửa cũng chấp nhận. Miễn sao con khỏe mạnh, hay ăn, chóng lớn.

Ngay khi con chào đời người mẹ phải quan sát coi chân nó có bị cong không để hơ lửa than nắn uốn cho nó. Vuốt ve từng ngón tay cho thon. Hơ mỏ ác để mai kia nó đừng bị sổ mũi, nhức đầu. Nâng niu con hơn vàng ngọc. Đi nhẹ, nói khẽ cho con đừng giật mình, được ngủ ngon giấc. Rồi vài tháng sau là con tập lẫy, tập trườn, bò, lẫm chẫm đi, mẹ phải túc trực, mắt không rời, sợ e con va phải vật nọ vật kia làm con đau! Khi con tự đi được cũng nào đã được yên. Phải canh chừng con đừng đến gần sông, suối, ao, hồ. Bảo vệ cho con đủ thứ, từ những con vật hung dữ cho đến những bạn xấu hiếp đáp. Tập cho con từ tiếng nói bập bẹ đầu đời. Bắt đầu là Ba, bà… từ những tiếng dễ phát âm, lần lượt đến câu chào, nói. Tập cho con biết thưa hỏi người lớn, biết cảm ơn khi được cho thứ gì. Tới tuổi con đi học lại chạy trường, chạy lớp, nộp đơn, kiếm trường tốt cho con. “Biết điều” với thầy, cô để con được chú ý. Con đã lên Đại Học mà cha mẹ cũng đâu có buông tay. Cảnh cha mẹ thuê xe cứu cấp đi nộp đơn cho con. Cảnh nhiều phụ huynh chen chúc và người mẹ bật khóc trong lúc chờ rút đơn cho con trong việc cải tổ giáo dục vừa qua được đưa lên mạng làm xúc động bao người! Thậm chí con cái đã có chồng, lúc sinh nở, dù ở xa, bận bịu tới đâu người mẹ cũng thu xếp để tới nhà con “nuôi đẻ”, hết đứa này tới đứa khác, cho tới lúc nó cứng cáp mới về! Rõ ràng là từ bước đi đến câu nói, đều có công sức của cha mẹ góp vào. Công ân đó biển trời nào sánh được?

Cuộc sống của bậc cha mẹ phải đâu lúc nào cũng trôi chảy, công việc thuận lợi, chỗ làm ổn định, có lương đều đặn hàng tháng? Người sinh ra trong cảnh no đủ thì không nói chi. Có người phải buôn ngược bán xuôi. Có người phải bán sức lao động, chạy chợ, ai thuê gì làm đó, tiền kiếm được tùy thời điểm. Họ sợ nhất là bệnh phải nghỉ ngơi, không đi làm kiếm tiền được. Tội nhất là những gia đình ở quê, ruộng đất không có, phải làm những công việc vừa nặng nhọc, vừa theo thời vụ, lúc có, lúc không, chạy tiền cho con đi học là cả một vấn đề đối với họ. Mỗi kỳ nhập học là tiền trường, tiền sách vở, tiền đồng phục… đè nặng trên đôi vai của người cha, người mẹ... Rồi khi con học hết cấp 3, phải lên Tỉnh, Thành Phố để học Đại Học thì gánh nặng còn dồn thêm. Nào tiền phòng trọ, tiền ăn, tiền học, tiền sách vở, cha mẹ ở quê càng phải xoay xở, kiếm thêm công việc, nuôi thêm con heo, con gà, vừa làm thuê, vừa chăn nuôi để có đủ mà lo cho con.

Vậy đó, mà khi trưởng thành con đối xử với cha mẹ ra sao? Đa phần là vô tâm, vì quả thật trẻ con làm gì biết được cha mẹ đã phải khổ cực như thế nào để nó có được tấm thân toàn vẹn như hiện tại? Cứ động chút là hờn dỗi, là bỏ cơm, đòi bỏ học. Cha mẹ mắng là bỏ nhà đi để cho họ lo lắng đứng ngồi không yên. Trách móc cha mẹ không cho mình thứ nọ thứ kia cho bằng bạn bè. Chơi với bạn xấu. Đòi tiền để thỏa mãn những thú vui, đòi sắm xe, đòi tiền chơi game! Có đứa nhẫn tâm lấy tiền cha mẹ cho để đóng tiền học để cờ bạc, cá độ! Có đứa còn đi cầm mạng để đánh bạc ở Campuchia rồi nhắn người về báo tin “nếu không mang tiền qua chuộc thì chủ nợ sẽ giết”. Quá thương con, nên dù túng thiếu cách nào cha mẹ cũng cố chạy sấp chạy ngửa để vay hỏi mang tiền qua đón về. Thời gian sau điệp khúc đó lại lập lại! Vậy mà chỉ cần không vừa ý là một số sẵn sàng ra tay đánh, giết cha mẹ.

