Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





LIÊN QUAN ĐẾN CÁCH HIỂU ĐẠO PHẬT NHƯ THẾ NÀO?





N hiều Phật Tử, nhất là Phật Tử bên Phật Giáo Nguyên Thủy hoàn toàn không biết gì về việc Truyền Y Bát trong Đạo Phật. Họ không hề thắc mắc hoặc có nghe thì xem thường, thậm chí còn bôi bác như một Cư Sĩ đã viết: “Không lẽ mỗi Tổ Sư chỉ sắm có một bộ y và một cái bát để dành chờ đến tuổi già giao phó lại cho vị Tổ khác, rồi trọn đời Tổ ấy mặc cái chi?” (Chọn con đường tu Phật, tr.117 - Cư Sĩ Trùng Quang). Đó là vì họ không hiểu được tầm quan trọng của việc Truyền Y Bát trong Đạo Phật được bắt đầu khi chính Đức Thích Ca trao cho Ngài Ca Diếp làm Tổ thứ I.

Hành động đó không đơn thuần chỉ là trao lại Bộ Y và Cái Bát như những người chỉ nhìn bên ngoài mà đánh giá, mà có một ý nghĩa rất thiêng liêng và quan trọng, nói lên là người Thầy, ngoài ấn chứng cho người đệ tử đã thông suốt đường lối của mình, còn giao quyền để thay mình mọi mặt. Nếu nói theo quy mô của một quốc gia thì Y, BÁT như ấn, tín của Vua cha truyền lại cho con hay người kế vị. Đó là vật quý báu nhất tượng trưng cho vương quyền mà người dân nhìn vào người giữ ấn tín biết đó là vị tân vương là người nối ngôi đúng theo luật pháp. Trong Đạo Phật, Y Bát là tín vật để người Phật Tử biết rằng đó là người đại diện cho Phật. Thấy Y Bát tức là thấy Phật, vì người giữ đã được chính thức trao quyền để cầm nắm Giáo Pháp cũng như Tăng Chúng. Người có Y Bát phải là người đã Chứng Đắc. Do đó, cũng phải được xem là Phật đương thời.

Từ Đức Thích Ca, Y Bát đã truyền xuống cho Ngài Ca Diếp. Người không hiểu con đường tu Phật thì thấy rằng đó chẳng qua là vì Ngài Ca Diếp là bậc Trưởng Lão, theo hầu Phật lâu năm, nên Phật giao cho Ngài cai quản Tăng Chúng cũng là điều bình thường. Đó là vì họ không biết rằng trong Đạo Phật có việc rất quan trọng là Chứng Đắc. Người Chứng Đắc phải đầy đủ cả hai: Lý và Hạnh. Thời Phật giảng dạy, trong nhóm đệ tử của Ngài lúc đó chỉ có mỗi Đức Ca Diếp là thông hiểu hoàn toàn Phật Pháp, cũng như Hạnh của Ngài không tỳ vết mới được giao cho. Ngài A Nan lúc đó dù thuộc pháp của Phật như “Nước trong bình đổ ra, không thiếu một giọt”, nhưng vì Hạnh của Ngài chưa tròn, nên Phật dặn Ngài Ca Diếp sẽ trao Y Bát lại cho Ngài sau đó.

Lịch sử chép lại việc Truyền Y Bát lần đầu tiên như sau: Trong một lần giữa đại chúng, Đức Thích Ca cầm cành Sen đưa lên. Trong khi đại chúng ngơ ngác không hiểu gì thì Ngài Ca Diếp mỉm cười. Chỉ vì cái cười đó mà Ngài được trao Y Bát, làm cho những thế hệ về sau bàn tán xôn xao. Hoặc chấp nhận mà không hiểu lý do tại sao. Có vị đặt cho nụ cười đó một cái tên nghe rất kêu: “Niêm hoa vi tiếu” mà không giải thích được cái cười đó mang ý nghĩa ra sao. Một trong những người không hiểu đó là Ngài Vô Môn. Ngài đã bàn trớt quớt như sau: “Nếu Ngài Ca Diếp không cười, thì Y Bát làm sao truyền? Nếu cả đám cùng cười thì Y Bát đủ đâu để truyền?” vì Ngài cho rằng do nụ cười đó mà được Truyền Y Bát, nghĩ rằng Ngài Ca Diếp đã cười đúng lúc! Vậy mà lý luận này cũng được bao nhiêu thế hệ tu hành truyền nhau để học tập!

