Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Cố nhạc sĩ Văn Cao




Nhạc Sĩ Văn Cao

Với 20 Năm 'Cõi Thiên Thai' &

Bản Tiến Quân Ca Tròn 70 Tuổi






20 Năm 'Cõi Thiên Thai'

-Trưa ngày 12/7/1985, lúc đưa tiễn người nghệ sĩ tài danh về nghĩa trang Mai Dịch, bà Nghiêm Thúy Băng, phu nhân của ông, kể: Văn Cao rất thích hai câu thơ “Giữa sự sống và cái chết, tôi chọn sự sống/ Để giữ cho sự sống, tôi chọn cái chết”.

-Nói về người bạn của mình, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn không tiếc lời khen tặng: 'Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư...'.

-Ca khúc đầu tiên của Văn Cao mang tên Buồn tàn thu, được sáng tác năm ông 16 tuổi. Ca khúc cuối cùng là Mùa xuân đầu tiên khép lại sự nghiệp sáng tác âm nhạc lẫy lừng của ông trên cả hai mảng tình ca và hùng ca.

Trong những sáng tác đầu tiên, nhạc của Văn Cao đậm chất lãng mạn của con người phương Đông với Suối mơ, Thu cô liêu, Cung đàn xưa, Bến xuân, Thiên thai, Trương Chi.

Nét thơ mộng trong ca từ hòa quyện với giai điệu du dương, bay bổng giúp cho âm nhạc của Văn Cao trở nên sang trọng khó ai bì kịp. Ca khúc Thiên thai từng được sử dụng làm nhạc nền cho bộ phim nổi tiếng Người Mỹ trầm lặng.

HÌNH 1 Với mảng hùng ca, Văn Cao được tôn vinh là cha đẻ của hùng ca và trường ca của Việt Nam. Ngoài bài hát nổi tiếng Tiến quân ca được chọn làm quốc ca của nước Việt Nam, người nhạc sĩ tài hoa này còn có một số sáng tác trường tồn theo năm tháng như: Ngày mùa, Tiến về Hà Nội, Trường ca sông Lô, Thăng Long hành khúc ca, Làng tôi, Ca ngợi Hồ chủ tịch… Những ca khúc này đã trở thành những bài hát đỉnh cao của nhạc kháng chiến.

70 năm còn đó lời hiệu triệu non sông

Tháng 10-2015 này, ca khúc "Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao tròn 70 tuổi. 70 năm đồng hành cùng non sông, có mặt trong tất cả các sự kiện lịch sử trọng đại, in hằn trong lòng người dân Việt Nam, vì lẽ đó "Tiến quân ca” cũng chính là một "báu vật tinh thần” của toàn dân tộc.

21 Tuổi và Nhiệm Vụ Bất Ngờ  

Khi nói về "Tiến quân ca”, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã không giấu nổi niềm xúc động lẫn sự tự hào. Ông nói: "Có thể khẳng định, Quốc ca đã trở thành một phần giá trị tinh thần song hành cùng lịch sử dân tộc gần 70 năm qua. Quốc ca là quốc hồn, quốc túy, là tinh thần dân tộc được kết tinh qua giai điệu, lời ca. Âm nhạc ấy, được bao thế hệ người dân Việt Nam hát vang đầy tự hào, đặc biệt là chiến sĩ đồng bào đã đi qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, từng hát, từng nâng niu trân trọng như một vật báu của dân tộc”.  

Tuy nhiên, ít người biết, khi sáng tác ca khúc này vào tháng 10-1944 Văn Cao mới bước vào tuổi 21. Đó là phút giây lóe sáng, thể hiện tài năng đích thực của Văn Cao, nhất là trong bối cảnh đất nước hồi ấy còn vô vàn khó khăn.   

Bây giờ, khi "Tiến quân ca” tròn 70 tuổi và đã 19 năm nay nhạc sĩ Văn Cao mãi mãi đi xa, thì những ký ức về Văn Cao cùng bản hùng ca bất tử này vẫn còn tươi nguyên trong trí nhớ của những người thân. 