Đọc trên báo, ta thấy từ Nam chí Bắc, từ trong nước ra đến nước ngoài đều có những nghịch tử. Trẻ cũng có mà trung niên có, vợ con rồi cũng có. Nhẹ thì mắng chửi, tắt điện không cho dùng, khóa cửa nhốt, đẩy ra đường. Nặng thì đánh, chửi, bắt cha mẹ phải quỳ lạy, phải mời cơm, phải kêu bằng ông, bằng bà. Có đứa còn nhẫn tâm chém giết cha mẹ rồi dấu xác, hoặc mang xác đi phi tang! Thậm chí mới đây, một phụ nữ ở Singapore đã bắt mẹ ruột ăn cứt làm hàng xóm phẫn nộ quay phim rồi báo với chính quyền! Đó là chưa kể những đứa tuy không trực tiếp hỗn láo với bậc cha mẹ, nhưng trộm cắp, lừa đảo, cướp của, giết người rồi vô tù làm cha mẹ không chỉ phải vất vả thăm nuôi mà còn phải nhục nhã với hàng xóm, láng giềng vì đã không nuôi dạy con nên người. Có đứa hận tình thì nhảy sông, thắt cổ, tự thiêu, quên rằng cái thân của nó không phải tự lớn lên, trong đó là biết bao nhiêu công sức, mồ hôi nước mắt của cha mẹ, nó không có quyền hủy đi vì những nông nỗi nhất thời. Những đứa làm thế, không những phụ công cha mẹ mà còn làm cho cha mẹ đau đớn khôn nguôi vì tiếc thương!

Lúc nào trong đám ma chúng ta cũng nghe dàn kèn thổi những bài “Lòng Mẹ”, “Công Đức sinh thành” nghe rất là ai oán! Sao lúc sinh thời chúng ta không xử tốt với cha mẹ mình, đợi lúc chết thì làm đám ma linh đình, rước thầy tụng, đưa linh, thuê dàn kèn thổi cho lối xóm nghe? Trong cuộc sống chúng ta thấy, dù nghèo đến thế nào, ít cha mẹ nào chịu xa rời con trừ trường hợp bất đắc dĩ phải đi làm ăn xa thì cũng thuê người chăm hay nhờ hai bên nội ngoại giữ. Thế mà vừa mới đây, trong ngày Vu Lan, tôi đã đọc được đôi giòng tâm sự cảm động của vài bậc cha mẹ, có lẽ là khá giả, và tự chọn vào ở trong Viện Dưỡng Lão đắt tiền, có người chăm, cho con cháu khỏi vướng bận để lo chuyện làm ăn! Họ để cha mẹ ở đó sống với những người già với nhau. Thỉnh thoảng ghé thăm, mua một ít quà, là ông, bà thấy vui rồi, vì biết con cái chưa quên mình! Lẽ nào chúng ta không biết, niềm vui của người già là được sống bên cạnh con cháu, nhìn con cháu trưởng thành, làm ăn phát đạt. Giàu thì nhà cửa nghinh ngang, lẽ nào không chừa được cho cha mẹ 1 phòng nhỏ, thuê 1 người hầu hạ ông bà để cho ông bà hưởng được hơi ấm gia đình, ngày ngày có thể thăm hỏi để ông bà có thể nhìn thấy con cháu kề bên? Có người có cả năm bảy con, lẽ nào cả đám không ai có thể lo hay hùn nhau để phụng dưỡng? Nghèo thì bát cơm, manh áo, dưa mắm gì cũng qua buổi. Họ nào đòi hỏi cơm gà cá gỏi gì đâu! Chỉ cần thấy con cái thành đạt, các cháu ngoan hiền, học hành giỏi giang để tuổi già thanh thản đôi năm chờ theo ông bà là đủ mãn nguyện rồi.

Đọc trên mạng, ta thấy đưa tin nhiều con “nghĩa khuyển” mà xúc động. Dù chỉ được chủ nhân nó nuôi dưỡng thôi, mà khi chủ mất, nhiều con suốt bao nhiêu năm dài, cứ đến giờ là ngồi chờ như ngày xưa vẫn đón chủ nó đi làm về. Có con vì bảo vệ cho chủ, sẵn sàng chiến đấu với rắn cực độc rồi hy sinh. Có con chó được chủ bị mù nuôi dưỡng. Lúc nào đi đâu cũng dắt theo. Khi tòa nhà cao 72 tầng bị hỏa hoạn, biết rằng khó thoát, người chủ tháo xích cho con chó chạy đi, nhưng nó không bỏ rơi chủ, mà quay lại để dắt chủ thoát chết. Có con ở cạnh mộ chủ suốt mười mấy năm cho tới lúc chết. Có con khi chủ chết thì chết theo… Con người thì được mẹ mang nặng suốt 9 tháng 10 ngày, rồi không những đẻ đau, mà còn phải bồng ẵm nuôi dưỡng bao nhiêu năm dài mới trưởng thành, lẽ nào đối xử với cha mẹ lại thua con vật với chủ nuôi?

