TÁC GIẢ
TÁC PHẨM





Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái
trong giấy tờ tuỳ thân 1936.

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút - báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… -

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur - Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).






BÚT KÝ & TRUYỆN


THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 1/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E -mail 2/2

CHÀNG VĂN SĨ ĐẤT TỀ

ĐÊM DÀI TÌNH ÁI

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA -Chương 1 Kỳ 1

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 1 Kỳ 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 2

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 2/2

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 3

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 3 tiếp theo

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 4

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 4

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 5

CON CHÓ LIÊM SỈ

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 6

HÀ NỘI BỐN MƯƠI NĂM XA - Chương 5

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 7

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 8

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 9

THƯ VIẾT Ở SÀIGÒN - E-mail 10 - KẾT





BIÊN KHẢO


LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 1

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 2

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 3

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 4

LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM - Kỳ thứ 5





Mời bạn mở để nghe
Hoài Cảm của nhạc sĩ Cung Tiến.



















THAY LỜI DẪN

Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..

Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :

a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)

b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).

c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)

d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).

e) Le Journal d'Extrême Orient (Saigon, 3 Décembre 1959)" Lược sử văn nghệ Việt nam-Hisotire de la littérature vietnamienne". Histoire sommaire de la littérature vietnamienne, òu l'auteur passe en revue les écrivains d'avant guerre 1930-1945. Cette oeuvre est tirée sur ronéo avec une tirage limitée. Fruit de minuitieuses recherches et d'une riche documentation donnée une vue d'ensemble des diverses époques et tendances des écrivains, des poètes du Vietnam, de leurs oeuvres, d'une littérature riche de plusieurs millénaires suivant le cours de l'Histoire. C'est une synthèse remarquablement coordonné annotée parle critique éminent qu'est ThếPhong qui l'achevée dans les derniers jours de Juin 1956

(đã in ở cuối sách "LSVNVN-Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của ThếPhong, NXB Vàng Son Saigon 1974)...

Từ Vũ và Newvietart chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép đăng tải toàn bộ tập Lược Sử Văn Nghệ, tài liệu không thể thiếu cho những người yêu chuộng văn chương nghệ thuật Việt Nam, đặc biệt cho những người muốn khách quan sưu tra sử liệu .




Tiết 5

XUÂN DIỆU
(1917 – 1985)



Tên thật Ngô Xuân Diệu. Sinh ngày 2-2-1917 ở Hà Tĩnh (Trung Phần). Nhà thơ nổi tiếng trong giới thanh thiếu niên thiếu nữ tiền chiến và ban đầu được sự nâng đỡ của Nhất Linh, Thế Lữ, thơ đăng trên báo Phong Hóa, Ngày Nay. Tác giả tập Thơ Thơ, thơ xuôi Phấn Thông Vàng (Đời Nay 1939), Trường ca (Thời Đại 1944), Gửi hương cho gió, Thời đại 1944... Xuân Diệu tiền chiến đi sâu vào lãng mạn tâm lý, trong kháng chiến (1945) đi sâu lãng mạn cách mạng. Chịu ảnh hưởng Âu Phương rất nhiều, cũng như Khái Hưng, Nhất Linh chịu ảnh hưởng về văn. Hơi thơ Xuân Diệu phảng phất âm hưởng, lối diễn đạt như thơ Pháp: Verlaine, Rimbaud, Lamartine. Thế Lữ có giọng thơ thương tiếc, hoài cảm dân tộc (Nhớ Rừng) Lưu Trọng Lư có hơi thơ nội tâm buồn man mác, tả tình chìm vào dĩ vãng, những hình ảnh không thể nào tìm được ở hiện tại; thì Huy Cận khóc đời, đôi khi huyền bí. Còn Xuân Diệu khác hẳn, có những lời thơ thanh xuân rất đẹp; mổ xẻ tâm lý đối tượng chính là tình yêu lứa thanh xuân đô hội. Thời tiền chiến, thơ Xuân Diệu là người bạn thân, gần gũi của thanh niên nam nữ; thơ giải tỏa thay cho tình yêu bộc bạch. Cho nên họ rất quý mến ông. Giá trị thơ Xuân Diệu ở hai thời kỳ: thời kỳ trước 1945 thiên về tâm lý lãng mạn (Thơ Thơ, Gửi hương cho gió). Thời kỳ hai, thơ đi sâu vào lòng dân tộc đấu tranh, thanh niên chiến đấu cho tổ quốc, song hành với tình yêu cá nhân hòa đồng. Thơ trong giai đoạn kháng chiến luôn luôn mang hình ảnh, thái độ, yêu tuổi thanh xuân hòa đồng sự chiến đấu cho tổ quốc lâm nguy. Những bài thơ về sau Đồi hoa gạo, Trở về, chứng tỏ điều ấy. Đọc thơ Xuân Diệu, tâm hồn người đọc nhận một cảm giác lâng nhẹ, thơ rất truyền cảm, mặc dầu ít tác động suy tư. Kỹ thuật rất vững vàng; điêu luyện, chọn hình ảnh đẹp tương xứng với âm thanh ngôn ngữ. Chẳng hạn đây là hình ảnh tương tư trong bài Tương tư:

“...Anh một mình nghe tất cả buổi chiều

Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh

Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình nhớ ảnh

Anh nhớ em nhớ lắm em ơi!

