Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (22)

Bắc Thuộc lần III


Người Việt & Thời Ngũ Đại Thập Quốc





S au khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Phùng Hưng tiếp tục khởi nghĩa. Chống thống trị nhà Đường (602- 905). Phùng Hưng nắm quyền giữ nước độc lập một thời gian.

Phùng Hưng sinh ra từ dòng cự tộc lâu đời ở đất Đường Lâm nay là xã Đường Lâm, Sơn Tây- Hà Nội. Đường Lâm xưa là vùng đất gò đồi. Rừng cây rậm rạp. Dân gọi là Đường Lâm.

Các sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục ghi Phùng Hưng mất năm 802. Một nguồn dã sử cho biết ông sinh ngày 25- 11- 760 (tức 5-1-761) mất ngày 13- 8 năm Nhâm Ngọ (tức 13- 9- 802), thọ 41 tuổi.

Phùng Hưng tên tự là Công Phấn. Cha Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh, hiền tài, đức độ.

Khoảng năm Nhâm Tuất (722) đời Đường Huyền Tông. Phùng Hạp Khanh tham gia khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế). Sau đó, ông về quê cày cấy ruộng vườn, trở nên giàu. Nhà ông nuôi hàng nghìn người lao công.

Tương truyền Phùng Hạp Khanh có một người vợ họ Sử. Ông bà sinh một lần được ba người con trai khôi ngô khác thường. Lớn lên ai cũng có sức khỏe, có thể kéo trâu, quật hổ. Anh cả Phùng Hưng. Em thứ hai Phùng Hải. Em út Phùng Dĩnh. Năm ba anh em 18 tuổi, bố mẹ đều mất.

Phùng Hưng rất khỏe. Khí phách cao cường. Dân gian kể Phùng Hưng dùng mưu kế giết hổ dữ, mang lại bình yên cho làng xóm. Phùng Hưng trở thành hào trưởng đất Đường Lâm.

Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766- 779) khi quân lính ở Tống Bình (Hà Nội) nổi loạn, Phùng Hưng phát động một cuộc khởi nghĩa lớn, chống chính quyền đô hộ Tàu.

Người dân khắp các miền đất Giao Châu hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng. Lúc đầu, anh em họ Phùng nổi dậy làm chủ Đường Lâm. Nghĩa quân tiến lên, đánh chiếm được cả một miền rộng lớn thuộc Phong Châu. Xây dựng nhiều chiến lũy chống giặc. Phùng Hưng xưng là Đô Quân. Phùng Hải xưng Đô Bảo. Phùng Dĩnh xưng Đô Tổng. Anh em Phùng Hưng chia quân đi trấn giữ những nơi hiểm yếu. Cao Chính Bình, đô hộ nhà Đường, đem quân đàn áp. Giằng co dai dẳng hơn 20 năm.

Được trợ giúp của Đỗ Anh Hàn người cùng làng có nhiều mưu lược. Tháng 4 năm Tân Mùi (791). Phùng Hưng từ chỗ cầm cự, đã cùng các tướng lĩnh đem quân vây đánh thành Tống Bình. Quân của Phùng Hưng chia 5 đạo do các tướng: Phùng Hải, Phùng Dĩnh, Đỗ Anh Hàn, Bồ Phá Cần và chủ tướng Phùng Hưng, tiến công vây thành.

Cuộc chiến đấu quyết liệt. Quân Đường chết nhiều. Cao Chính Bình phải vào cố thủ trong thành. Lo sợ, rồi ốm chết.

Phùng Hưng chiếm thành Tống Bình. Vào phủ Đô hộ, tự trị nước Việt.

Phùng Hưng cầm quyền không lâu. Dân tôn Phùng Hưng là Bố Cái Đại Vương.

Bàn thờ Phùng Hưng (nơi đặt linh vị của ông) tại đền thờ thôn Mông Phụ, Đường Lâm- Hà Nội.

Ở đầu phố Giảng Võ, quận Ba Đình- Hà Nội ngày nay. Dưới chân những ngôi nhà cao chất ngất, có Lăng mộ Phùng Hưng. Ông đã nằm lại mảnh đất thiêng, mà ông từng quyết tử với giặc. Sức mạnh Tâm linh của Bố Cái Đại Vương, từng tích tắc bùng dậy, tiếp Năng lượng cho con cháu Việt hôm nay.