Tuy nhiên, theo tôi, phải chăng từ bao đời cho đến nay chúng ta vẫn ca tụng Đức Thích Ca là toàn giác. Ca tụng trí huệ Ngài siêu đẳng. Phật Pháp là chân lý, là vi diệu, là bất khả tư nghì? Như vậy chẳng lẽ việc Truyền Y Bát là một việc vô cùng quan trọng, vì người được giao Y Bát sẽ cầm nắm vận mạng của Đạo Phật lại có thể dựa vào may rủi, tình cờ hay sao? Cho rằng chỉ vì cười đúng lúc mà được trao Y Bát, thì xin hỏi: Nếu không phải là Ngài Ca Diếp, mà một tên ngoại đạo, hay tên dở khùng dở điên nào đó, đang suy nghĩ chuyện gì khác, rồi cười vu vơ... chẳng lẽ Đức Thích Ca cũng sẽ trao Y Bát cho hắn? Đánh giá như thế khác nào bôi bác Đạo Phật? Vậy thì Trí Huệ của Đức Phật để làm gì? Một Giáo Pháp có vẻ thuyết phục, nói toàn chuyện thần thánh, cao siêu mà kết quả lại tầm thường như vậy liệu có đáng cho chúng ta tin tưởng theo học như hiện nay chăng? Không thể nói gì hơn là những người đánh giá như thế không hiểu chút gì việc Truyền Y Bát cũng như Chứng Đắc của Đạo Phật!

Tôi cũng từng được nghe những lập luận hết sức là mâu thuẫn của một người có tâm đạo rất lớn về việc Truyền Y Bát. Trong việc Đức Thích Ca truyền cho Ngài Ca Diếp thì ông bảo: “Ngài Ca Diếp đã theo hầu Phật nhiều năm, lại lớn tuổi, có uy tín, thì giao cho Ngài thống lãnh đồ chúng là quá đúng rồi”. Ông không đồng ý việc Tổ thứ Ba truyền Y Bát lại cho Tổ thứ Tư là Ưu Ba Cúc Đa, một thanh niên mới 20 tuổi, vào tu chỉ được có 3 năm, vì: “Còn trẻ quá, tuổi đạo lại chưa có, làm sao điều khiển Tăng Chúng, trong đó có những bậc Trưởng Lão”! Đến lượt Lục Tổ Huệ Năng thì ông cho là: “Y Bát giao cho người trẻ là đúng rồi. Vì Sư Thần Tú đã già, sống được bao lâu? Giao cho người trẻ sẽ hộ trì lâu dài hơn”!

Qua 3 lần chọn 3 người để trao truyền, chúng ta thấy: lúc thì già, lúc lại trẻ. Không thể đoán được vì sao. Nếu không nắm rõ lý do có khi chúng ta còn cho là do Tổ trước thiên kiến cũng nên. Nhưng nói rằng Tổ thứ Ba thiên kiến vì Ngài Ưu Ba Cúc Đa là đệ tử được kềm cặp riêng những 5 năm trước khi Xuất Gia làm thị giả cho Ngài. Vậy thì Ngũ Tổ làm sao thiên kiến, vì Lục Tổ Huệ Năng từ lúc vô Chùa không có lên nhà trước để gặp Ngài, chỉ ở nhà sau chẻ củi, giã gạo?

Người không hiểu về tiến trình tu hành theo Đạo Phật sẽ không khỏi hoang mang, không biết dựa vào đâu mà Tổ trước truyền Y Bát lại cho Tổ sau. Thậm chí các vị Trưởng Lão đã bất mãn tách ra để lập Trưởng Lão Bộ sau khi Phật Nhập diệt khoảng 100 năm, để hình thành Phật Giáo Nguyên Thủy ngày nay và không nhìn nhận Tổ thứ 3 cũng như tất cả các Tổ về sau có lẽ cũng vì thế. Trong khi đó, Đại Thừa đã có một nguyên tắc bất di bất dịch: Phải là người Chứng Đắc, tức là Thấy Tánh, mới được truyền Y Bát.