Anh nhớ em của ngày tháng xa xôi

Nhớ đôi môi đang cười ở cuối trời

Nhớ đôi mắt đương nhìn anh đăm đắm...”

hoặc:

“Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”

Thật là tuyệt diệu! Nếu không có từ lạnh thì câu mặt trời đi ngủ sớm sẽ chẳng còn thơ nữa, và cũng đã có nhiều nhà phê bình đem câu thơ trên chê bai thơ Xuân Diệu tây quá! Tội nghiệp cho những người không biết tận hưởng cái đẹp vô vàn mới, mới quá khiến cho họ ngại ngần không dám nhận đó là hình ảnh tuyệt vời!

Phân tích nghệ thuật thơ Xuân Diệu, Trúc Thơ, người yêu thơ thi sĩ, viết một bài trên đặc san Tia Sáng (số 11, 31-7-54) rất ích lợi cho ai muốn khảo sát thơ Xuân Diệu. Trích đoạn để thêm tài liệu minh chứng cái hay cái đẹp của nhà thơ thanh xuân bước vào nền thi nghệ Việt Nam bằng những trang oanh liệt:

“...Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ

Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ

Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá

Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ!”

Thi sĩ Xuân Diệu có tâm hồn lãng mạn, sầu não, lẻ loi, khóc than cảnh trăng ngàn gió bụi, cả cuộc đời lưu lạc một số cô gái giang hồ. Ta hãy lắng nghe thi nhân tả sự cô đơn trong một đêm trăng lạnh:

“...Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ

Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ

Trăng sáng, trăng xa, trăng mộng quá

Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ!”

Dưới ngọn bút thi nhân tả tâm trạng bi quan của nàng kỹ nữ lúc sắp phải từ biệt khách làng chơi:

“...Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt

Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi

Du khách ơi – Du khách đã đi rồi...”

Mấy câu thơ đó khác gì tiếng nức nở tuyệt vọng cô gái giang hồ khi cảm thấy mình trơ trọi. Vào chiều tàn nắng, sương xuống mờ mờ, thường gợi cho thi sĩ nỗi buồn không đâu đem tới:

“...Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều

Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...”

Thật vậy! đối với mọi người, thu là mùa thương tiếc nhớ nhung, đối với thiên nhiên thu, mùa dế kêu, lá rụng. Mùa thu là mùa buồn đẹp nhất bốn mùa. Đây cảnh thu đến với giác quan Xuân Diệu:

“...Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Cóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng

Đây mùa thu tới– mùa thu tới

Với áo mơ phai dệt lá vàng...”

Mùa thu là mùa ly biệt:

“...Mây vẩn từng không chim bay đi

Khí trời u uất hận chia ly

Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói.

Tựa cửa, nhìn xa nghĩ ngợi gì?...”

Chàng tuổi trẻ trong Chinh Phụ Ngâm, từ giã vợ lên đường vào mùa thu:

“...Giã nhà đeo bức chiến bào

Thét roi cầu Vị ào ào gió thu...”

Ta có thể nói Xuân Diệu là thi sĩ tuổi trẻ. Thi nhân coi cuộc đời rất ngắn ngủi và lắm lúc có nhiều sự ao ước bồng bột, ngông cuồng. Rồi muốn ôm:

“...Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người!...”

Trên, ta vừa xét sơ tâm lý Xuân Diệu qua thơ thi nhân. Bây giờ xét đến nghệ thuật của thi sĩ. Về nghệ thuật tả cảnh Xuân Diệu là lối tả thực. Ngũ quan nhận thấy thế nào thi sĩ diễn ra trong thơ như thế. Tuy nhiên lối tả thực của Xuân Diệu không những không khó khăn lại khiến ta ưa chuộng là khác! Tả cảnh hết sức tầm thường như cảnh trăng sáng, thế mà thi sĩ tô vẽ cảnh đó có vẻ mới lạ hẳn lên, nhờ ở tài dùng mỹ ngữ táo bạo:

“...Mây trắng, trời trong, đêm thủy tinh

Lung linh bóng sáng bóng rung mình...”

hoặc:

“...Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời

Đầu ghê như nước lạnh, trời ơi

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Trăng nhớ Tầm dương, nhạc nhớ người...”