Có người rất trọng Phật, kính Tăng. Có gì quý là mang đến chùa cúng Phật, cúng Sư, nhưng đối với cha mẹ thì lại tính toán, so đo từng chút, trong khi Phật không cần chúng ta tôn trọng, trái lại, Ngài dạy: “Cha mẹ già là Thích Ca, Di Lặc”, để con cháu yêu kính, phụng dưỡng các người. Bởi suy cho cùng, Phật chỉ là người bày cho ta biết cách sống. Còn cha mẹ là người mà thiếu họ ta còn không có cơ may được làm người. Nói chi là được trở thành ông nọ bà kia, giàu sang phú quý, có địa vị xã hội, được ăn trên, ngồi trước, ăn sung mặc sướng, nhà lầu, xe hơi, kẻ hầu người hạ như hiện nay! Điều quan trọng là “sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy”. Mai kia ta cũng sẽ trở thành người già, con cái ta đã học tấm gương của cha mẹ, liệu ta có muốn con cháu mình đối xử với mình như đang đối xử với cha mẹ?

Thời mà con người: “Mỗi năm mỗi thắp đèn trời. Cầu cho cha mẹ sống đời với con” có lẽ không còn nữa, vì con người thời này quá ích kỷ, chỉ biết bản thân, lo cho vợ con được ăn sang, mặc đẹp, còn bậc cha mẹ đã cực khổ nuôi dưỡng, giáo dục, dựng vợ, gả chồng, đào tạo cho mình thì chẳng cần nghĩ tới, thậm chí còn thấy đó là gánh nặng muốn trút cho người khác. Nhiều người chỉ nghĩ đến Phật, hy sinh cuộc đời để phụng sự Phật mà bỏ quên cha mẹ, để ông bà sống thui thủi trong tuổi xế chiều để lo cho bá tánh đâu đâu! Chính Ngài Qui Sơn cũng có nhắc nhở điều đó.

Có câu nói về đường tu hành rất đáng cho chúng ta suy ngẫm: “Dục tu Phật đạo, tiên tu Tiên đạo. Dục tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo”. Có nghĩa là trước khi muốn tu Đạo Phật thì nên tu theo Đạo Tiên. Trước khi tu Đạo Tiên thì nên tu Đạo làm người. Đạo làm người chưa có. Hiếu dưỡng cha mẹ cũng không, thì không thể nào trở thành một công dân tốt trong xã hội, nói chi là làm quan chức cao cấp lãnh đạo người khác, hay làm người thầy đứng trên bục giảng để dạy cho học trò, vì học trò đâu phải chỉ học tính toán, văn hay, chữ tốt, mà còn phải học đạo đức để mai kia ra đời biết sống, biết cư xử. Và dù giỏi giang cỡ nào, nhưng nếu sống chẳng ra gì thì xã hội không ai trọng nể, và người mà không yêu thương được cha mẹ là kẻ đã sinh ra, nuôi dưỡng họ thì họ còn có thể yêu thương ai, nói gì là thương nước, thương dân?

Trong Đạo Phật thì Ân phụ mẫu đứng đầu, nếu chúng ta không báo ân cho cha mẹ, ân đất nước, ân chúng sinh, chỉ lo báo ân Phật thì rõ ràng chưa thực hiện đúng lời Phật dạy. Vì không cha mẹ làm sao chúng ta có được thân người? Không có đất nước thì chúng ta dựa vào đâu mà sống? Không có sự đóng góp của những người khác thì chúng ta lấy đâu cơm ăn, áo mặc, phương tiện để sống? Chính vì vậy mà Đạo Phật dù đưa ra nhiều triết lý cao siêu, tả nhiều cảnh sống ở cõi này, cõi khác, mục đích cũng chỉ để khuyên chúng ta nên sống cho đúng như một con người với hiếu kính cha mẹ, đối xử tốt với thầy, bạn, có nghĩa với đất nước, tôn trọng, giúp đỡ mọi người, không kiêu mạn, bất tín, bất trung… Chắc chắn không có một ai thiếu những điều đó mà lại có thể thành Thánh, thành Phật. Đọc 32 Tướng Tốt của Phật ta sẽ thấy: Đó chẳng phải là những hào quang, hảo tướng ở đâu đâu để mọi người dùng vàng, ngọc, châu báu, xi măng tạc lấy để thờ, chỉ là những cách cư xử với cha, mẹ, ông bà, Thầy, bạn, và với mọi người chung quanh mà thôi. Cho nên, càng đọc kỹ con đường tu Phật, ta thấy trong đó Đạo làm Người mới thật sự quan trọng, vì có tu cao đến đâu vẫn là một con người trong xã hội, phải “Trên đền bốn ân nặng, dưới cứu khổ tam đồ”.