Người không biết thế nào là Chứng Đắc thì không thể hiểu được. Nhưng nếu chúng ta có đọc lịch sử 33 vị Tổ, phần viết về Tổ Ưu Ba Cúc Đa thì sẽ thấy: Tuy chưa Xuất Gia, nhưng qua 5 năm được Tổ Thương Na Hòa Tu kềm cặp, Ngài Ưu Ba Cúc Đa đã điều phục được cái Tâm qua việc chọn đá đen, đá trắng khi khởi Tâm xấu hay tốt. Đầu tiên đá đen nhiều hơn đá trắng. Kế đó là hai bên bằng nhau. Về sau chỉ còn toàn là đá trắng. Ngài cũng đã Thấy được cái Tâm hay cái Tánh qua đối đáp khi xin theo Tổ làm thị giả:

Tổ hỏi: Ngươi nay bao nhiêu tuổi?

Đáp: Bạch thầy, tôi nay 17 tuổi.

Hỏi: Thân ngươi được 17 tuổi hay Tánh ngươi được 17 tuổi?

Đáp: Bạch Thầy! Chẳng hay tóc trắng của Thầy đó là tại tóc trắng hay là Tâm trắng?

Tổ đáp: Tóc ta trắng chớ không phải Tâm ta trắng.

Ưu Ba Cúc Đa thưa tiếp: Bạch thầy. Tôi đây cũng vậy. Thân tôi được 17 tuổi chớ không phải Tánh tôi 17 tuổi.

Lục Tổ Huệ Năng cũng thế. Ngài đã THẤY TÁNH trước khi đến gặp Ngũ Tổ, Kinh viết:

Lần đầu Ngài Huệ Năng đến chùa Huỳnh Mai. Khi vào làm lễ, Ngũ Tổ hỏi:

Người là người ở phương nào, muốn cầu việc chi?

Ngài Huệ Năng đáp: Đệ tử là dân huyện Tân Châu, xứ Lãnh Nam, thiệt ở phương xa đến đây, lạy Tổ Sư, chỉ cầu Thành Phật chớ chẳng cầu chi khác.

Tổ Sư nói: Người là người xứ Lãnh Nam, lại là giống man rợ, thế nào thành Phật được.

Ngài Huệ Năng trả lời: “Con người tuy phân có Nam, Bắc, chớ Phật Tánh vốn không có Nam, Bắc. Cái thân man rợ này đối với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau, cái Tánh Phật nào có khác”.

Rõ ràng Lục Tổ Huệ Năng đã thấy, đã biết cái TÁNH trước khi vô Chùa. Đã biết rằng Thân mỗi người dù có khác nhau, nhưng Tánh Phật không khác. Điều này có lẽ làm cho nhiều người ngạc nhiên, không thể tin là có chuyện chưa tu học ngày nào mà đã Thấy Tánh như thế. Nhưng ai đã tin Đạo Phật thì cũng phải tin Nhân Quả. Mà đã tin Nhân Quả thì cũng phải tin có Luân Hồi, vì đó là nơi để Nhân Quả “thi hành án”.

Đọc những truyện kể về Phật, ta thấy nhiều vị Đại Đệ Tử của Ngài đã phát tâm trở lại để hộ trì Chánh Pháp, và Kinh cũng viết: “Chư Phật ba đời không nhàm chán xác thân”, vì nếu không làm một con người bình thường, sống chung với mọi người thì làm sao để hướng dẫn cho con người. Do vậy, việc trở lại của các vị Giác Ngộ để hộ trì Chánh Pháp chẳng phải là điều gì mới lạ. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy trong Sử 33 vị Tổ, nhiều vị đã nhiều tuổi còn chưa biết đi, biết nói. Lúc gặp Tổ đến mới nói, thời gian sau đó là nhận Y Bát. Có vị còn đang say sưa, cặp nách bầu rượu. Có nghĩa là các Ngài là người quay trở lại. Những gì cần học, cần hiểu đã xong ở kiếp trước, nên chỉ cần có người nhắc khẽ là họ nhớ lại ngay.

