Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG





V ua Tự Đức (Dực tôn) triều Nguyễn là ông vua rất yêu văn chương, ông có bài thơ “Khóc Bằng Phi” rất được truyền tụng:

Ớ Thị Bằng ơi đã mất rồi!

Ớ tình, ớ nghĩa, ớ duyên ôi!

Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,

Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.

Đập c kính ra tìm lấy bóng,

Xếp tàn y lại để dành hơi.

Mối tình muốn dứt càng thêm bận,

Mãi mãi (1) theo hoài cứ chẳng thôi (2).

Xưa nay bài thơ trên đây vẫn được xem là tuyệt tác, nhất là hai câu luận:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,

Xếp tàn y lại để dành hơi

được cho là những câu thơ bất hủ. Cụ Phan Khôi khen bài này “cũng là khắc hoạch (3) nhưng có cái chí tình”. Nhiều người cho rằng hai câu thơ trên đây là tuyệt diệu, khó có ai viết được như thế.

Nhưng nếu đọc lại cổ thi, ta thấy nhà thơ Trần Danh Án (1754-1794) làm quan dưới triều vua Lê Chiêu Thống, trước vua Tự Đức ngót trăm năm, đã từng viết:

Phá toái lăng hoa tầm cựu ảnh,

Trùng phong khâm tử hộ dư hương

nghĩa là:

Đập vỡ tan gương tìm bóng cũ,

Lại phong mền lớn giữ hương thừa.

Phải chăng lúc làm bài thơ “Khóc Bằng Phi” vua Tự Đức đã nghĩ tới hai câu này?


***


Nhà thơ Đông Hồ ở Hà Tiên có bài thơ “Mua áo” được nhiều người khen hay, trong đó có mấy câu thật thú vị:

- Hàng bông mai biếc, màu em thích,

Màu với hàng, em đã dặn rồi.

Còn thước tấc, quên, em chửa bảo,

Kích tùng bao rộng, vạt bao dài.


- Ô hay! Nghe hỏi mà yêu nhỉ!

Thước tấc anh còn lựa hỏi ai.

Rộng hẹp, tay anh bồng ẳm đó,

Ngắn dài, người mới tựa bên vai.

Trong một cuốn sách thuộc loại hoạt kê của Trung Hoa in năm 1927, người ta đọc thấy một chuyện như sau:

“Thi nhân hay tự ví mình với con gái như mấy nhà thơ Đường chẳng hạn. Có một người hàn sĩ cậy bạn tìm giúp một nơi để ngồi “gõ đầu trẻ”. Người bạn ấy viết thư hỏi anh ta muốn tiền thù lao dạy học là bao nhiêu. Hàn sĩ nọ trả lời bằng một bài thơ:

Sách mãi Ngô Lăng đoạn,

Hà tu vấn đoản trường.

Thiếp thân lang quán bão,

Xích thốn tế tư lường”.

Tạm dịch:

Cậy mua đoạn (4) Ngô Lăng,

Còn hỏi chi vắn dài.

Mình em, chàng ôm thường,

Thước tấc chàng đà hay.


Kể ra mượn lời thơ để ký thác như thế thì thật khéo. Chẳng biết lúc làm bài thơ “Mua áo”, nhà thơ Đông Hồ có nghĩ tới bài này không.


***


Nhà văn Nguyễn Công Hoan kể: Trong các nhà thơ tiền bối, Tản Đà phục nhất Tú Xương. Ông đã viết một bài khen Tú Xương đăng trên báo An Nam tạp chí vào khoảng năm 1926. Sau vụ lụt lớn năm ấy, tôi ra Hà Nội. Một buổi tối Tản Đà rủ tôi đi chơi mát bằng xe (kéo) giờ. Người phu xe đêm ấy là một người già và gầy, nhưng vì chúng tôi đi hóng gió, không cần chạy nhanh mà người phu xe nói là kéo nổi hai người với giá rất rẻ sáu xu một giờ nên chúng tôi lên xe. Chạy được một quãng ngắn, Tản Đà bắt đầu nói chuyện thơ Tú Xương và khen bài thơ “Sông lấp Nam Định” :

Sông kia rày đã nên đồng,

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.

Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.


Tản Đà nức nở khen chữ “vẳng” và chữ “giật mình”, nó ẩn chứa kín đáo nỗi ngậm ngùi của một tấm lòng hoài cổ. Anh phu xe lúc đầu còn chạy hơi nhanh, đến lúc ấy anh đi thong thả để lắng nghe. Tản Đà lại đọc tiếp bài “Áo bông che đầu” của Tú Xương:

Ai ơi còn nhớ ai không? (5)

Trời mưa, một mảnh áo bông che đầu.

Nào ai có tiếc ai đâu (6),

Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô.

Người đi Tam đảo, Ngũ hồ (7)

Kẻ v khóc trúc Thương Ngô (8) một mình.

Non non, nước nước, tình tình,

Vì ai tươi thắm cho mình ngẩn ngơ (9).


Bài thơ này nói về mối tình thắm thiết của Tú Xương với cô Cõn (tức bà Hai Đích), con gái út rất đẹp của tiến sĩ Vũ Công Độ ở Vị Xuyên. Thời trẻ, hai người yêu nhau thắm thiết nhưng ông tiến sĩ không chịu gả vì cho rằng Tú Xương không có tương lai, sự nghiệp. Rồi cô Cõn phải lấy chồng là ông Hai Đích. Năm 23 tuổi, chồng chết, cô ở vậy nuôi con. Ông Tú cũng đã lấy vợ nên hai người không thể đến với nhau, nhưng trái tim vẫn lưu luyến người xưa. Một đêm, nhà thơ si tình lượn qua nhà người tình cũ, gặp mưa phải lấy áo bông che đầu, lòng càng thổn thức khôn nguôi.

