Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




70 NĂM BẢN

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VIỆT NAM






Những bản Tuyên ngôn lịch sử

Tuyên ngôn Độc lập là giấy khai sinh của một quốc gia, khẳng định độc lập chủ quyền thiêng liêng, toàn vẹn lãnh thổ. Những bản tuyên ngôn luôn là dấu ấn bi hùng của lịch sử một dân tộc, một quốc gia...

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ - 1776

  Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ là văn bản chính trị tuyên bố ly khai khỏi Vương quốc Anh của 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ. Tuyên ngôn được đọc ngày 4/7/1776, nội dung chính của bản tuyên ngôn dựa trên tư tưởng John Locke, một triết gia người Anh. Theo ông, con người có ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson đề cập tới trong bản tuyên ngôn là "quyền được mưu cầu hạnh phúc".

Bản Tuyên ngôn đã truyền cảm hứng cho nhiều bài phát biểu nổi tiếng khác như của nhà hoạt động nhân quyền Martin Luther King Jr. và Tổng thống Abraham Lincoln cũng như bản Tuyên ngôn độc lập của một số nước như Việt Nam, Zimbabwe…

Câu trích dẫn nổi tiếng của bản tuyên ngôn là "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

One-WTC, toà nhà cao nhất nước Mỹ cao 1776 ft (Lễ Độc lập 4/7/1776)

One World Trade Center, viết tắt 1 - WTC và có tên gọi khác Freedom Tower (Tháp Tự Do) là tòa tháp cao 1776 ft (546,2 mét -tính tới đỉnh) được xây trên nền của tòa tháp đôi WTC bị đánh sập hồi 11/9/2001. Công trình này khởi công ngày 27/4/2006 và khánh thành ngày 3/11/2014 với chi phí ước tính 3,9 tỉ USD, gồm 104 tầng chính, 5 tầng hầm, đài quan sát, tháp anten và diện tích sàn sử dụng là 325.279 mét vuông.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp do hầu tước Marquis Lafayette soạn thảo. Hầu tước Lafayette là một nhà cách mạng có công cho cả nước Mỹ và nước Pháp. Năm 1777, ông đã đưa quân sang Mỹ để giúp nhân dân Mỹ chiến đấu giành độc lập. Sau đó ông trở lại Pháp tham gia cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và trở thành Tư lệnh lực lượng vệ binh quốc gia. Ông chính là tác giả của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp.

Trong bản tuyên ngôn này có tất cả 17 điều khoản, điều 1 và điều 2 là nổi tiếng nhất và được trích dẫn nhiều nhất: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi. Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung” và “Mục đích của mọi tổ chức chính trị là việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ. Các quyền đó là tự do, tài sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức”.

Tuyên cáo Độc lập 11/3/1945

Là tên gọi một đạo dụ do hoàng đế Bảo Đại ban bố ngày 11 tháng 3 năm 1945. Đạo dụ này có ý nghĩa hủy bỏ mọi ràng buộc chính trị giữa An Nam và Đế quốc Thực dân Pháp, đồng thời tiên khởi cho một nước Việt Nam hiện đại độc lập và có chủ quyền:

Cứ theo tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập. Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy Chính Phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên. Khâm thử. ” —Ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại lại triệu tập Đại sứ Yokoyama Masayuki và trao cho ông bản tuyên cáo. Kể từ ngày hôm sau - 13 tháng 3 năm 1945, báo giới khắp Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đồng loạt loan tin Việt Nam độc lập.

Với Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3, hoàng đế nêu khẩu hiệu "Dân vi quý" (Hán-Việt: 民爲貴; lấy dân làm quý) làm phương châm trị quốc. Ông giải tán nội các cũ, các Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được hoàng đế vời ra Huế trao nhiệm vụ thành lập tân nội các, trở thành Thủ tướng đầu tiên của Đế quốc Việt Nam. Sau đó, vào ngày 18 tháng 8 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam một lần nữa.

Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam – 2/9/1945

Bản tuyên ngôn độc lập của nước ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước quốc dân đồng bào tại quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.

Bản tuyên ngôn mở đầu bằng những câu trích dẫn nổi tiếng từng xuất hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp:

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”

Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của mình bằng cách trích dẫn cho thấy tư duy chính trị khoa học, độc đáo, sáng tạo, đầy tính nhân văn và tầm nhìn chiến lược của một nhà Cách mạng lỗi lạc.

Cách mạng Mỹ và Cách mạng Pháp ở thế kỷ 18 là những cột mốc lớn trong lịch sử thế giới, khẳng định những lý tưởng đầy nhân văn của loài người. Đánh giá cao lý tưởng của những bản tuyên ngôn này, Người đi đến những khái quát mới - việc “suy rộng ra” là một bước phát triển nâng những lý tưởng của thế kỷ 18 lên tầm lý tưởng của thời đại mới.

Kết thúc bản Tuyên ngôn độc lập, nhân danh dân tộc Việt Nam, Người long trọng khẳng định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy!”.

Lời khẳng định thật đanh thép, thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc, sẵn sàng chấp nhận những hy sinh, mất mát để bảo vệ thành quả quý giá, lớn lao nhất: quyền độc lập, tự do, quyền tồn tại cả một quốc gia dân tộc độc lập.

Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu máu đổ, bao nhiêu tính mệnh đã hy sinh của những người con anh dũng trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường… để bảo vệ hai tiếng “độc lập”, “chủ quyền” thiêng liêng nhất.