Phải chăng chúng ta đều chấp nhận rằng chỉ người đã ra khỏi rừng Mê mới biết lối mà hướng dẫn cho người sau? Đời cũng không khác. Chỉ những người thông thạo đường lối, hay ngành nghề nào đó mới có thể chỉ dạy lại cho người sau. Cũng giống như người đã học xong môn gì đó, nhưng bỏ quên, đến lúc có người nhắc là lập tức nhớ lại. Còn với những người mới bắt đầu học ở hiện kiếp thì có thể cần thêm một thời gian. Do đó chúng ta không lấy làm lạ khi các vị Trưởng Lão, hay Sư Thần Tú, dù tu học rất nhiều năm mà vẫn chưa Thấy Tánh, so với một người mới vào tu có 3 năm như Tổ Ưu Ba Cúc Đa hay với Lục Tổ Huệ Năng, mới chân ướt chân ráo, vô chùa còn chưa kịp Quy Y, thế phát!

Hẳn chúng ta đều đồng ý rằng không phải tất cả những người học cùng trường, cùng lớp, cùng Thầy đều tốt nghiệp như nhau? Trong việc tu học cũng thế. Không phải ai theo tu học với Phật ngày xưa đều Đắc Đạo. Người chưa “Đắc Đạo” bản thân chưa biết rõ con đường. Chưa hiểu phải làm gì tiếp theo. Kết quả cuối cùng ra sao? Thì làm sao hướng dẫn cho người khác? Từ ngàn xưa đến nay vẫn thế. Do vậy, mà Đức Thích Ca đã phải TRUYỀN Y BÁT cho người kế nhiệm. Cho nên, chỉ những người không hiểu hết về Đạo Phật và những diễn tiến của con đường tu Phật mới cực lực phản đối việc Thấy Tánh và Truyền Y Bát, cho rằng chỉ cần tu lâu năm, học đủ bài vở, lễ nghi và cách thức tu hành là có thể truyền lại cho đệ tử!

Nhưng Tánh là gì? Thấy Tánh là thấy cái gì? Liên quan gì đến việc Chứng Đắc của Đạo Phật? Điều này e rằng không thể chỉ bằng một vài câu mà có thể diễn tả hết được, mà có cả một trình tự theo hướng dẫn của Đạo Phật chúng ta mới có thể mường tượng ra.

Nhiều người tu Phật mà không biết Tánh là gì? Liên quan đến việc tu hành như thế nào? Nhưng đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, ta thấy Lục Tổ chỉ rất rõ ràng khi các đệ tử của Ngài hỏi: “Hòa Thượng để lại Giáo pháp gì khiến cho những người mê muội đời sau đặng thấy Phật Tánh?”.

Lục Tổ dạy: “Chúng người hãy chú tâm nghe cho rõ. Những người mê muội đời sau, nếu biết cái Tâm Chúng Sanh tức là thấy đặng Phật Tánh. Bằng chẳng biết Cái Tâm của chúng sanh thì muôn kiếp tìm Phật ắt khó gặp. Nay ta dạy các ngươi phải biết Chúng Sanh ở Tâm mình thì thấy Phật Tánh ở Tâm mình. Muốn cầu thấy Phật thì phải biết Cái Tâm Chúng Sanh. Chỉ vì Tâm Chúng Sanh làm mê muội Tánh Phật, chớ chẳng phải Tánh Phật làm mê muội Tâm Chúng Sanh. Nếu Tánh mình giác ngộ thì Chúng Sanh là Phật. Bằng Tánh mình mê muội thì Phật là Chúng Sanh. Tánh mình bình đẳng thì Chúng Sanh là Phật. Tánh mình tà hiểm thì Phật là Chúng Sanh. Nếu Tâm chúng ngươi hiểm khúc tức là Phật ở trong Chúng Sanh. Một niệm bình đẳng, ngay thật, tức là Chúng Sanh thành Phật. Tâm ta tự có Phật. Phật ở Tâm mình mới thiệt là Chơn Phật. Nếu tự mình không có Tâm Phật thì tìm Chơn Phật ở nơi nào? Cái Tự Tâm của chúng ngươi là Phật, chớ khá hồ nghi”.

