Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Mấy Suy Nghĩ Về Chánh Tả

Việt Ngữ Với Hai Phụ Âm Đầu D-Gi…(*)



         (nhớ thầy Lê Ngọc Trụ và những ngày Văn Khoa Saigon đánh vật với Ngữ Học Việt Nam - 1970)

Có lẽ do biến đổi khí hậu chăng,năm nay mùa “khô” nắng hạn kéo dài,mùa “ướt” mở màn với lốc xoáy cuồng phong tập kích dữ dội. Đọc các dòng tít đưa tin: “Mưa giông lớn càn quét Hà Nội”(dantri.com.vn); “Dông lốc xuất hiện tại TP.HCM,tường sập,cây đỗ,người ngã”(infonet),tôi lẩm nhẩm d hay gi,phụ âm nào đúng ?

Dở Việt Nam Tự Điển(1)nghe các cụ trong Ban Văn Học Hội Khai Trí Tiến Đức cắt nghĩa: dông : cơn mưa gió to – như dông tố: mưa to gió lớn (tr.156) – giông : nói gặp cái gì mà thành ra điềm không may : đầu năm ra ngõ gặp gái,hay giông cả năm (tr.222).

Lật Hán Việt Tự Điển(2) - Thiều Chửu gặp từ “dương”(bộ phong): gió tốc lên,lật lên(tr.769) - dông (thuần Việt)chuyển từ gốc dương (Hán Việt) .

Như vậy theo các tự điển trên “mưa dông,dông lốc” phải viết “d”. Nhưng trên thực tế viết d hay gi - một số trường hợp vẫn chưa nhất trí về mặt chánh tả.

Vậy làm cách nào phân biệt,viết đúng hai phụ âm đầu d-gi - cùng âm vị /z/ ? (Âm vị là đơn vị tối thiểu của hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ dùng để cấu tạo và phân biệt vỏ âm thanh của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ.)

Như chúng ta biết chữ Việt là lối chữ tiêu âm. Phát âm đúng thì viết không sai chánh tả,bởi nói sao viết vậy.Nếu phát âm không chuẩn và các từ điển không nhất trí cách viết thì chánh tả trở nên phiền phức.

Lâu nay người ta thường viết chánh tả theo 4 cách :

1-Theo giọng đọc,nghe sao viết vậy

2-Theo phương pháp phân biệt,để tránh lầm lẫn.

3-Theo sự quen dùng,viết theo phần đông,không cần hiểu nguyên lý

4-Theo tự nguyên – đối chiếu,truy gốc xuất phát

Về âm giọng,chuẩn hay không tùy thuộc bộ máy phát âm; dân tộc có“hầu khẩu kín”nghe trong rõ,bởi các âm tơ châu khít gần lỗ yết hầu,luồng hơi trong phổi phát ra thì đụng liền các âm tơ mà ngân lên thành tiếng; dân tộc có “hầu khẩu hở” nghe nặng hơn: các âm tơ dang ra môt chút,lỗ yết hầu hở nhiều; luồng hơi trong phổi phát ra phải trễ lại mới đụng kịp âm tơ mà thành tiếng.

Giọng Nam Bộ trại xa giọng Bắc Bộ,theo GS Lê Ngọc Trụ - có lẽ nhờ khí hậu ,đất đai phì nhiêu dễ sinh sống của đồng bằng sông Cửu Long mà người miền Nam “ít chịu khó” (principe du moindre effort) – tật mà ông Phan Văn Hùm gọi là “lười tự nhiên” - ưa nói những vần “dễ”,thêm tật “ít chịu khó”– đã đổi luôn mấy vần khó cho trở thành vần dễ,lâu ngày thành quen,không sửa chữa được và không biết sai mà sửa.Bởi muốn phát âm đúng giọng phải sửa khẩu hình miệng - Ví dụ với vần “ay”phải nhách môi ra sau nhiều hơn vận “ai”;vần “iêm,iếp,iêu”phải kéo dài nghe rõ âm ê; vần “au”phải túm miệng nhiều hơn so với vận “ao” ;vần uôi,ươi,ươu phải kéo dài nghe rõ âm ô,ơ ; với giọng ngã,phải kéo dài đè xuống gần giọng nặng rồi đỡ lên giọng sắc liền …Đối với người miền Nam đó là những giọng “khó”. Nói mà còn phải sửa giọng rất phiền phức nên họ đã gộp mấy giọng “cầu kỳ”ấy vào các giọng “dễ”, để mở miệng ra là phát ngôn được liền.

Chính vì tật “ít chịu khó”,giọng Nam Bộ thường phát âm gi ra d – bởi với âm gi,phải cho đầu lưỡi hạ khỏi chân răng hàm dưới,lưng lưỡi sát gần cúa.Luồng âm phát ra bị chia đôi nên bị yếu hơi;phai thêm sức xịt nhấn mạnh giọng cúa mới ra âm gi. Do đó khó hơn là phát âm d.