Đền thờ ông được dựng lên ở nhiều nơi: Quê hương Đường Lâm. Đình Quảng Bá (Tây Hồ). Đình Triều Khúc (Thanh Trì- Hà Nội). Lăng Đại Áng, Phương Trung, Hoạch An, phủ Thanh Oai (Hà Nội). Xã Gia Thanh, Gia Viễn- Ninh Bình có ba ngôi đền thờ Bố Cái Đại Vương.

Sau này đất Đường Lâm quê Phùng Hưng sinh ra Đế vương thứ hai lẫm liệt. Vua Ngô Quyền đánh tan quân xâm lược Nam Hán. Chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc (938). Đất Đường Lâm là Đất hai Vua.

Phùng An, con trai Phùng Hưng nối ngôi. Phùng An giữ ngôi được hai năm. Nước Việt lại rơi vào tay giặc Tàu.

Tháng 5- 791. Phùng Hưng mất. Quân khởi nghĩa chia rẽ. Một nửa ủng hộ Phùng Hải, em Phùng Hưng. Một nửa do tướng Bồ Phá Cần đứng đầu, chọn Phùng An thay cha Phùng Hưng. Hai nhóm đánh nhau. Bồ Phá Cần là mãnh tướng. Phùng An thắng thế. Phùng Hải bỏ chạy vào động Chu Nham.

Không lâu sau. Vua Đường Đức Tông cử lão tướng Triệu Xương cầm quân sang đánh. Triệu Xương chưa dùng binh. Sai sứ sang dụ trước. Phùng An yếu thế. Đầu hàng quân Đường. Nước Việt trở lại thời thuộc Đường.

Năm 819. Người Tày- Nùng ở Tả, Hữu Giang (phía Tây Bắc của châu Giao) nổi dậy chống nhà Đường. Quan cai trị Lý Tượng Cổ (tông thất nhà Đường) sai Dương Thanh thứ sử châu Hoan, mang 3.000 quân đi dẹp. Dương Thanh nổi dậy chiếm được Phủ Đô hộ. Giết Lý Tượng Cổ.

Nhà Đường vờ tha tội. Phong Dương Thanh làm thứ sử Quỳnh Châu (đảo Hải Nam). Dụ ông ra khỏi Tống Bình. Dương Thanh không tham lợi quyền cá nhân. Quyết giữ thành Tống Bình.

Sau Quế Trọng Vũ. Tướng nhà Đường dùng kế chia rẽ Dương Thanh với các tướng. Dương Thanh bị bắt. Bị giết. Quân tướng lui về giữ Trường Châu. Tháng 7- 820, bị dẹp.

Ngoài bốn cuộc khởi nghĩa lớn trên. Còn nhiều cuộc nổi dậy nhỏ khác của người Việt các năm: 803, 823, 841, 858, 860, 880... Nhiều lần quan đô hộ nhà Đường phải bỏ phủ thành chạy.

Thời Ngũ Đại Thập Quốc

Ngũ Đại Thập Quốc (907-979) là một thời kỳ trọng yếu trong lịch sử Tàu. Bắt đầu, khi triều Đường diệt vong. Kéo đến khi triều Tống thống nhất nước Tàu. Thời này phân thành Ngũ Đại (907- 960) cùng Thập Quốc (907- 979).

Ngũ Đại Thập Quốc là sự tiếp nối của tình trạng phiên trấn cát cứ dưới triều Đường. Và rối loạn chính trị hậu triều Đường.

Triều Đường diệt vong. Phiên trấn các nơi tự lập quốc. Tại khu vực Hoa Bắc. Các quốc gia phiên trấn mạnh, gọi là Ngũ Đại. Năm nước này. Dù có thực lực mạnh. Song vẫn không có khả năng khống chế toàn bộ nước Tàu. Là triều đình theo kiểu phiên trấn.

Ở các nơi khác, cũng có một vài chính quyền phiên trấn xưng đế. Một vài chính quyền tôn Ngũ Đại làm Chủ quốc.

Thập Quốc : Có mười nước, thời gian tồn tại dài, quốc lực mạnh, gọi là Thập Quốc. Thời này, phát sinh tình trạng phản biến. Đoạt chiếm. Dẫn đến chiến loạn không ngừng. Những người thống trị trọng võ, khinh văn.