Tu Phật nếu không phải để Thành Phật thì tu làm chi? Tu Phật mà không biết phải làm thế nào để Thành PHẬT thì làm sao để thành? Phật thì phải “Độ tận Chúng Sinh” mới thành. Nếu không biết Chúng Sinh là gì? Ở đâu? Thì làm sao mà “Độ”? Muốn tiến bước trên con đường Thành Phật thì phải phân biệt được giữa Chúng Sinh và Phật, vì Phật là do Chúng Sinh “Độ” mà thành. Phật và Chúng Sinh là hai tình trạng của ý thức. Khi MÊ thì là Chúng Sinh. Khi Ngộ thì Chúng Sinh thành Phật. Người chưa minh định được những điều căn bản này thì tu như thế nào? Về việc thành PHẬT cũng thế. Do người đời hiểu lầm PHẬT là một vị thần linh, cho nên không thể tưởng tượng một ngày nào mình có thể Thành Phật được, và cho rằng người nào dám khởi tâm muốn Thành Phật là Tăng Thượng Mạn!

Cũng do Đức Thích Ca ngày xưa thấy người đời quá bám vào trần cảnh rồi tranh giành nhau, gây đau khổ cho kiếp sống, nên đã dùng phương tiện quá nhiều. Ngài đã mô tả những Cảnh Phật, những vị Phật với hào quang chói lóa, những Nước Phật với Bảy Báu chất đầy, mục đích là làm cho họ thấy những điều tốt đẹp rồi vọng về đó mà bớt đi những mê đắm của cải, vật chất trần gian rồi ngưng tranh giành, tàn sát nhau làm cho kiếp sống không yên ổn. Bởi chính những việc tranh giành đó tạo ra những ác nghiệp, để kiếp hiện tại, bản thân người tạo Nghiệp và chung quanh đều phải khổ và những kiếp về sau lại phải Trả Nghiệp, lại càng Khổ hơn. Thế rồi người đời không chịu tìm hiểu thêm, cứ tin đó là thật, để sinh ra một số người bỏ hết việc đời, chuyên chú tụng Kinh, Niệm Phật để mong được về Tây Phương Cực Lạc, bỏ quên cuộc sống hiện tại với trách nhiệm của một con người đối với bản thân, gia đình và xã hội.

Theo Đại Thừa thì từ PHẬT chỉ để nói về tình trạng an ổn, thanh tịnh, giải thoát khỏi phiền não của những người Xả được Cái Tâm của họ thoát khỏi những chấp nhất, dính mắc vào cuộc đời giả tạm mà thôi. Không phải là thần linh. PHẬT chỉ có nghĩa là GIẢI THOÁT. PHẬT TÁNH là cái TÁNH GIẢI THOÁT. TÁNH này mọi người đều sẵn có, chỉ cần khai thác, phát huy mà thôi. Không phải làm điều gì mới mẻ hay cầu xin ai ban cho. Nói rằng PHẬT có thể “cứu độ cho Tam Thiên Đại thiên Thế Giới”, vì trong mỗi người chúng ta lúc nào cũng chứa đầy THAM, SÂN, SI, gặp pháp nào đến là lập tức những tư tưởng nhiễm những thứ đó tuôn ra ào ạt gọi là “trùng trùng duyên khởi”. Người tu Phật là người phải cứu độ cho hết chúng mới thành tựu con đường tu hành. Nếu chúng ta chưa biết Chúng Sanh mà Phật đã “Độ” là những gì? Phải làm thế nào để “Độ”? Thì làm sao bắt chước Phật để được như Ngài? Đó là lý do mà ta thấy rất nhiều người tu hành nhưng cứ loanh quanh tôn thờ, phụng sự cho Phật, không bao giờ dám nghĩ rằng có ngày mình cũng sẽ được như Phật.

Thời xa xưa cách đây đã mấy ngàn năm mà Đức Thích Ca đã quán sát thấy rằng tư tưởng trong Tâm mỗi con người cứ khởi, diệt không dứt, và Ngài đặt tên là Chúng Sinh. Gần đây, theo những nhà nghiên cứu về tư tưởng của Úc, thì mỗi ngày, mỗi người sản xuất khoảng 50.000 tư tưởng. Điều đó cho ta thấy trí hiểu biết của Đức Thích Ca đã đi trước con người gần 3.000 năm! Do tư tưởng mà sinh ra hành động. Tư tưởng thì xuất phát ở Tâm. Nhưng đa phần thì xấu nhiều hơn tốt. Do vậy mà người Tu Phật được dạy phải nhắm vào Tâm của mình mà hành trì, mà Điều Phục những tư tưởng xấu xa độc ác mà Phật gọi là Chúng Sinh đó, cho nó bỏ đi những toan tính, suy nghĩ Ác, hướng về điều THIỆN. Việc làm đó Phật gọi là “Cứu độ cho Tam thiên Đại Thiên thế Giới”.

