Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (23)

Bắc Thuộc lần III


Họ Khúc Mở Nước Việt Tự Chủ





C uối thế kỷ IX. Nhà Đường suy. Nạn cát cứ, quân phiệt địa phương ngày càng ác liệt. Khởi nghĩa Hoàng Sào (874- 884) làm triều đình Đường khốn đốn.

Đầu thế kỷ X. Tiết độ sứ Độc Cô Tổn mới sang đã rất tham ác. Bị gọi là "Ngục Thượng thư" (thượng thư ác). Tổn không cùng phe Chu Ôn. Chỉ vài tháng, bị Chu Ôn đưa ra đảo Hải Nam và giết. Tĩnh Hải quân không có người cai quản.

Cha, Con, Cháu họ Khúc mở Nước Việt tự chủ

Từ năm 905- 923 hoặc 930. Họ Khúc nắm quyền cai trị nước Việt. Mở đầu Thời kỳ tự chủ Việt Nam sau hơn 1000 năm Bắc thuộc. Họ Khúc ba đời cha, con, cháu: Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ truyền nối chức Tiết độ sứ.

Khúc Thừa Dụ, hào trưởng Chu Diên. Được dân ủng hộ, đã vùng lên. Chiếm đóng phủ thành Đại La (Tống Bình), tự xưng Tiết độ sứ.

Khúc Thừa Dụ (trị vì 905- 907). Người đặt viên gạch xây nền độc lập dân tộc Việt. Sau gần 1000 năm bị các triều đại Tàu đô hộ.

Khúc Thừa Dụ quê ở Hồng Châu (Ninh Giang- Hải Dương). Ông sống khoan hòa, hay thương người, dân mến phục.

Việt sử thông giám cương mục viết: "Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu. Khúc Thừa Dụ tính khoan hòa, hay thương người, được dân chúng suy tôn. Gặp thời buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ..."

Nắm được quyền trên đất Tĩnh Hải quân. Khúc Thừa Dụ xây dựng chính quyền dựa trên danh xưng của đô hộ nhà Đường. Nhưng thực chất là một chính quyền độc lập. Do người Việt quản lý. Khúc Thừa Dụ khéo dùng danh nghĩa "xin mệnh nhà Đường". Buộc triều đình nhà Đường phải công nhận chính quyền của ông.

Ngày 7- 2- 906. Vua Đường phong thêm cho Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ tước "Đồng bình chương sự". Khúc Thừa Dụ tự phong con trai Khúc Hạo chức "Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu", chỉ huy quân đội, kế vị Tiết độ sứ.

Khúc Hạo xây dựng chính quyền độc lập, khoan hòa

Ngày 23- 7- 907. Khúc Thừa Dụ mất. Khúc Hạo lên thay. Phong con trai Khúc Thừa Mỹ "Tĩnh Hải hành quân tư mã quyền tri lưu hậu". Nhà Hậu Lương thay nhà Đường công nhận Khúc Hạo "An Nam đô hộ, sung Tiết độ sứ". Khúc Hạo cai trị nước Việt ôn hoà. Vững vàng.

Sử sách tóm lược: "Đường lối chính trị của Khúc Hạo cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui". Khúc Hạo sửa lại chế độ điền tô, thuế, lực dịch nặng nề của đô hộ Đường. Khúc Hạo ra lệnh "bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng trông coi".

Khúc Hạo xây dựng chính quyền độc lập. Thống nhất từ trung ương đến xã. Ông chia cả nước thành những đơn vị hành chính các cấp: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Mỗi xã đặt ra xã quan, một người chánh lệnh trưởng và một người tá lệnh trưởng. Một số xã ở gần nhau thời thuộc Đường gọi là hương nay đổi là giáp, mỗi giáp có một quản giáp và một phó tri giáp để trông nom việc kê hộ khẩu, nhân khẩu và việc thu thuế. Theo sách An Nam chí nguyên Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp. Cộng với những giáp trước đây nhà Đường đặt. Tĩnh Hải quân có 314 giáp.