Trong cảnh Tàu nội loạn. Khiết Đan Quốc có cơ hội xâm lấn phương Nam. Liêu Quốc được thành lập.

Thời này, Hà Tây và Tĩnh Hải quân (nước Việt) dần dần "ly tâm". Tĩnh Hải quân thoát Tàu. Trở về một nước có độc lập, chủ quyền.

Ngũ Đại bao gồm năm triều đại: Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Năm 907. Tại Biện châu. Chu Ôn diệt Đường, lập Hậu Lương. Khởi đầu Ngũ Đại.

Lý Tồn Úc con Lý Khắc Dụng diệt Hậu Lương, lập Hậu Đường. Sau Hậu Đường, quân vương Ngũ Đại đều xuất thân là tử tôn hoặc dây mơ rễ má của Lý Khắc Dụng.

Do khuếch trương và chỉnh đốn. Thời Hậu Đường Minh Tông. Hậu Đường cường thịnh. Sau sinh nội loạn. Thạch Kính Đường dẫn quân Khiết Đan diệt Hậu Đường, lập Hậu Tấn.

Không lâu sau. Quan hệ Khiết Đan và Hậu Tấn rất xấu. Quân Khiết Đan tiến về phía Nam, diệt Hậu Tấn, lập triều Liêu. Lưu Tri Viễn tại Thái Nguyên lập Hậu Hán, thu phục Trung Nguyên.

Tiếp đến, Quách Uy diệt Hậu Hán, lập Hậu Chu. Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh mưu kế phát triển. Hậu Chu hy vọng thống nhất Tàu. Ông đột ngột qua đời khi Bắc phạt, nhằm lấy lại Yên Vân thập lục châu từ tay người Khiết Đan. Hậu Chu bị Triệu Khuông Dẫn diệt. Ngũ Đại kết thúc.

Về phần Thập Quốc. Ngô ở Giang Nam mạnh nhất. Sau bị Lý Biện chiếm, lập Nam Đường. Tiếp sau là Ngô Việt và Mân. Vùng Hồ- Quảng có các nước Kinh Nam, Sở và Nam Hán.

Nam Đường mạnh nhất, diệt nước Mân, Sở. Đánh đấm nhiều. Nam Đường suy. Nam Đường bại trước Hậu Chu.

Đất Thục có Tiền Thục và Hậu Thục. Quốc gia mạnh, chỉ kém Nam Đường. Vì trì trệ và hưởng lạc, bị Trung Nguyên diệt.

Bắc Hán là nước duy nhất ở phía Bắc trong Thập Quốc. Do hậu duệ hoàng tộc Hậu Hán lập. Triệu Khuông Dẫn lập triều Tống (sử gọi Bắc Tống). Triệu Khương Tống cùng hoàng đệ Tống Thái Tông, lần lượt, diệt các nước Thập Quốc. Năm 979. Nhà Tống thống nhất nước Tàu. Thập Quốc kết thúc.

Tàn Khổng thống trị Ngũ Đại Thập Quốc

Thời Ngũ Đại Thập Quốc : Cai trị vẫn dựa trên học thuyết Nho Khổng. Nhưng ảnh hưởng xã hội- chính trị Nho suy giảm. Song do phép tắc quan lại và trật tự cai trị, dựa theo Nho. So với Phật giáo và Đạo giáo. Nho giáo quan trọng hơn nhiều.

Các triều Ngũ Đại Thập Quốc liên tục thay thế nhau. Cai trị bởi phản Khổng. Nho học bị tổn hại. Hậu Đường Minh Tông đã chỉ ra tình trạng các trường học bỏ bớt Nho. Thời Hậu Chu Thế Tông, triều đình cố khôi phục Nho học. Việc giảng dạy tư nhân, cũng nuôi dưỡng không ít nhân tài Nho học. Là yếu tố dẫn đến Nho học hưng phát thời Tống.