Có hiểu về CHÚNG SINH như thế, mới hiểu vì sao “Nước Phật chứa đầy Bảy Báu”, hay “Chúng Sinh cúng dường châu báu cho Phật” trong ý nghĩa là người tu hành XẢ hết những chấp nhất của mình đã ôm giữ từ vô lượng kiếp đến nay để được Giải Thoát. THÂN có Ba Nghiệp là Tham, Sân, Si. Khẩu có Bốn Nghiệp là Nói láo. Nói lưỡi đôi chiều. Nói khen mình. Nói chê người. Xả được 7 thứ này thì Phật gọi là BỐ THÍ BẢY BÁU. Nói rằng BÁU, là vì mọi người ôm giữ, không chịu xa rời, giống như người giữ của quý. “Viên trân trâu có giá trị liên thành”, “xâu chuỗi”, “viên châu có giá trị trăm ngàn lượng vàng”, “dinh thự, lâu đài”, “kiệu cáng, thành quách, vợ con”… cũng chỉ để nói về những thứ mọi người đeo mang, quý trọng, ôm giữ, yêu thích, trụ chấp, trú ngụ trong đó. CÚNG DƯỜNG CHO PHẬT có nghĩa là XẢ hết những thứ đó để được Giải Thoát, không phải cúng cho tượng hay cho Phật nào bên ngoài.

Kinh dạy: “LY KINH NHẤT TỰ ĐỒNG MA THUYẾT. Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN” Rời Kinh một chữ thì đồng với thuyết của ma, mà Y theo chữ trong Kinh mà giải thích thì làm oan cho Chư Phật Ba Đời. Bởi ngày xưa, chư Đệ Tử của Phật cũng là người xuất gia tu hành, làm gì có dinh thự, lâu đài, trân châu mà cúng cho Phật để được Thành Phật? Nếu thật sự ai có những thứ của cải đó mà muốn Thành Phật đều phải Cúng cho Phật, thì khác nào Vua quan thời nay nhận hối lộ để cho thăng quan, tiến chức? Người hiểu như vậy phải chăng là bôi bác Đức Thích Ca và Đạo Phật? Chúng ta thử nhìn lại những gì được mô tả về Phật lúc sinh thời để thấy: Nếu Phật nhận được của cúng nhiều như vậy tại sao Ngài vẫn phải mặc Y bằng vải liệm thi và ngụ ở cội cây hay ở trong rừng? Phật cũng không có cất Chùa, vậy những của cải đó, nếu nhận, Phật cất dấu ở đâu? Chẳng lẽ mang về Tây Phương Cực Lạc để ở đó? Nhưng Tây Phương Cực Lạc thì Vô Tướng, dụ cho cái Tâm thanh tịnh của người tu thì làm sao mang vật chất hữu vi cất vô đó được?

Nhưng nếu việc tu hành chỉ là SỬA CÁI TÂM, sao người tu Phật được bày vẽ nhiều việc đến như thế? Nào là VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ, TỨ DIỆU ĐẾ, BÁT CHÁNH ĐẠO. Buộc người tu phải giữ GIỚI. Thậm chí muốn tu hành thì phải Xuất Gia, Cạo Tóc, Đắp Y, không được dính dáng đến các việc thế gian? Rồi không chỉ VĂN-TƯ-TU, Đạo Phật còn đòi hỏi phải có GIỚI-ĐINH-HUỆ. Giới đầy đủ, Định không lay động, nhưng nếu không có HUỆ thì GIỚI, ĐỊNH đó chỉ có giá trị như một người có đạo đức mà thôi, không đưa người đó đến CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT được?