Khúc Thừa Mỹ & Nước Nam Hán

Nhà Hậu Lương, trước đây vì mới cướp ngôi nhà Đường, phương Bắc nhiều biến cố nên thừa nhận Khúc Hạo làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân năm 907. Năm sau. Vua Hậu Lương là Chu Ôn lại phong Lưu Ẩn Tiết độ phó sứ Quảng Châu, kiêm chức "Tĩnh Hải quân tiết độ, An Nam đô hộ". Nước Tàu rắp tâm chiếm lại nước Việt.

Khi Quảng Châu mạnh lên. Tháng 9- 917. Lưu Nghiễm, em Lưu Ẩn (lên thay năm 911) xưng đế, lập nước Nam Hán. Là một trong mười nước thời Ngũ đại Thập quốc. Nhận thấy nguy cơ nước Việt bị chiếm từ họ Lưu. Khúc Hạo cử Khúc Thừa Mỹ làm "khuyến hiếu sứ" sang Quảng Châu. Bề ngoài để ‘‘kết mối hoà hiếu’’. Bề trong xem xét tình hình của địch.

Cuối năm 917. Khúc Thừa Mỹ về nước. Khúc Hạo mất. Khúc Thừa Mỹ thay cha làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân. Ông không tiếp tục chính sách "khoan thứ sức dân" của Khúc Hạo. Nhân dân tại Tĩnh Hải quân phải lao dịch nặng nề. Dân không ủng hộ họ Khúc như trước.

Về đối ngoại. Khúc Thừa Mỹ kết thân với nhà Hậu Lương ở Trung Nguyên. Gây hấn với nước Nam Hán. Năm 919. Khúc Thừa Mỹ sai sứ sang Biện Kinh xin chiếu chỉ của nhà Hậu Lương. Hữu Trinh, vua Lương bận đối phó với các nước lớn ở Trung Nguyên. Phong Khúc Thừa Mỹ làm Tiết độ sứ Giao Châu.

Được sự hậu thuẫn của Hậu Lương. Khúc Thừa Mỹ chủ quan cho rằng uy thế của nhà Lương rộng lớn ở Trung Nguyên có thể kìm chế Nam Hán, nước nhỏ ở Quảng Châu. Ông công khai gọi nước Nam Hán là "nguỵ đình" (triều đình tiếm ngôi, không chính thống). Vua Nam Hán điên giận Khúc Thừa Mỹ. Sai Lý Khắc Chính cầm quân sang đánh chiếm Tĩnh Hải quân.

Nhà Hậu Lương biết Khúc Thừa Mỹ sắp bị diệt. Không hỗ trợ. Khúc Thừa Mỹ đơn độc. Mất sự ủng hộ của nhân dân trong nước. Bị thua trận. Quân Nam Hán bắt Khúc Thừa Mỹ đưa về Phiên Ngung (kinh đô cổ của Bách Việt). Vua Nam Hán cử Lý Tiến làm thứ sử Giao châu.

Sử sách chép không thống nhất về thời gian Nam Hán xâm lược Tĩnh Hải quân. Đại Việt Sử ký Toàn thư và Khâm định Việt sử Thông giám cương mục chép là tháng 7 Âm lịch năm 923. Tức là ba tháng trước khi nhà Hậu Lương mất. Sách Việt Nam sử lược cũng lấy năm 923.

Dù không xưng hiệu, họ Khúc vẫn được đời sau tôn như những vị vua. Khúc Thừa Dụ được gọi là Tiên chủ, Khúc Hạo Trung chủ và Khúc Thừa Mỹ Hậu chủ. Ba đời bố con họ Khúc. Từ Khúc Thừa Dụ đến Khúc Thừa Mỹ. Khúc Hạo được nhắc đến nhiều nhất. Họ Khúc cầm quyền được ba đời. Khoảng mười tám năm. Nước Việt vừa ló rạng nền độc lập, đã bị nhà Nam Hán xâm lược.