Xã hội nhiễu động và thời đại ngắn. Thay đổi gấp. Đảo điên. Thời Ngũ Đại Thập Quốc luôn xảy ra binh biến. Phản loạn. Hành thích. Vua trọng võ. Khinh văn. Nhân sĩ trọng thực. Khiến cho thời Ngũ Đại ít có học giả hay nhà tư tưởng kiệt xuất. Nhà Nho danh tiếng chỉ có Phùng Đạo. Phùng Đạo là chính trị gia, quản lý việc khắc in Cửu kinh đại quy mô, phụng sự 15 vị quân chủ thuộc 9 họ, làm quan hơn 40 năm.

Do thời loạn gây tai họa. Con người không thể nắm giữ tiền đồ của mình. Đại đa số kẻ sĩ chọn cách sống theo tư tưởng tiêu cực. Số đông nhà Nho và bách tính theo Phật giáo và Đạo giáo. Người cắm cúi nghiên cứu Đạo. Người ẩu náu rừng núi. Không mơ danh lợi. Quay lưng với chính sự. Chú trọng dưỡng sinh cá nhân. Lánh xa thời cuộc.

Học giả Đạo giáo Đàm Tiễu kế thừa thuyết pháp "Đạo" là bản nguyên của thế giới do Lão Tử đề xướng. Ông cho rằng vạn vật giữa Trời đất đều do "Đạo" diễn hóa mà hình thành. Nhưng bản chất của "Đạo" lại là hư không. Tự do. Không ràng buộc thể chế chính trị.

Đàm Tiễu soạn Hóa Thư. Sách Đạo Hóa thiên ghi: "Ủy đạo thì hư hóa thần, thần hóa khí, khí hóa hình, hình sinh nên vạn vật do vậy mà tắc. Dụng đạo thì hình hóa khí, khí hóa thần, thần hóa hư, hư minh nên vạn vật thông"

Phật giáo & Đạo giáo- An ủi kiếp người

Hậu kỳ triều Đường và thời Ngũ Đại. Chính sự hỗn loạn. Chiến tranh liên tiếp. Nho học suy thoái. Nhân sĩ và bách tính ùa nhau tìm sự an ủi trong tôn giáo. Chính sách tôn giáo thời trung Đường vẫn tiếp nối, với xu hướng sùng Đạo, đè nén Phật.

Các triều Ngũ Đại thi hành chính sách hạn chế việc ban thưởng cho các danh tăng và số lượng tăng giảm, nhằm hạn chế Phật giáo. Các nước phương Nam tôn sùng Phật giáo. Không hạn chế. Lấy việc Hán hóa Thiền tông làm chủ đạo.

Nhiều vua thời Ngũ Đại sùng Đạo giáo. Đạo giáo hưng thịnh nơi triều đình. Trong dân gian, ảnh hưởng của Phật giáo, vượt Đạo giáo.

Phật giáo. Sau Hội Xương pháp nan (840- 846), chỉ có Thiền Tông Nam tông dần hưng thịnh. Từ Hậu kỳ triều Đường lại bắt đầu phân thành năm Tông phái. Thiền tông sau Nam Đốn Bắc Tiệm phân thành Bắc tông Thần Tú Nam tông Huệ Năng.

Huệ Năng chủ trương "đốn ngộ", "kiến tính thành Phật". Sau được lưu truyền ở Nam Thiên Lĩnh Nam và nước Việt. Đệ tử của Huệ Năng là Thần Hội về Lạc Dương ở phương Bắc. Trong "Minh Định Nam Bắc Tổng Thị Phi Đại hội" đánh bại Bắc tông. Thiền tông Nam tông thành chủ lưu của Thiền tông Trung Hoa.

Thiền tông Nam tông sau phân thành Hà Trạch tông Thần Hội. Thanh Nguyên tông Hành Tư Nam Nhạc tông Hoài Thượng.

Nam Nhạc tông đến thời Bách Trượng Hoài Hải, các đệ tử là Linh Hựu và Huệ Tịch sáng kiến Quy Ngưỡng tông. Trong thời Ngũ Đại rất phát triển. Sang thời Bắc Tống thì mất. Đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải là Hi Vận và Nghĩa Huyền sáng kiến Lâm Tế tông. Sang thời Bắc Tống, thành lưu phái Thiền tông phát triển nhất.

Văn Yển sáng lập Vân Môn tông.

Văn Ích khai sáng Pháp Nhãn tông, nhận định "tam giới duy tâm, vạn vật duy thức". Ông chủ trương "bất trước tha cầu, tận do tâm tạo".