Ngày xưa, kinh sách chưa có, người muốn tu hành phải để cha mẹ ở lại nhà để tầm sư học đạo, trực tiếp gặp Thầy để hướng dẫn. Nhưng ngày nay thì kinh sách tràn lan, muốn hỏi thông tin về Đạo, về Đời chỉ cần nhắp chuột, thì việc bỏ bê cha mẹ không phụng dưỡng để đi phụng sự cho Phật. Không hầu hạ cho người đã mang nặng, đẻ đau, cho mình cả cuộc đời, lại giáo dưỡng cho mình, chỉ lo hầu hạ Sư Trưởng là có hợp lý không? Bởi việc tu hành dù mới nghe có vẻ quan trọng, lớn lao, nhưng mục đích chỉ là học cách nhận thức về các pháp, học Giới, Định, Huệ, Lục Độ, Vạn Hạnh, chủ yếu là tự mình phải thực hành để có kết quả thì cần gì phải vô Chùa, giao cha mẹ lại cho người khác, mặc họ bị đối xử thế nào mình không cần biết tới, vì đi tu là phải bỏ đời? Với người có gia đình thì mục đích là để có người chia sẻ cuộc sống, để nhân đôi hạnh phúc. Nếu gặp phải người vợ không thể như nhà thơ Xuân Quỳnh, xem mẹ chồng như mẹ đẻ: “Mẹ đâu là mẹ riêng anh. Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi” mà lại hỗn láo với mẹ chồng như một nàng dâu ở miền Bắc, khi cãi nhau với mẹ chồng đã nhẫn tâm xô bà xuống giếng rồi dùng cây sào dìm bà cho đến chết, thì làm gì có hạnh phúc và mong gì có con hiền hiếu? Hơn nữa, lẽ nào ta chỉ hạnh phúc bên vợ con mà bỏ mặc cha mẹ lẻ loi trong tuổi già bóng xế khi một đời họ đã cống hiến hết sức lực để không những lo cho con cái được khỏe mạnh, mà còn tạo lập gia sản cho con, để rồi đôi khi chúng giành nhau, quay lại chửi cha mẹ bất công vì chia không đồng đều, sẵn sàng đẩy cha mẹ ra đường vì chia cho mình ít hơn!

Mong rằng với con người thời đại này, học rất cao, biết rất rộng, những bài học không thiếu chung quanh, thì nên cư xử với cha mẹ cho phải lẽ. Đừng đợi đến khi cha mẹ qua đời rồi ngày Vu Lan mang lễ vật lên Chùa cúng để tỏ lòng biết ơn, mà trong cuộc sống hàng ngày nên kính trọng, yêu thương, săn sóc cha mẹ như ngày còn thơ cha mẹ đã săn sóc mình, dù không do lòng Hiếu, mà chỉ kể như báo ân. Cha mẹ nào sinh con ra mà đợi lúc già con cái nuôi lại? Nhưng nếu ai thấy đó là trách nhiệm của mình thì cha mẹ sẽ vui lòng biết bao nhiêu. Và cầu phúc ở đâu, tích phúc nơi nào cho bằng phụng dưỡng cho cha mẹ, vì đó hai vị Phật Sống hiện tiền, mà người phúc phần lớn mới được cha mẹ còn để phụng dưỡng. Dù thành đạt, đủ điều kiện để dâng cho cha mẹ những món ngon, vật lạ, hay chỉ là chút cơm rau đạm bạc, áo quần rẻ tiền, vài món bánh trái tầm thường, nhưng chắc chắn bậc làm cho mẹ cũng sẽ thấy ấm lòng, được chút an ủi khi được con cái quan tâm, chăm sóc, không bỏ mặc mình. Người theo Đạo Phật mà không đền đáp Tứ Ân thì kể như chưa hiểu Giáo Pháp của Đạo. Làm người mà không hiểu câu: “Trẻ cậy cha, già cậy con” có nghĩa là lúc đứa bé chưa đủ sức tự lực thì bậc cha mẹ là nơi cho nó nương tựa, thì người già cũng không khác đứa trẻ, chẳng còn sức lực để đi đứng, làm mọi việc, phải nhờ vào con cái chăm nom. Chúng ta đã vay cha mẹ tấm hình hài và cả một quãng đời niên thiếu lẽ nào khi trưởng thành lại quên mất do đâu mình có được như ngày nay? Không cứ gì phải là người tu Phật mới biết đến Tứ Ân. Đã làm con người thì phải Báo Ân, Đáp Ân thì mới xứng đáng làm người và không uổng kiếp sống vậy.


Mùa Vu Lan năm 2015



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 07.9.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004