Dằng dặc hơn 1000 năm Bắc thuộc

Các nhà nghiên cứu xót đau nhận định nỗi đau dằng dặc hơn 1000 năm Bắc thuộc. Từ Tần Thủy Hoàng đến Nam Hán. Người Nấu Sử Sôi Kinh Hồ Gươm hôm nay, vẳng nghe khúc đọa đày:

“Dằng dặc đau thương/ Mù sương đoạn trường/ Dai dẳng binh đao/ Oan hồn lạc bóng/ Âm ỉ nấu nung/ Nén bi, ngậm sầu/ Di truyền nòi giống/ Đời này, đời khác/ Kiếp nọ, kiếp kia/ Gieo mầm trồng hạt/ Gen Việt Tiên Rồng/ Tế bào bất diệt/ Tạ tình Thượng đế/ Dân Việt trường tồn”.

Sử sách ghi Nhà Đường thịnh trị, cai trị nước Tàu, mở đất sang phía Tây bao la. Tứ phương đều có các nước nô lệ chầu về: An Tây, An Đông, An Bắc và An Nam đô hộ phủ.

Những người Việt đứng lên khởi nghĩa: Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, Dương Thanh... không thiếu hùng tâm. Sóng cả, bão to. Nhà Đường quá mạnh. Anh hùng nén hận.

Khi nhà Đường suy vong. Vua yếu không còn thực quyền. Quyền thần tranh cướp ngôi. Nước Tàu chia năm xẻ mười. Không còn đủ sức và tâm trí đánh nhau với các "đô hộ phủ". Thời cơ vòi bạch tuộc đờ đẫn, lỏng lẻo đã tới! Người Việt bùng dậy. Thoát Tàu.

Khúc Thừa Dụ tận dụng đúng thời cơ đó. Sử sách ghi Khúc Thừa Dụ chiếm thủ phủ Đại La. Gần như không gây ra những cuộc đụng độ máu chảy thành sông. Không phải đánh qua giằng lại giữa quân Nam Hán và quân Việt. Không phải đối đầu với viện binh.

Xét về mặt chính trị. Cơ đồ trong tay họ Khúc, có phần khó hơn. Nước Việt sau hơn 1000 năm Bắc thuộc. Giống như người bệnh ốm dài ngày. Không thể vùng đứng dậy ra nắng gió. Đau đớn hơn! Qua hơn 1000 năm đọa đày. Chứ không phải vài trăm năm. Ảnh hưởng chính sách đồng hoá của phương Bắc. Tư tưởng là "công dân Tàu" đã ăn sâu vào đa số người Việt.

Việc khơi dậy tinh thần "độc lập, tự chủ" của người Việt. Không thể trong một vài năm có thể thành công. Chính sách dưỡng sức dân bên trong. Hoà hoãn với bên ngoài là cần thiết. Tạo Sức Mạnh Lòng Dân cho các thế hệ sau đứng vững, trường tồn Nước Việt độc lập.

Hơn 1000 năm Thôn tính & Đồng hóa người Việt

Đồng hóa thời Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam được giới nghiên cứu định nghĩa là quá trình kéo dài gắn liền với sự di dân từ phương Bắc, những người thuộc văn hóa Hoa Hạ xuống đất Việt phương Nam. Quá trình di dân và đồng hóa đã ảnh hưởng rất lớn tới đời sống chính trị- xã hội- Văn hóa Việt Nam.

Chính sách đồng hóa và di dân đối với người Việt phương Nam được các triều đại Tàu thực hiện rất sớm. Tàu tự cho mình là nước lớn. Coi các tộc người khác xung quanh là những tộc thấp kém. Cần phải "giáo hóa" và gọi họ bằng những tên miệt thị như Man, Di, Nhung, Địch. Do tư tưởng tự tôn này, các triều đình Tàu mang quân bành trướng. Thôn tính các nước và tộc người xung quanh.

Nhà Tần sau khi thống nhất Tàu đã mở rộng đất đai. Năm 218 TCN, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư và Sử Lộc mang 50 vạn quân đánh nước Bách Việt từ vùng Lĩnh Nam trở xuống. Đó là cuộc đồng hóa chính thức có quy mô đầu tiên của triều đại Tàu đối với người Việt phương Nam.