Ngoài lối tả thực ra, Xuân Diệu còn có lối tả cảnh nữa, như lời các cụ ngày xưa: tả cảnh ngụ tình:

“...Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi...”

Ta nhận thấy hai câu thơ trên bao hàm ý tưởng buồn man mác của thi nhân với cảnh vật. Lại không ngụ tình trong cảnh, mà cảnh vẫn thanh thoát qua lối thơ bóng bẩy, êm đềm:

“...Con dường nhớ nhớ gió xiêu xiêu

Là là cành hoang nắng trở chiều...”

Lúc ngắm cảnh thi nhân nao nức hồi tưởng lại huy hoàng lộng lẫy thời dĩ vãng:

“...Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu

Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên...”

Đến nghệ thuật tả người Xuân Diệu cũng tinh vi lắm. Chỉ vài ba nét đơn sơ, thi nhân gợi cho ta hình ảnh dịu dàng đầy thơ mộng:

“...Hây hây thục nữ mắt như thuyền...”

Thật là khó thay được một chữ nào trong câu thơ trên. Chịu nhiều ảnh hưởng thơ Pháp quelques morceaux, có ý nghĩ vài ba chòm sao mờ tỏ, lấp lánh trên bầu trời đêm. Tuy mang nặng hình ảnh lãng mạn và chịu ảnh hưởng sâu xa văn hóa Tây Phương, nhưng Xuân Diệu vẫn không quên cội rễ. Xem thơ của thi nhân, đôi ba chỗ chúng ta vẫn còn chung sự cuồng điên yêu mà thời xưa thường hay dùng:

“...Tôi yêu Bao Tự mắt sầu bi

Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng

Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng

Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi...”

Vũ Ngọc Phan phê bình Xuân Diệu, ông viết trong Nhà văn hiện đại:

“...Xuân Diệu thật là một người có tâm hồn thi sĩ. Ông làm thơ với sự nồng nàn, nên ông không phải là một tay thợ thơ, một tay có tài gọt rũa từng chữ từng câu. Cũng vì thế mà trong tập "Thơ Thơ" của ông đã có những đoạn thật du dương...”

Xuân Diệu thời kháng chiến như vừa bàn ở trên; ông đi vào đường lãng mạn cách mạng. Những bài thơ như Đồi hoa gạo, tác giả say sưa với cách mệnh, với tất cả mọi người nao nức tranh đấu độc lập. Nên có nhiều câu thơ rướn đầy sức sống vô biên. Còn Trở về, một bài thơ đẹp toàn diện, âm thanh một buổi sáng trên đường vang tiếng guốc đi lên, một xã hội rộn ràng, bao nhiêu hình ảnh đầy nhân tính, bà mẹ giơ bầu cho con bú sữa… Một xã hội của giờ cách mệnh khởi điểm.

Xuân Diệu là nhà thơ tả nhiều hình ảnh đẹp, nhà thơ xuân đô hội. Ông là thi sĩ nổi tiếng giai đoạn tiền chiến và cả trong giai đoạn kháng chiến.

Nếu còn đôi lứa thanh niên nam nữ, còn tình yêu, hẳn thơ Xuân Diệu còn được nhắc nhở.

Trích thơ:

1. TÌNH THỨ NHẤT

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Anh cho em kèm với một lá thư

Em không lấy và tình anh đã mất

Tình đã cho không lấy lại bao giờ

Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo

Tình thì buồn như tất cả chia ly

Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo

Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi

Lòng e thẹn cũng theo tờ vụng dại

Tới bên em chờ đợi mãi không về

Em cũng xé lòng non cùng giấy mới

Mây đầy trời hôm ấy phủ sơn khê

Cũng may mắn lòng anh còn trẻ quá

Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa

Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã

Anh lại còn yêu, bóng lựu, bông trà

Nhưng giây phút dầu say hoa bướm thắm

Đã nghìn lần anh bắt được anh mơ

Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm

Đôi tay yêu không được nắm bao giờ

Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ

Ai có ngờ lòng vỡ đã từ bao

Mắt không ướt nhưng bao hàng lệ nhỏ

Len tỉ tê thầm trộm chảy quay vào

Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch

Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ

Hương mới thắm bền ghi như thiết thạch

Sương nguyên tiêu, trời đất cũng chung mờ

Tờ lá thắm đã lạc giòng u uất

Ánh mai soi cũng phai nhạt màu ôi!

Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất

Anh cho em, nên anh đã mất rồi!

(Trích Gửi Hương Cho Gió)

2. LỜI KỸ NỮ

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa

Vội vàng chi trăng sáng lắm khách ơi

Đêm nay rằm: yến tiệc sáng bên trời

Khách trông ở lòng em cô độc quá!