Thanh Nguyên tông đến thời Tào Sơn Bản Tịch sáng kiến Tào Động tông. Phật giáo thời Đường mạt và Ngũ Đại hình thành cục diện "ngũ tông thất phái" gồm: Quy Ngưỡng tông, Lâm Tế tông, Vân Môn tông, Pháp Nhãn tông, Tào Động tông. Cộng thêm hai phái Hoàng Long và Dương Kỳ do môn hạ của Lâm Tế phân chia.

Thiền tông đến hậu kỳ quá độ khai triển "đốn ngộ", thay thế chủ nghĩa hình thức và thần bí.

Các tông phái khác sau Hội Xương pháp nan phần lớn đều suy vong, điển tịch của Thiên Thai tông, Duy Thức tông bị mất. Thời Ngũ Đại Thập Quốc. Hoàng đế nước Ngô đón mời Đế Quan, người Cao Ly đem theo điển tịch Thiên Thai tông. Đế Quan soạn "Tứ Giáo Nghi". Thiên Thai phục hưng.

Tịnh độ tông vốn chỉ truyền bá trong dân gian. Thời Thập Quốc truyền vào tầng lớp thượng lưu, kẻ sĩ. Đến hậu kỳ, dung hợp với Thiền tông. Có trào lưu "Thiền Tịnh nhất trí" . Vào thời Hậu Chu, lại phát sinh phong trào bài Phật đại quy mô.

Hậu Chu Thế Tông đối xử khinh suất với các sư tăng, bắt nộp thuế, thực hiện binh dịch, đãi bỏ tăng ni. Phật giáo ở phương Bắc, ngày càng suy. Phật giáo ở phương Nam, tiếp tục phát triển.

Đạo giáo vào cuối thời Đường và thời Ngũ Đại Thập Quốc rất phát triển. Ngoại Đan đạo dần hướng vào Nội Đan đạo. Thời Ngũ Đại Thập Quốc, nhiều vua sùng Đạo giáo. Hậu Chu Thế Tông tiến hành ức Phật dương Đạo.

Đạo giáo thời Ngũ Đại được các quân vương trợ giúp. Tiếp tục duy trì đến triều Tống. Trở thành cơ sở cho đỉnh cao của Đạo giáo thời Tống. Các đạo sĩ danh tiếng thời Ngũ Đại Thập Quốc: Đỗ Quang Đình, Đàm Tiễu, Bành Hiểu, Đàm Tử Hà, Lưu Hải.

Đỗ Quang Đình chủ trương Tam giáo dung hợp: "dĩ Đạo vi bổn", "nạp Nho, Phật nhập Đạo" , với các tác phẩm nổi "Đạo đức chân kinh quảng thắng nghĩa", "Thường thanh tĩnh kinh trụ". Ông kế thừa tác pháp của đạo sĩ Ngô Quân thời Đường Huyền Tông. Phương pháp của ông là "an thần khứ dục, bảo thủ tam nguyên. Người tu đạo đều cần "dựa nguyên khí mà thành". ".

Đạo Thanh Tịnh của Đỗ Quang Đình là một đại biểu điển hình Đạo giáo dung hợp Nho giáo và Phật giáo. Ông giúp hai phái Mao Sơn tông Thiên Sư đạo tiến hành nghi thức trai tiếu thống nhất. Đạo giáo hậu thế sử dụng rộng rãi.

Đàm Tiễu từ nhỏ mê Hoàng Lão đạo, Chư Tử Liệt Tiên truyện, quyết tu Đạo học Tiên. Ông là bậc anh tài về thuật tịch cốc dưỡng khí. Tác phẩm Hóa thư, Đàm Tử hóa thư. Cho rằng vạn sự vạn vật đều có nguồn gốc từ "hư", "hư hóa thần, thần hóa khí, khí hóa hình", sau lại trở về , biến đổi vô cùng. Tác phẩm của Bành Hiểu có "Chu dịch tham đồng khiết phương thông chân nghĩa". Cả hai người đều gây ảnh hưởng tốt.