Thời Triệu Đà làm vua nước Nam Việt. Thực hiện chính sách dung hòa Việt và người Hoa. Song bản thân Triệu Đà xênh xang sống theo tục người Việt (tóc búi tó, ngồi xổm…).

Thời Hán. Việc thôn tính đất đai, mở rộng bờ cõi và đồng hóa là mưu đồ lớn. Để thực hiện đồng hóa triệt để. Các vua nhà Hán không chỉ di dân phương Bắc xuống phương Nam. Mà còn truyền bá tư tưởng văn hóa phương Bắc cho người Việt bản xứ.

Tư tưởng lễ giáo Tàu chính là tư tưởng Nho giáo Khổng Tử. Chữ Hán được dạy cho người Việt và trở thành công cụ để đồng hóa. Những người tích cực thực hiện việc này là Tích Quang, Nhâm Diên từ đầu thế kỷ I.

Sau khi Mã Viện đánh thắng Hai Bà Trưng (43). Di binh người Hoa ở lại Giao Chỉ làm ăn, lập nghiệp khá nhiều. Những người này được gọi là "Mã lưu".

Chính sách đồng hóa của nhà Hán dẫn tới những cuộc di dân lớn của người Hoa. Tại Giao Chỉ. Người Hoa ngày càng đông. Chính quyền các châu quận nhà Hán cho người Hoa "ở lẫn với người Việt", "lấy vợ người Việt" để dần dần xóa huyết tộc người Việt. Việc di cư của người Hoa xuống ở với người Việt, diễn ra suốt thời Bắc thuộc. Ngày càng trở thành trào lưu lớn.

Vùng Giao Chỉ xa xôi vẫn được dùng làm nơi đày ải những người Hoa phạm tội. Trong đó có cả các sĩ phu: Âm Dật, Âm Xưởng đời Đông Hán, Cố Đàm, Cố Thừa, Trương Hưu, Trần Tuân, Ngu Phiên nước Đông Ngô thời Tam Quốc.

Một số khác là những quan lại người Hoa sang trấn trị nhưng cùng gia đình ở lại sau khi hết thời hạn. Trong số này có nhiều sĩ tộc ở Trung Nguyên, cùng với một số nhà truyền giáo.

Người Hán di cư sang Giao Châu trong suốt thời Bắc thuộc. Ban đầu do chính sách đồng hóa của chính quyền trung ương. Về sau việc đó trở thành một trào lưu tự do. Trong số người di cư. Có những người Hoa di cư không do yêu cầu của chính quyền mà xuất phát từ hoàn cảnh trong những thời loạn lạc hoặc những biến động trong triều đình trung ương do tranh chấp quyền lực: Bùi Trung, Hứa Tĩnh thời Tam Quốc.

Những nhân vật đóng vai trò lãnh đạo trên lãnh thổ Việt Nam thời Bắc thuộc như Sĩ Nhiếp… tiêu biểu cho thế hệ sau nhiều đời của những người chạy loạn.

Các thời kỳ loạn lạc có đông sĩ phu người Hoa xuống phương Nam ở với người Việt: thời nhà Tần, thời Tam Quốc, Ngũ Hồ Thập Lục Quốc, Ngũ Đại Thập Quốc. Trong số những người chạy loạn có những nhân vật khá nổi tiếng như nhà khoa học Cát Hồng sang làm quan lệnh ở huyện Câu Lậu.

Nguyên nhân bành trướng & Đồng hóa

Các nhà nghiên cứu xác định việc bành trướng và đồng hóa phương Nam của các triều đạị Tàu trong thời gian đầu sở dĩ thực hiện được vì hai lý do.

Thứ nhất nhà Hán tổ chức những lực lượng quân sự to lớn, trong khi đó cơ cấu chính trị - xã hội của người Việt và các cư dân phi Hán tộc ở phía nam còn mang nặng kết cấu "vùng bộ lạc" với chế độ thủ lĩnh địa phương.
Trên nền tảng văn minh lúa nước, kết cấu xóm làng đến vùng bộ lạc (với cái tên mới thời Bắc thuộc là huyện) vẫn mang nặng tính tự trị, làm chậm quá trình phát triển của kết cấu dân tộc- quốc gia. Nước Văn Lang, Âu Lạc cũng như các nước Việt phía bắc như Mân Việt, Đông Việt và cả Nam Việt chưa hoàn toàn thoát khỏi mô hình liên minh các vùng bộ lạc để hình thành vững chắc mô hình chế độ quân chủ trung ương tập quyền.