Khách ngồi lại cùng em đây gối lả

Tay em đây, mời khách ngả đầu say

Đây rượu nồng. Và hồn của em đây

Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử

Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ

Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn

Gió theo trăng từ biển thổi qua non

Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn

Lòng kỹ nữ cũng sầu theo biển lớn

Chớ để riêng em phải gặp lòng em

Tay ái ân du khách hãy làm rèm

Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng

Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng

Trôi phiêu lưu không vọng bến hay ghềnh

Vì mình em không quấn được chân anh

Tóc không phải những giây tình vướng víu

Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo

Trời đầy trăng lạnh lẽo sướt xương da

Người giai nhân: bến đợi dưới cây già

Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt

Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước

Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi

Du khách ơi! – Du khách đã đi rồi!

(Trích Gửi Hương Cho Gió)

3. ĐỒI HOA GẠO

Tháng hai, hoa đất nước

Mở cánh ngập đồi xa

Máu đào tung tóe vỡ

Chân mây thở sáng lòa

Mắt tôi thành biển đỏ

Chân đến, lòng ngân nga

Cây mạnh đứng giang tay

Hát dạt dào sức đất

Máu sông núi lên hoa

Rượu mặt trời mới cất

Giữa đời xuân mới tới

Hội đỏ cũng vừa lên

Đỏ như môi như má

Đỏ như suối như men

Một khoảng thắm đưa tin

Hằng hà sa số đỏ

Khắp cả một đồng bằng

Soi sáng bằng hoa tỏ

Tôi say hay hoa say

Nắm tay cùng nắm tay

Rủ hết loài người nhảy

Dưới triều hoa gạo đầy

Vô vàn lòng trái lựu

Tuôn ra một thác ngày

Vui vui những cành tơ

Để búp hồng mơ mở

Gió chim ngoài chân trời

Cũng về chen hội đỏ

1945.

4. TRỞ VỀ

Cũng bởi vì tôi nhớ tôi mong

Một sớm mai hồng, tôi sẽ lên đường trở lại

Giữa vũ trụ nhân gian, trong gia đình xã hội

Giữa quốc gia nhân loại, trong thế giới gia đình

Một sớm mai hồng, dâng một bình minh

Xanh mắt trẻ con

Hồng môi thiếu nữ

Tôi sẽ trở về chân vui rón rén

Như hương đi những đêm xuân hò hẹn

Như mắt yêu len lén

Như tay vuốt quen quen

Như đứa trẻ con nhay vú mẹ hiền

Trong lòng đời, tôi lại về náo động

Bà mẹ đời du dương tay mở rộng

Tôi nằm tròn làm một giấc sương hoa

Hỏi cỏ cây, mình có nhớ thương ta

Ta rất nhớ thương mình nên trở lại

– Vì đang sống tôi vẫn còn sống mãi

Vì còn yêu, tôi lại lại muốn yêu thêm

Vì mắt tôi no đủ bóng ngày đêm

Tai đầy tiếng hay môi mềm cảm giác

Hôm nay vẫn nghĩ đến đời bữa khác

Như đứa con vừa bú mẹ một bên

Một bên kia vẫn mơn vú mẹ hiền

Tôi phải về vì quá đỗi yêu thương

Những con người làm bằng máu và xương

Vì thắc mắc sau khi mình đã chết

Hội vui quá thế mà mình không biết

Tôi lại về vì khúc nhạc sau đây

Đập vang trời, mời cả nước cùng mây

Ai muốn ngủ cũng thế nào ngủ được!

Như một sớm trên đường vang tiếng guốc

Như một trưa chim tróc réo mùa hè

Tiếng dũa rèn đập nắng nhẩy vàng hoe

Tiếng tia sáng múa vờn quan chiếc búa

Những bánh xe quay, những guồng máy lụa

Những bàn chân dậm, những cánh tay nhanh

Tiếng cất nhà! Trời đất gõ lanh canh

Kêu thánh thót trong khi thành cửa sổ

Những tia máy phì phì đang tập thở

Những con tàu đẩy sức rúc huyên thuyên

Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên

Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ

Việt Nam sau một thời gian khổ

Bây giờ cười như hoa nở

Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh

Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh

Hội loài người đồng vui luyến ái

Cô hạnh phúc đợi chờ cô mãi

Gầy dựng cô sứt mẻ những bàn tay

Trật bả vai rỏ máu những lông mày

Nhưng cô đến cả huy hoàng trên trán

Dẫu đã muộn rồi hãy còn sớm chán

Hội loài người vui vẻ lắm ngày mai

Tôi sẽ xin đời về một sớm mai!

Tháng 8, 1945.

(Trích Tập văn Cách Mạng và Kháng Chiến)

XUÂN DIỆU





CÒN TIẾP ...






© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ VÀ NEWWVIETART .






TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC