|
THAY LỜI DẪN
Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam của nhà văn Thế Phong gồm 4 tập, đã được in 2 tập: Tập 1 NHÀ VĂN TIỀN CHIẾN 1930-1945, bản in ronéo đầu tiên ở Sài Gòn gồm 100 cuốn vào năm 1959. Bản tái bàn cuả NXB Vàng Son in 3000 cuốn ở SàiGòn vào năm 1974. Bià cuả họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi được chụp in lại trên đây , do một trong những NXB vô danh ở Mỹ in lậu ở California sau 1975 và Tập 4 : Tổng Luận đã chuyển ngữ A BRIEF GLIMPSE AT THE VIETNAMESE SCENE (from 1900 to 1956) và 2 tập 2 & 3 nói về văn nghệ kháng chiến, nhà văn hậu chiến 1900 - 1956 (văn nghệ quốc gia hay văn nghệ của VNCH) chưa bao giờ công bố trên văn đàn, mặc dù đã được lưu trữ tại một số thư viện TRONG NƯỚC (Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. HCM, Thư viện Khoa học Xã hội Tp.HCM) và NGOÀI NƯỚC như ở Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ, Boston, Ithaca-New York, SIU, IOWA vv..hoặc ở Pháp, Đức, Úc..
Newvietart xin đăng tải lại một vài nhận định báo chí, văn giới về Lược Sử Văn Nghệ khi xuất bản lần đầu vào 1959 :
a) Tạp chí Bách Khoa:" ..Ông TPhong vừa cho ra một loạt phê bình văn học. Đó là ai nấy đều mong đợi, bởi vì sau một thời gian khá lâu chưa ai tiếp tay Vũ Ngọc Phan, chốc đà mười mấy năm trời' đúng một thời gian luân lạc cuả cô Kiều...."( số 56, năm 1959, TRIỀU ĐẨU)
b) Ông TP một văn nghệ sĩ thủ đô vừa viết xong và cho phát hành cuốn" Lược sử Văn Nghệ VN", trong đó tác giả phân tích các tác phẩm của văn nghệ sĩ ra đời từ 1930 đến 1945. Cuốn này được quay ronéo có bầy bán tại các hiệu sách. Sách này tác giả đã tốn nhiều công phu và sưu tầm khá nhiều tài liệu để biên soạn (nhật báo Ngôn Luận ngày 8/9/1959- Saigon).
c) ..." Điều thứ ba, sự phán đoán của anh hợp với ý tôi, phần nhiều các tác phẩm anh khen, thì tôi cũng nhận là có giá trị; những tác phẩm anh chê, thì tôi cũng không thích. các nhận xét cuả anh về Triều Sơn, Hoàng Thu Đông đều đúng cả. Đó là nhận xét của tôi; tôi phải phục sức đọc, sức viết, sức nhớ cuả anh. Cảm ơn anh một lần nữa.." (Nguyễn Hiến Lê, 12/3c Kỳ Đồng, Saigon 3- ngày 17/4/1959)
d) Nguyệt san Sinh Lực (1959, Chủ nhiệm: Võ văn Trưng- Saigon) :"...Hôm nay Thế Phong còn có thể ít nhiều nhầm lẫn-nhưng với khả năng rạt rào của tuổi trẻ, với lòng yêu văn nghệ đến đam mê, anh còn nhiều bước đi ngạc nhiên trên lãnh vực nà để đào xới lại mảnh đất hoang phê bình cảo luận bị bỏ quên trong nhiều năm. Sự cố gắng của Thế Phong là sự cố gắng hoàn toàn văn nghệ, cuả một người văn nghệ biết mỉm cười trong sự nghèo túng bản thân mình để hiến chiều dài cho văn học sử. Cũng có đôi khi ta thấy Thê Phong phê phán có vẻ độc tài và tàn nhẫn nữa; nhưng ta vẫn thấy rằng: đó là sự độc tài và tàn nhẫn không có tính cách tự cao, tự đại; hoặc dao to búa lớn; (trái lại) nhiều tinh thần thẩm mỹ, dĩ nhiên là có chủ quan. Ta quí sự nhận thức ấy- vì anh dám nói- cũng như người khác có dám cãi lại hay không là quyền của họ.." (Lê Công Tâm - Thanh Hữu, nhà văn).
Tiết 5
Tên thật Ngô Xuân Diệu. Sinh ngày 2-2-1917 ở Hà Tĩnh (Trung Phần).
“...Anh một mình nghe tất cả buổi chiều
Vào chầm chậm ở trong hồn hiu quạnh
Anh nhớ tiếng, anh nhớ hình nhớ ảnh
Anh nhớ em nhớ lắm em ơi!
Anh nhớ em của ngày tháng xa xôi
Nhớ đôi môi đang cười ở cuối trời
Nhớ đôi mắt đương nhìn anh đăm đắm...”
hoặc:
“Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”
Thật là tuyệt diệu! Nếu không có từ lạnh thì câu mặt trời đi ngủ sớm sẽ chẳng còn thơ nữa, và cũng đã có nhiều nhà phê bình đem câu thơ trên chê bai thơ Xuân Diệu tây quá! Tội nghiệp cho những người không biết tận hưởng cái đẹp vô vàn mới, mới quá khiến cho họ ngại ngần không dám nhận đó là hình ảnh tuyệt vời!
Phân tích nghệ thuật thơ Xuân Diệu, Trúc Thơ, người yêu thơ thi sĩ, viết một bài trên đặc san Tia Sáng (số 11, 31-7-54) rất ích lợi cho ai muốn khảo sát thơ Xuân Diệu. Trích đoạn để thêm tài liệu minh chứng cái hay cái đẹp của nhà thơ thanh xuân bước vào nền thi nghệ Việt Nam bằng những trang oanh liệt:
“...Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ
Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ!”
Thi sĩ Xuân Diệu có tâm hồn lãng mạn, sầu não, lẻ loi, khóc than cảnh trăng ngàn gió bụi, cả cuộc đời lưu lạc một số cô gái giang hồ. Ta hãy lắng nghe thi nhân tả sự cô đơn trong một đêm trăng lạnh:
“...Chúng tôi lặng lẽ bước trong thơ
Lạc giữa niềm êm chẳng bến bờ
Trăng sáng, trăng xa, trăng mộng quá
Hai người, nhưng chẳng hết bơ vơ!”
Dưới ngọn bút thi nhân tả tâm trạng bi quan của nàng kỹ nữ lúc sắp phải từ biệt khách làng chơi:
“...Xao xác tiếng gà, trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách ơi – Du khách đã đi rồi...”
Mấy câu thơ đó khác gì tiếng nức nở tuyệt vọng cô gái giang hồ khi cảm thấy mình trơ trọi. Vào chiều tàn nắng, sương xuống mờ mờ, thường gợi cho thi sĩ nỗi buồn không đâu đem tới:
“...Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn...”
Thật vậy! đối với mọi người, thu là mùa thương tiếc nhớ nhung, đối với thiên nhiên thu, mùa dế kêu, lá rụng. Mùa thu là mùa buồn đẹp nhất bốn mùa. Đây cảnh thu đến với giác quan Xuân Diệu:
“...Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Cóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
Đây mùa thu tới– mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng...”
Mùa thu là mùa ly biệt:
“...Mây vẩn từng không chim bay đi
Khí trời u uất hận chia ly
Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói.
Tựa cửa, nhìn xa nghĩ ngợi gì?...”
Chàng tuổi trẻ trong Chinh Phụ Ngâm, từ giã vợ lên đường vào mùa thu:
“...Giã nhà đeo bức chiến bào
Thét roi cầu Vị ào ào gió thu...”
Ta có thể nói Xuân Diệu là thi sĩ tuổi trẻ. Thi nhân coi cuộc đời rất ngắn ngủi và lắm lúc có nhiều sự ao ước bồng bột, ngông cuồng. Rồi muốn ôm:
“...Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người!...”
Trên, ta vừa xét sơ tâm lý Xuân Diệu qua thơ thi nhân. Bây giờ xét đến nghệ thuật của thi sĩ. Về nghệ thuật tả cảnh Xuân Diệu là lối tả thực. Ngũ quan nhận thấy thế nào thi sĩ diễn ra trong thơ như thế. Tuy nhiên lối tả thực của Xuân Diệu không những không khó khăn lại khiến ta ưa chuộng là khác! Tả cảnh hết sức tầm thường như cảnh trăng sáng, thế mà thi sĩ tô vẽ cảnh đó có vẻ mới lạ hẳn lên, nhờ ở tài dùng mỹ ngữ táo bạo:
“...Mây trắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh bóng sáng bóng rung mình...”
hoặc:
“...Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đầu ghê như nước lạnh, trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm dương, nhạc nhớ người...”
Ngoài lối tả thực ra, Xuân Diệu còn có lối tả cảnh nữa, như lời các cụ ngày xưa: tả cảnh ngụ tình:
“...Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc
Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi...”
Ta nhận thấy hai câu thơ trên bao hàm ý tưởng buồn man mác của thi nhân với cảnh vật. Lại không ngụ tình trong cảnh, mà cảnh vẫn thanh thoát qua lối thơ bóng bẩy, êm đềm:
“...Con dường nhớ nhớ gió xiêu xiêu
Là là cành hoang nắng trở chiều...”