Ngũ Đại Thập Quốc- Hồn bay Hội họa

Các nước Nam Đường: Tiền Thục, Hậu Thục, Ngô Việt, kinh tế thịnh. Hoàng thất và sĩ nhân, sản sinh họa viện cung đình. Nghệ thuật hội họa hướng về sự thưởng thức. Năm 935. Hậu Thục lập Hàn lâm đồ họa viện. Họa viện cung đình chính thức đầu tiên của Tàu.

Trung Nguyên chiến loạn liên miên. Thời Ngũ Đại Thập Quốc, nhiều họa gia chuyển từ Trung Nguyên đến Tây Nam và Đông Nam, ẩn cư. Họ lánh nạn ở sơn cùng, thủy tận. Sơn thủy họa nở hoa. Hoa điểu họa tưng bừng thức dậy.

Thủy mặc sơn thủy họa thời Ngũ Đại rất tinh tế. Sơn thủy họa ở phương Bắc. Kinh Hạo, bậc kỳ tài vẽ tranh núi cao, non thẳm. Tác phẩm "Khuông Lư đồ" của ông được tôn "toàn cảnh sơn thủy".

Quan Đồng giỏi vẽ thế sông núi. "Quan sơn hành lữ đồ", "Thu sơn vãn thúy đồ". Trong khung cảnh hùng hồn hòa vẻ tan hoang, trống trải của phương Bắc.

Sơn thủy họa phương Nam có Đổng Nguyên, Cự Nhiên nước Nam Đường. Đổng Nguyên, bậc kỳ tài khéo léo thoát cảnh buồn tẻ của Giang Nam "Động thiên sơn đường", "Hàn lâm trọng đinh đồ" . Cự Nhiên kế thừa trực tiếp họa pháp Đổng Nguyên "Vạn hác tùng phong đồ", "Tằng nham tùng thụ đồ".

Điểu hoa họa có Từ Hy nước Nam Đường. Hoàng Thuyên nước Hậu Thục. Hoàng Thuyên giỏi vẽ các loại chim quý, cỏ lạ. Từ Hy giỏi vẽ chim và hoa trên mặt nước sông hồ. Các tác phẩm nổi tiếng "Tả sinh trân cầm đồ", "Tuyết trúc đồ".

Nam Hán & An Nam

Nước Nam Hán tồn tại (năm 917- 971) thời Ngũ Đại Thập Quốc. Nước này nằm dọc theo bờ biển phía Nam. Mở rộng kinh đô ở Hưng Vương Phủ (Quảng Châu ngày nay).

Năm 905. Lưu Ẩn được triều đình nhà Đường phong tiết độ sứ Thanh Hải quân. Năm 908. Kiêm tiết độ sứ Tĩnh Hải quân và An Nam đô hộ phủ.

Năm 911. Lưu Ẩn chết. Lưu Nham, em trai thay. Năm 917. Lưu Nham tuyên bố lập một nước mới, gọi là Đại Việt. Năm 918. Đổi tên Đại Hán. Họ Lưu Nham là họ của nhà Hán. Lưu Nham nhận là hậu duệ nhà Hán. Sử Tàu gọi Nam Hán. Phân biệt với nước Bắc Hán của Lưu Sùng (951- 979) cùng thời Ngũ Đại.

Nam Hán giáp các nước: Mân, Sở và Nam Đường, nước Đại Lý và Tĩnh Hải quân ( nước Việt). Khoảng năm 930- 931. Nam Hán chiếm Tĩnh Hải quân. Nhưng không giữ được.

Các cuộc xâm lược nước Việt của Nam Hán đều bị dân Việt đánh tơi bời.

Năm 960. Ngũ Đại kết thúc. Nhà Tống thành lập. Thay nhà Hậu Chu. Năm 971. Tống Thái Tổ sai Phan Mỹ đánh Nam Hán. Vua Nam Hán, Hậu Chủ Lưu Sưởng đầu hàng. Nước Nam Hán (bốn đời vua. 55 năm) bị diệt.

Đêm Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh. Tiếng Ve sầu rền rĩ, tiếng Âm hồn các danh họa:

“Ngũ Đại Thập Quốc đại họa/ Dân Tàu lánh nạn hóa thành chim hoa/ Núi cao, non thẳm xanh cao/ Sắc màu sơn thủy, vẩy vung bút chào/ Hồn họa tung tẩy đêm sao/ Kiếp người hư hóa, hóa sinh Khí Thần”.


(… Còn tiếp ...)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.7.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004