Thứ hai sự chia rẽ trong nội bộ Việt tộc, như nhận xét của sử gia Tư Mã Thiên: "Âu Lạc tương công, Nam Việt động giao", nghĩa là Âu Lạc đánh lẫn nhau, Nam Việt rung động. Nhiều thủ lĩnh người Việt bị mua chuộc và cộng tác với triều đình phương Bắc, ngay từ thời Tần như Sử Lộc, qua thời Triệu tới thời Hán, như Hoàng Đồng.

Với sự tác động của quá trình đồng hóa từ phương Bắc, cả vùng rộng lớn từ sông Trường Giang tới sông Tây Giang tập nhiễm văn hóa Hoa Hạ, dân cư bản địa tại khu vực này trở thành "Hán nhân", "Đường nhân".

Một số người Hoa đã gia nhập bộ máy quan liêu của Trung Quốc, góp phần củng cố thêm cơ sở cho chính quyền đô hộ tại Giao châu của các triều đình phương Bắc và đẩy mạnh thêm xu hướng Hán hóa người Việt.

Do sống lâu giữa cộng đồng cư dân có sức sống mạnh mẽ, một số người Hoa khác đã dần dần Việt hóa. Một số trong đó đã trở thành các hào trưởng địa phương, góp phần quan trọng trong việc phát triển xã hội người Việt cổ lúc bấy giờ. Thậm chí có người trở thành thủ lĩnh các phong trào chống triều đình phương Bắc như Lương Thạc, Lý Trường Nhân, Lý Bí.

Tác động lớn nhất phải kể tới là tác động về văn hóa Việt Nam, không chỉ thời Bắc thuộc mà ảnh hưởng của nó tới các thời kỳ độc lập sau này.

Khúc Hạo cải cách sau hơn 1000 năm Bắc thuộc

Khúc Hạo đã tiến hành cuộc cải cách trên toàn Tĩnh Hải quân. Để chống giặc Bắc nhăm nhe bên ngoài. Bên trong, chính quyền gặp phải những khó khăn do những hậu quả nặng nề thời Bắc thuộc để lại. Để xây dựng nền tảng độc lập, phát huy nội lực nước Việt, dần tự thoát khỏi sự kiềm chế của phương Bắc.

Hai lĩnh vực lớn mà Khúc Hạo tiến hành cải cách là về hành chính và về kinh tế. Lãnh thổ họ Khúc quản lý bao gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, kéo dài tới phía bắc Hoành Sơn thêm một phần phía tây nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay.

Khúc Hạo đã tiến hành cải cách hành chính bằng việc xây dựng lại bộ máy cai trị mới, dù bộ máy chính quyền họ Khúc còn giản đơn. Trung tâm Tĩnh Hải quân vẫn được đặt tại Đại La (Tống Bình cũ, tức Hà Nội) như thời thuộc Đường.

Khúc Hạo chủ trương xây dựng một bộ máy gần dân, nắm từ dưới lên, tại đơn vị cơ sở là xã.

Bình quân thuế ruộng và tha bỏ lực dịch

Thời thuộc Đường, ngoài việc phải cống nạp rất nhiều, người Việt còn chịu tô thuế và lao dịch nặng nề. Nhằm thay đổi điều đó, Khúc Hạo chủ trương sửa đổi lại chế độ tô thuế. Ông thực hiện chính sách "bình quân thuế ruộng". Các sử gia xem chính sách của Khúc Hạo là Khúc Hạo căn cứ vào cách phân phối ruộng đất theo chế độ công xã của phương thức sản xuất châu Á thời cổ trung đại, đánh thuế bình quân theo ruộng đất mà các hộ được phân chia.