Lúc ngắm cảnh thi nhân nao nức hồi tưởng lại huy hoàng lộng lẫy thời dĩ vãng:
“...Gió thu hoa cúc vàng lưng dậu
Sắc mạnh huy hoàng áo trạng nguyên...”
Đến nghệ thuật tả người Xuân Diệu cũng tinh vi lắm. Chỉ vài ba nét đơn sơ, thi nhân gợi cho ta hình ảnh dịu dàng đầy thơ mộng:
“...Hây hây thục nữ mắt như thuyền...”
Thật là khó thay được một chữ nào trong câu thơ trên. Chịu nhiều ảnh hưởng thơ Pháp quelques morceaux, có ý nghĩ vài ba chòm sao mờ tỏ, lấp lánh trên bầu trời đêm. Tuy mang nặng hình ảnh lãng mạn và chịu ảnh hưởng sâu xa văn hóa Tây Phương, nhưng Xuân Diệu vẫn không quên cội rễ. Xem thơ của thi nhân, đôi ba chỗ chúng ta vẫn còn chung sự cuồng điên yêu mà thời xưa thường hay dùng:
“...Tôi yêu Bao Tự mắt sầu bi
Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng
Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng
Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi...”
Vũ Ngọc Phan phê bình Xuân Diệu, ông viết trong Nhà văn hiện đại:
“...Xuân Diệu thật là một người có tâm hồn thi sĩ. Ông làm thơ với sự nồng nàn, nên ông không phải là một tay thợ thơ, một tay có tài gọt rũa từng chữ từng câu. Cũng vì thế mà trong tập "Thơ Thơ" của ông đã có những đoạn thật du dương...”
Xuân Diệu thời kháng chiến như vừa bàn ở trên; ông đi vào đường lãng mạn cách mạng. Những bài thơ như Đồi hoa gạo, tác giả say sưa với cách mệnh, với tất cả mọi người nao nức tranh đấu độc lập. Nên có nhiều câu thơ rướn đầy sức sống vô biên. Còn Trở về, một bài thơ đẹp toàn diện, âm thanh một buổi sáng trên đường vang tiếng guốc đi lên, một xã hội rộn ràng, bao nhiêu hình ảnh đầy nhân tính, bà mẹ giơ bầu cho con bú sữa… Một xã hội của giờ cách mệnh khởi điểm.
Xuân Diệu là nhà thơ tả nhiều hình ảnh đẹp, nhà thơ xuân đô hội. Ông là thi sĩ nổi tiếng giai đoạn tiền chiến và cả trong giai đoạn kháng chiến.
Nếu còn đôi lứa thanh niên nam nữ, còn tình yêu, hẳn thơ Xuân Diệu còn được nhắc nhở.
Trích thơ:
1. TÌNH THỨ NHẤT
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em kèm với một lá thư
Em không lấy và tình anh đã mất
Tình đã cho không lấy lại bao giờ
Thư thì mỏng như suốt đời mộng ảo
Tình thì buồn như tất cả chia ly
Giấy phong kỹ mang thầm trong túi áo
Mãi trăm lần viết lại mới đưa đi
Lòng e thẹn cũng theo tờ vụng dại
Tới bên em chờ đợi mãi không về
Em cũng xé lòng non cùng giấy mới
Mây đầy trời hôm ấy phủ sơn khê
Cũng may mắn lòng anh còn trẻ quá
Máu mùa xuân chưa nở hết bông hoa
Vườn mưa gió còn nghe chim rộn rã
Anh lại còn yêu, bóng lựu, bông trà
Nhưng giây phút dầu say hoa bướm thắm
Đã nghìn lần anh bắt được anh mơ
Đôi mắt sợ chẳng bao giờ dám ngắm
Đôi tay yêu không được nắm bao giờ
Anh vẫn tưởng chuyện đùa khi tuổi nhỏ
Ai có ngờ lòng vỡ đã từ bao
Mắt không ướt nhưng bao hàng lệ nhỏ
Len tỉ tê thầm trộm chảy quay vào
Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ
Hương mới thắm bền ghi như thiết thạch
Sương nguyên tiêu, trời đất cũng chung mờ
Tờ lá thắm đã lạc giòng u uất
Ánh mai soi cũng phai nhạt màu ôi!
Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
Anh cho em, nên anh đã mất rồi!
(Trích Gửi Hương Cho Gió)
2. LỜI KỸ NỮ
Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa
Vội vàng chi trăng sáng lắm khách ơi
Đêm nay rằm: yến tiệc sáng bên trời
Khách trông ở lòng em cô độc quá!