Hẳn chúng ta đều đồng ý là không thể có một ai mới nghe giảng vài câu thì đã hiểu, đã chấp nhận, đã thâm nhập. Do vậy, buổi đầu bắt buộc phải có một số hình thức để đưa người tu vào khuôn phép. Nếu trước kia họ quen sống trong buông lung, tự do hành động, tự do suy nghĩ thì bắt đầu vào tu là phải giữ GIỚI để hạn chế bớt chạy theo sự điều động của cái Thân. Nhưng buổi đầu, dù bớt được phần nào, nhưng do bị ép buộc, không phải tự nguyện. Vì thế, Đạo Phật hướng dẫn cho người tu cách suy nghĩ, tìm hiểu về điều họ cần phải xa lìa. Khi rõ những tính cách của nó thì không cần ép buộc, đương nhiên họ cũng sẽ bỏ. Đó là lý do vì sao phải Quán Sát, Tư Duy, phải hành theo Bát Chánh Đạo. Vì không Chánh Tư Duy làm sao có Chánh Kiến? Nếu đã không có Chánh Kiến thì làm sao hiểu rõ Nhân Quả để có thể nuôi mạng bằng nghề chân chánh, và luôn ý thức để tinh tấn trên con đường tu hành. Lúc nào người tu cũng phải phải dẹp bỏ những tà niệm, tạp niệm để tâm trí luôn thành tịnh. Lời nói cũng phải chân chánh để người nghe không bị nghi ngờ thì tương lai mới có thể làm lợi ích cho Đạo. Tóm lại mục đích của 8 con đường Chánh này là để người hành theo luôn giữ gìn THÂN, KHẨU và Ý được thanh tịnh. Hơn nữa, Đạo Phật đâu có cần những người mê tín. Nói gì cũng tin. Nếu vừa Nghe đã Tin thì đó đâu phải là người sáng suốt. Vì thế mỗi điều ta Nghe cần phải suy nghĩ (Tư Duy) để xem đúng, sai như thế nào rồi mới hành theo. Do đó, GIỚI-ĐỊNH- HUỆ. VĂN-TƯ-TU là sáu căn bản không thể thiếu cho người muốn đi theo Phật Đạo.

Dù đường lối tu hành, được Phật sử dụng rất nhiều phương tiện, nhưng một khi đã tìm hiểu rõ thì rất là đơn giản: Mọi việc chỉ do TÂM. “Vạn Pháp duy Tâm tạo”. Vì thế, người tu chỉ cần tìm Tâm, thấy được nó rồi thì chuyển Vọng Tâm thành Chân Tâm. Do đó mà Tu Phật được gọi là TU TÂM. Kết quả là được Thoát Khổ.

Nhưng muốn TU TÂM thì phải biết Phật gọi cái gì là TÂM? Nó ở đâu? Nó đã làm gì để phải TU? Tu như thế nào mới đúng Chánh Pháp? Vì thế mà cần phải TƯ DUY. Không Tư Duy thì làm sao có sự hiểu biết? Nếu thiếu hiểu biết thì có thể ta sẽ phí thì giờ vào những chuyện vô ích. Điều đó cũng giống như Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết: “Cũng giống như người muốn đào giếng, lại lên gò cao mà đào. Cho dù họ có kiên trì bao nhiêu, tốn rất nhiều công sức, nhưng vẫn không có được nước”. Kinh Đại Bát Niết Bàn dạy: “Dù có người trải qua vô lượng vô số kiếp chuyên tâm thính pháp. Nhưng nếu không Tư Duy thì không thể đạt Vô Thượng Bồ Đề”. Chính nhờ Tư Duy mới sinh Trí Huệ. Đời cũng như Đạo đều thấy: Không phải chỉ là chuyên cần, gắng sức là đủ để thành công. Do đó, Đạo Phật dạy phải có TRÍ HUỆ, để biết rõ, nắm vững phương tiện sau khi đã hiểu được Mục Đích của Đạo.

Lý lẽ của Đạo Phật dù đã được thuyết cách đây cả mấy ngàn năm, nhưng đường lối, cách thức đều thực tế, không mơ hồ, không ảo tưởng, không suy diễn. Lý thuyết và thực hành đều tương ứng, hỗ trợ cho nhau, vì thế được gọi là Chân Lý. Đạo Phật quan niệm rằng đời là Bể Khổ, “Hữu thân, hữu Khổ”. Do vậy muốn Hết Khổ hay Thoát Khổ phải hiểu do đâu mà con người phải KHỔ, rồi tìm cách tháo gỡ.


(còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 04.8.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004