Khi Tản Đà đọc đến chỗ “khăn đầu ai khô” thì tự nhiên anh phu xe dừng lại. Và lúc Tản Đà đọc hết bài thì anh quay lại khen “Hay quá!”

Thấy lạ, một người phu xe mà biết thưởng thức văn chương, hỏi ra mới biết người kéo xe không phải là dân chuyên nghiệp, ông ta là một thầy đồ vì trận lụt mất sạch tài sản nên nghèo đói, phải ra Hà Nội kéo xe. Từ lúc ấy, chúng tôi không dám lên xe cho ông kéo nữa. Ba người cùng đi bộ với nhau để nói chuyện thơ, rồi cùng về tòa báo ở phố Hàng Lọng. Tản Đà mời ông phu xe vào nhà chơi, cùng uống rượu và biếu ông một đồng bạc.


***


Ngày nào cũng như ngày ấy, sau bữa rượu tối liên miên, anh Hiếu (Tản Đà) ngủ cho tới trưa hôm sau mới trở dậy. Cứ vào lối hai ba giờ chiều thì anh em kéo nhau lại, “gào” uống một mẻ chè tàu. Đây cũng là dịp chúng tôi tụ họp nhau để nói chuyện, ngâm thơ và “nói láo chơi”. Anh Hiếu có cả một nghệ thuật tinh vi về việc pha trà. Nào nước, thì phải nước mưa hứng ở giữa trời, nào ấm đun nước phải là thứ ấm đất, còn việc đun nước cũng là cả một kỹ thuật. Than trong hỏa lò phải quạt cho thiệt hồng, và khi nước reo, phải đợi cho đến lúc tiếng reo đã tắt, hơi nóng bắt đầu xì ra mới nhấc ấm lên và đợi một hai giây sau mới rót vào ấm trà.

Viết đến đây, tôi chợt nhớ tới đôi câu đối của người bạn một cặp vợ chồng nhà văn tản cư xoay ra nấu phở để mưu sinh:

Táo thượng, Văn Quân phi tục khí,

Đương lô, Tư Mã hữu dư tài.

Nghĩa là:

Trong bếp, Văn Quân không phải là kẻ phàm tục,

Đun lò, Tư Mã có dư tài.


Chỉ tiếc lúc ấy chẳng có lấy một Trác Văn Quân, chỉ trơ ra có mấy gã “đực rựa”. Sở dĩ nhà thơ của chúng ta thận trọng về việc “đương lô” (đun lò) là vì, theo anh, nước sôi mà đun quá độ, nó trở thành “nước bung”; nước bung, có bao nhiêu dưỡng khí đã bay đi hết, sẽ làm cho trà vừa mất hương, vừa nồng. Những buổi uống trà đó đã có một phong vị nó làm cho anh em nhớ anh Hiếu mãi mãi, vì tấm lòng hiếu khách, vì cái hậu ý ân cần đối với bạn, vì sự ăn uống khá sành sõi của anh. Tuy anh không viết ra một thiên “thực phổ”, nhưng anh em vẫn gọi anh là một đồng đạo của họ Tô (Tô Đông Pha). Mỗi lần trêu anh như vậy, anh cười một cách rất lấy làm đắc ý.

(Hồi ký của Vi Huyền Đắc)


***


Thi sĩ người Pháp François de Malherbe (1555-1628) đã có lần gặp may. Một hôm ông làm bài thơ “Consolation à Du Périer” (An ủi bạn Du Périer). Trong bản thảo, tác giả viết hai câu 15-16 như sau:

Et Rosette a vécu ce que vivent les roses:

L’espace d’un matin.

(Rosette đã sống kiếp sống của những đóa hồng

chỉ một buổi sớm là xong)

Đến khi sửa bản in thử (morasse), tác giả thấy thợ xếp nhầm là:

Et rose, elle a vécu ce que vivent les roses:

L’espace d’un matin.

Tạm dịch:

Hồng nhi, chút phận hoa hồng,

Thắm tươi một sớm là xong kiếp trần.


Tác giả thấy hay quá bèn để vậy ./.


(1) Bản chép khác: Lẽo đẽo

(2) Nhiều người cho rằng bài thơ này không chắc của vua Tự Đức.

(3) Khắc hoạch: chạm từng nét dao là khắc; vạch từng nét bút là hoạch; ý nói làm văn thơ rất dụng công.

(4) Đoạn: hàng dệt bằng tơ, mặt bóng, mịn, các sợi dọc phủ kín sợi ngang.

(5) Bản chép khác: Hỡi ai, ai có thương không?

(6) Bản chép khác: Vì ai, ai có biết đâu.

(7) Tam đảo, Ngũ hồ: cảnh đẹp, cảnh tiên. Ý nói chồng bà đã qui tiên

(8) Khóc trúc Thương Ngô: Điển: vua Thuấn chết ở đất Thương Ngô. Hai bà vợ của ông là Nga Hoàng và Nữ Anh thương tiếc quá ra bờ sông than khóc rồi nhảy xuống sông tự vẫn. Nước mắt của hai bà vẫy vào cây trúc thành đốm không phai. Ý nói bà Hai Đích khóc chồng.

(9) Bản chép khác: Vì ai ngơ ngẩn.


Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 06.9.2015 .


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004