Khách ngồi lại cùng em đây gối lả
Tay em đây, mời khách ngả đầu say
Đây rượu nồng. Và hồn của em đây
Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử
Chớ đạp hồn em! Trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn
Gió theo trăng từ biển thổi qua non
Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn
Lòng kỹ nữ cũng sầu theo biển lớn
Chớ để riêng em phải gặp lòng em
Tay ái ân du khách hãy làm rèm
Tóc xanh tốt em xin nguyền dệt võng
Đẩy hộ hồn em triền miên trên sóng
Trôi phiêu lưu không vọng bến hay ghềnh
Vì mình em không quấn được chân anh
Tóc không phải những giây tình vướng víu
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo sướt xương da
Người giai nhân: bến đợi dưới cây già
Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt
Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt
Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi
Gỡ tay vướng để theo lời gió nước
Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt
Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi
Du khách ơi! – Du khách đã đi rồi!
(Trích Gửi Hương Cho Gió)
3. ĐỒI HOA GẠO
Tháng hai, hoa đất nước
Mở cánh ngập đồi xa
Máu đào tung tóe vỡ
Chân mây thở sáng lòa
Mắt tôi thành biển đỏ
Chân đến, lòng ngân nga
Cây mạnh đứng giang tay
Hát dạt dào sức đất
Máu sông núi lên hoa
Rượu mặt trời mới cất
Giữa đời xuân mới tới
Hội đỏ cũng vừa lên
Đỏ như môi như má
Đỏ như suối như men
Một khoảng thắm đưa tin
Hằng hà sa số đỏ
Khắp cả một đồng bằng
Soi sáng bằng hoa tỏ
Tôi say hay hoa say
Nắm tay cùng nắm tay
Rủ hết loài người nhảy
Dưới triều hoa gạo đầy
Vô vàn lòng trái lựu
Tuôn ra một thác ngày
Vui vui những cành tơ
Để búp hồng mơ mở
Gió chim ngoài chân trời
Cũng về chen hội đỏ
1945.
4. TRỞ VỀ
Cũng bởi vì tôi nhớ tôi mong
Một sớm mai hồng, tôi sẽ lên đường trở lại
Giữa vũ trụ nhân gian, trong gia đình xã hội
Giữa quốc gia nhân loại, trong thế giới gia đình
Một sớm mai hồng, dâng một bình minh
Xanh mắt trẻ con
Hồng môi thiếu nữ
Tôi sẽ trở về chân vui rón rén
Như hương đi những đêm xuân hò hẹn
Như mắt yêu len lén
Như tay vuốt quen quen
Như đứa trẻ con nhay vú mẹ hiền
Trong lòng đời, tôi lại về náo động
Bà mẹ đời du dương tay mở rộng
Tôi nằm tròn làm một giấc sương hoa
Hỏi cỏ cây, mình có nhớ thương ta
Ta rất nhớ thương mình nên trở lại
– Vì đang sống tôi vẫn còn sống mãi
Vì còn yêu, tôi lại lại muốn yêu thêm
Vì mắt tôi no đủ bóng ngày đêm
Tai đầy tiếng hay môi mềm cảm giác
Hôm nay vẫn nghĩ đến đời bữa khác
Như đứa con vừa bú mẹ một bên
Một bên kia vẫn mơn vú mẹ hiền
Tôi phải về vì quá đỗi yêu thương
Những con người làm bằng máu và xương
Vì thắc mắc sau khi mình đã chết
Hội vui quá thế mà mình không biết
Tôi lại về vì khúc nhạc sau đây
Đập vang trời, mời cả nước cùng mây
Ai muốn ngủ cũng thế nào ngủ được!
Như một sớm trên đường vang tiếng guốc
Như một trưa chim tróc réo mùa hè
Tiếng dũa rèn đập nắng nhẩy vàng hoe
Tiếng tia sáng múa vờn quan chiếc búa
Những bánh xe quay, những guồng máy lụa
Những bàn chân dậm, những cánh tay nhanh
Tiếng cất nhà! Trời đất gõ lanh canh
Kêu thánh thót trong khi thành cửa sổ
Những tia máy phì phì đang tập thở
Những con tàu đẩy sức rúc huyên thuyên
Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên
Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ
Việt Nam sau một thời gian khổ
Bây giờ cười như hoa nở
Cô gái Việt gánh gồng xinh xinh
Đâu cũng là những cô gái Bắc Ninh
Hội loài người đồng vui luyến ái
Cô hạnh phúc đợi chờ cô mãi
Gầy dựng cô sứt mẻ những bàn tay
Trật bả vai rỏ máu những lông mày
Nhưng cô đến cả huy hoàng trên trán
Dẫu đã muộn rồi hãy còn sớm chán
Hội loài người vui vẻ lắm ngày mai
Tôi sẽ xin đời về một sớm mai!
Tháng 8, 1945.
(Trích Tập văn Cách Mạng và Kháng Chiến)
XUÂN DIỆU
|