Khúc Hạo chủ trương bỏ thuế đinh. Người thu thuế là Phó tri giáp, theo mô hình cống nạp liên danh của phương thức sản xuất châu Á thời cổ trung đại, khắc phục sự phiền hà sách nhiễu của các quan cũng như việc thu thuế nhiều tầng, nhiều loại, tránh được cả thất thu ngân sách.

Một chính sách khác mà Khúc Hạo áp dụng là "tha bỏ lực dịch" nhằm bớt đi lao động khổ sai cho người dân dưới thời thuộc Đường.

Nước Việt thời đó, vừa có những đặc điểm đặc thù, vừa mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của hình thái phương thức sản xuất châu Á. Chính sách của Khúc Hạo tác động rất lớn đến đời sống, xã hội của người Việt, phù hợp với kết cấu kinh tế- xã hội khi đó. Giảm nhẹ được sự bóc lột của chính quyền với nhân dân, tạo ra sự dung hòa cần thiết về quyền lợi giữa nhà nước tự chủ với các làng xã, các thành viên thôn xóm.

Hai chính sách bình quân thuế ruộng và tha bỏ lực dịch được các sử gia xem là tiền đề tạo ra thành công của cuộc cải cách, tác động tích cực tới chính trị, văn hóa, xã hội lúc đó. Do nhà nước quản lý tới tận các đơn vị cơ sở, cải cách kinh tế có tác dụng gây dựng quyền sở hữu ruộng đất của chính quyền trong xã hội, trên cơ sở đó củng cố và mở rộng dần theo quá trình phát triển của chế độ quân chủ trung ương tập quyền trong những thời kỳ sau.

"Cốt khoan dung giản dị, nhân dân đều được yên vui".

Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi nhận chính sách mà Khúc Hạo áp dụng. Đó là chính sách giảm phiền hà, nhiễu dân, không bắt buộc, không quá khắt khe như thời Bắc thuộc.

Chính sách cải cách mà Khúc Hạo áp dụng được các sử gia nhìn nhận là chính sách thân dân, cố kết toàn dân. Cải cách đã đổi mới bước đầu bộ mặt đất nước, đổi mới bộ máy chính trị thể hiện rõ tinh thần độc lập tự chủ, tự cường, ý thức dân tộc sâu sắc và quyết tâm lớn của dân tộc Việt, nhằm thoát hẳn khỏi sự ảnh hưởng của phong kiến phương Bắc.

Sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, công cuộc cải cách của Khúc Hạo mở ra một thời kỳ phát triển mới của xã hội Việt Nam.

Các sử gia nhận đinh cuộc cải cách tạo ra sự ổn định, vững vàng cho Việt Nam trước hoàn cảnh lịch sử khi đó; đoàn kết sức mạnh toàn dân để đứng vững trước những cuộc xâm lăng tiếp theo của phương Bắc, giữ vững nền độc lập, tự chủ. Dù sau thời Khúc Hạo, Nam Hán lại tiến vào chiếm Tĩnh Hải quân, nhưng nhanh chóng bị đẩy lui trở lại Quảng châu.

Các sử gia cho rằng việc người Việt đánh lui liên tiếp hai cuộc tấn công của Nam Hán thời Tự chủ để tiến đến từ bỏ chức vị Tiết độ sứ của phương Bắc và xưng vương hiệu, đế hiệu, những chuỗi chiến thắng mang tính liên tục trong lịch sử Việt Nam, có công lao gây dựng, tạo tiền đề của cuộc cải cách do Khúc Hạo tiến hành cho đời sau.

Sử gia Lê Tung nhà Hậu Lê thế kỷ 16 đánh giá cao công lao của Khúc Hạo:

Khúc Trung Chúa (tức Khúc Hạo) nối nghiệp mở nước, khoan hòa, có phong thái trù mưu định kế quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi các nước Bắc triều, thật là bậc chúa hiền của nước Việt.

Kết quả có được từ cuộc cải cách này là nền móng cho những thành tựu lớn hơn trong tương lai của các triều đại Ngô, Đinh và Tiền Lê.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 04.8.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004