Để viết đúng chánh tả Việt ngữ,cần chú ý nguyên tắc “luật tương đồng đối xứng của các âm thể” - các âm thể đồng tánh cách phát âm và đồng chỗ phát âm đi chung nhau và đổi lẫn nhau.Đơn cử một vài thí dụ :

Với Âm d

- Tiếng Hán Việt : khởi đầu d cho ra tiếng thuần Việt cũng khởi đầu bằng âm d như : dị>dễ; dụ>dỗ; duệ>(dòng)dõi; diệt>dứt ; dụng>dùng; di>dời; dương>dông(gió)…- khởi đầu âm đ cho ra âm d như : đao>dao ; đình>dừng; đàn(áp)>dẹp

-Tiếng đôi,hai tiếng khởi đầu bằng d như: dần dần,dã dượi,dại dột,dạn dĩ,dành dụm,dịu dàng,dùng dằng

Với Âm gi

Theo luật phát âm,những âm đồng chỗ phát âm đổi lẫn nhau.Âm gi cùng với các âm s,tr,ch là loại âm cúa – nên âm gi thuần Việt thường chuyển bên âm cúa Hán Việt ch,tr,s :

- ch>gi : chỉ>giấy ; chủng>giống;chính(nguyệt)>(tháng) giêng…

- S>gi : sát>giết; sàng>giường;sàm>gièm…

- tr>gi : tranh>giành;trầm>gìm;trương>giương;trì>giữ;trào(tiếu)>giễu …

- Tiếng thuần Việt đơn cũng thường gặp hình thức chuyển lẫn:

- tr/gi : trời/giời; trăng/giăng; trùn/giun; trai/giai; trối/giối; trải/giải; tràn trụa/giàn giụa

- ch/gi : chừ/giờ; chi/gì; chêm/giặm;chàng(hảng)/giạng(háng);(bà)chằn/giằn

-Tiếng đôi : Hai tiếng khởi đầu bằng gi : giặc giã,giãy giụa,giục giã,giấu giếm,giành giựt,giỏi giang,già giặn,giềnh giàng,giẹo giọ


Tóm lại để viết đúng chánh tả Việt ngữ ngoài việc phát âm chuẩn còn phải biết phân biệt được sự chuyển gốc,chuyển lẫn các tiếng Hán Việt,thuần Việt.Tất nhiên ta không cách chi nhớ hết,và không phải ai cũng là “chuyên gia ngôn ngữ” để lúc nào cũng “phát âm”chính xác tuyệt đối,nhưng đã được cắp sách đến trường,đặt bút là phải cố gắng viết đúng chánh tả.Muốn được vậy cần ghi nhớ thuộc lòng một số mẹo luật – và khi ngờ vực,chịu khó tra lục tự điển.

Học giả Nguyễn Hiến Lê có dưới tay hàng trăm đầu sách xuất bản,đã chia sẻ : “Tôi rất chú trọng đến chánh tả và sự dùng chữ cho đúng. Chỗ ngồi viết,sau lưng tôi kê một cái tủ mà hai ngăn chứa toàn tự điển non hai chục bộ lớn nhỏ : Việt,Pháp,Anh,Hán tự điển,văn liệu,điển tích,đồng âm,đồng nghĩa …;tôi chỉ cần quay lại,vói tay là lấy được liền”. Và ông đã “làm một cuốn sổ tay chép những tiếng chưa thuộc chánh tả,và sắp theo ba mục : tiếng bắt đầu CH,TR ;tiếng bắt đầu D,GI,R ; và tiếng bắt đầu bằng S,X.”(tr.400 - Hồi ký Nguyễn Hiến Lê - NXB Văn Học,1993)


Rèn luyện học sinh viết đúng chánh tả,là nhiêm vụ của các bộ môn và Ngữ Văn phải chịu trách nhiêm chính ở trường phổ thông.Viết đúng tiếng Việt là biết trân trọng giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt.Từ vựng nào chưa rõ hãy tìm hiểu đến nơi đến chốn.

Thà phải tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời” ! (F. Ăng-ghen)


(Saigon,11/7/2015)

(*)Tham khảo “Chánh Tả Việt Ngữ”,GS Lê Ngọc Trụ - NXB Trường Thi,Saigon,1960

(1)Việt Nam Tự Điển – Hội Khai Trí Tiến Đức – Imprimerie Trung Bắc Tân Văn - Hà Nội,1931.

(2)Hán Việt-Tự Điển – Thiều Chửu - NXB Tổng Hợp TP.Hồ Chí Minh,2003(tái bản).


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 19.7.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004