Vang mãi bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt nam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Tuyên ngôn độc lập với lý luận chặt chẽ, sắc bén và những dẫn chứng hùng hồn có sức thuyết phục cao, là kết quả của một quá trình trăn trở suy ngẫm và từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Mốc son chói lọi

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện quan trọng, có giá trị về mặt lý luận; đồng thời thể hiện rõ ý chí hoà bình và quyết tâm sắt đá của nhân dân ta, quyết tâm bảo vệ nền độc lập mới giành lại được. Không những thế, nó còn là sự mở đầu kỉ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên toàn thế giới; đánh dấu mốc son chói lọi của dân tộc, độc lập và tự do, dân chủ cho nhân dân; mọi người được bình đẳng, bác ái, được sống tự do và tìm được hạnh phúc, đó là khát vọng cháy bỏng mà hàng triệu người Việt Nam mong đợi.

Tuyên ngôn độc lập có nội dung rất phong phú, thể hiện sự hiểu biết ở trình độ cao, với tầm nhìn bao quát về thời đại cùng những dự báo đúng đắn sâu sắc; thể hiện một lập trường kiên định về độc lập tự do của dân tộc, vừa có tính chiến đấu cách mạng rất mạnh mẽ với lập luận khôn khéo, vững chắc bằng lời văn súc tích, rõ ràng.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trước thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự đã trở thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.

Mở ra kỷ nguyên mới

Ngày 2/9/1945 đi vào lịch sử như một ngày độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam sau ngót một thế kỉ đô hộ của chủ nghĩa thực dân Pháp, ghi nhận chiến công của Việt Nam - một dân tộc tiên phong trong sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa trên thế giới. Ngày 2/9/1945 trở thành ngày Quốc khánh của nhân dân Việt Nam và đó cũng là cái mốc chấm dứt lịch sử cận đại Việt Nam, mở ra một kỉ nguyên mới cho lịch sử dân tộc ta.

Tuyên ngôn độc lập là tuyên ngôn về thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, sự kiện nổi bật có vị trí trung tâm trong các sự kiện lịch sử của Việt Nam trong thế kỉ XX. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám với việc ra đời bản Tuyên ngôn độc lập đã tạo ra thế và lực mới để nhân dân ta đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ trong ba mươi năm tiếp sau. Từ đó thế đứng của nước Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao, có lợi cho công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế.

Trang vẻ vang của dân tộc

Ít người biết về buổi sáng ngày 26/8/1945, tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội, ngôi nhà của gia đình ông Trịnh Văn Bô và bà Hoàng Thị Minh Hồ - những nhà tư sản yêu nước đầu thế kỉ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam,  bàn nhiều vấn đề, trong đó có việc chuẩn bị Tuyên ngôn độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ lâm thời ra mắt nhân dân, cũng là ngày nước Việt Nam chính thức công bố quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hoà. Ngày 28/8, trên căn gác hai của nhà số 48 Hàng Ngang, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu dự thảo bản Tuyên ngôn độc lập và sau đó Người đã mời một số thân cận đến góp ý để bổ sung thêm cho bản dự thảo. 

Về bản Tuyên ngôn độc lập, tác giả Trần Dân Tiên viết: Sau khi đọc bản thảo cho những người cộng tác thân cận nghe và hỏi ý kiến, Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng. Cụ Hồ nói, trong đời mình, Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản tuyên ngôn như vậy. Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản yêu cầu gửi cho Hội nghị Véc-xây mà Cụ đã viết năm 1919 và Chương trình Việt Minh mà Cụ viết năm 1941. Hơn nữa, bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của những bản tuyên ngôn khác của các tiền bối như các cụ Thủ Khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và nhiều người khác, của bao nhiêu sách báo truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay.

Khánh thành tượng đài Bác Hồ trên phố đi bộ Nguyễn Huệ -Quận 1

Sáng nay 17.5.2015, Thành phố HCM tổ chức lễ khánh thành tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Diễu binh kỷ niệm Quốc khánh 2/9/2015

Theo kế hoạch, lễ kỷ niệm 70 năm ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 được tổ chức vào buổi sáng ngày 2/9 gồm các hoạt động dâng hương tưởng niệm, mít tinh, diễu binh, diễu hành. Lễ kỷ niệm được tổ chức trọng thể, xứng với tầm vóc lịch sử to lớn của Cách mạng tháng Tám (19/8/1945) và Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2/9/1945), tạo được không khí sôi nổi, tự hào, tin tưởng trong các tầng lớp nhân dân, đảm bảo thiết thực, tránh hình thức, lãng phí.


LỜI KẾT

-Câu trích dẫn nổi tiếng của bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ 4/7/1776 là "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

-Hầu tước Lafayette là một nhà cách mạng có công cho cả nước Mỹ và nước Pháp. Năm 1777, ông đã đưa quân sang Mỹ để giúp nhân dân Mỹ chiến đấu giành độc lập. Sau đó ông trở lại Pháp lãnh đạo cuộc Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và Lafayette chính là tác giả của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 14/7/1789.

-Bản Tuyên ngôn Độc lập Việt Nam 2-9-1945 là hoa, là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh, của những con người anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trên những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường. Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam. Bản Tuyên ngôn độc lập là một trang vẻ vang trong lịch sử Việt Nam. Nó chấm dứt chính thể quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức. 

Trong 70 năm qua, tư tưởng nhân văn, tư tưởng vì dân trong Tuyên ngôn độc lập còn vang vọng mãi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ chân lý chính nghĩa, pháp lý đanh thép và đạo lý cao cả của dân tộc Việt Nam giành độc lập tự do. Ánh sáng của Tuyên ngôn độc lập đã khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân (câu nói của Tổng thống Mỹ Lincoln), vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh...

(Tham khảo: Sách báo – Internet)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 03.9.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004