  Theo nhà thơ Nghiêm Bằng - con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao thì sinh thời, mỗi khi bài "Tiến quân ca” vang lên, Văn Cao thường nghĩ đến người bạn, người anh và cũng là người lãnh đạo đầu tiên, trực tiếp giác ngộ ông vào Việt Minh hồi năm 1944 tại Hà Nội. Người đó là Vũ Quý (còn gọi là Quý đen) - một huấn luyện viên bơi lội, xưa từng huấn luyện ông trong hoạt động thể thao tại Hải Phòng, lúc anh đang là lãnh đạo (cùng với các vị Lê Quang Đạo, Nguyễn Văn Trân…) trong Ban cán sự thành phố Hà Nội (nay gọi là Thành ủy). Vũ Quý đã không giao bất kỳ khẩu súng nào cho Văn Cao hoạt động, lại chính thức giao nhiệm vụ cho ông sáng tác ngay một bài hát để hát trong ngày ra đời sắp tới của một đội quân vũ trang khóa quân chính kháng Nhật trên chiến khu Trần Hưng Đạo tại Việt Bắc. Chính đồng chí Vũ Qúy đã khuyến khích Văn Cao viết những ca khúc yêu nước trước đó như: "Đống Đa”, "Thăng Long hành khúc”, "Tiếng rừng”…  

Tháng 9-1944, nhạc sĩ Văn Cao nhận lời Vũ Quý và ngay hôm đó chính thức gia nhập Việt Minh, bắt tay vào việc sáng tác ngay một bài hát với thể loại hành khúc của một đội quân, khác với những ca khúc trữ tình ông thường quen sáng tác mỗi khi có xúc cảm trong tâm hồn.  

Nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị

 Ở Hà Nội mỗi khi từ phố Nguyễn Thượng Hiền rẽ vào Yết Kiêu, tôi thường nhớ tới cái dáng hao gầy của Văn Cao. Vào đầu những năm 80 - 90 của thế kỷ trước, nhiều lần tôi đã nhìn thấy đôi mắt xa xăm của ông dõi nhìn dòng xe xuôi ngược. Trong căn phòng ở số 108 phố Yết Kiêu, khuôn mặt hơi buồn, Văn Cao trầm ngâm nhấc li rượu, ít nói và cũng ít cười cho dù những bài hát của ông đã được công chúng trong và ngoài nước yêu thích. Đặc biệt, hành khúc "Tiến quân ca” đã trở nên thân thuộc với mọi tầng lớp dân chúng.

 Gần 20 năm Văn Cao đi xa, nhưng góc phố này vẫn như hằn in dấu chân ông. Căn gác 171 phố Mongrant xưa (nay là phố Nguyễn Thượng Hiền) đã không còn. Nhưng đọc lại hồi ký "Tại sao tôi viết Tiến quân ca” của Văn Cao vẫn cho ta cảm giác sống động vô cùng, ông viết: "Tin từ Nam Định lên, cho biết mẹ tôi và các em tôi đang đói. Họ đang tìm mọi cách để sống qua ngày, như mọi người đang chờ đợi một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến. Tiếng kêu cứu của mẹ tôi, các em, các cháu tôi vọng cả căn gác, cả giấc ngủ chiều hôm. Tất cả đang chờ đợi tôi tìm cách giúp đỡ. Tôi chưa được cầm một khẩu súng, chưa được gia nhập đội vũ trang nào. Tôi chỉ đang làm một bài hát. Tôi chưa được biết chiến khu, chỉ biết những con đường phố Ga, đường Hàng Bông, đường Bờ Hồ theo thói quen tôi đi. Tôi chưa được gặp các chiến sĩ cách mạng của chúng ta, trong khóa quân chính đầu tiên ấy, và biết họ hát như thế nào. Ở đây đang nghĩ cách viết một bài hát thật giản dị, cho họ có thể hát được”.

 Cứ miên man như thế, một giai điệu trong ông bỗng dâng trào và hòa quyện cùng lời ca như bật ra: "Đoàn quân Việt Minh đi/ Chung lòng cứu quốc/ Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa…”. Và ngọn cờ đỏ sao vàng bay giữa màu xanh của núi rừng. Nhịp điệu ngân dài của bài hát, mở đầu cho một tiếng cồng vang vọng: "Đoàn quân Việt Minh đi/ Sao vàng phấp phới/ Dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than…”. Để kết thúc cùng với tiếng thét ở đoạn cao trào, mang dấu ấn từ "Thăng Long hành khúc ca”, một bài ca yêu nước ông đã từng sáng tác trước đó, ông tiếp tục: "Tiến lên! Cùng thét lên!/ Chí trai là nơi đây ước nguyền!” (…) "Và bài hát đã xong. Tôi nhớ lại nụ cười hài lòng của đồng chí Vũ Quý. Da mặt anh đen sạm. Đôi mắt và nụ cười của anh lấp lánh”- Văn Cao viết trong nhật ký của mình. Đó là vào một ngày cuối tháng 10-1944.  

Bản hùng ca "hay nhất Việt Nam”

  -Đến Quốc hội khóa I năm 1946, "Tiến quân ca” đã chính thức trở thành Quốc ca của nước Việt Nam cho đến ngày hôm nay.

 -Sinh thời, nhạc sĩ Phạm Duy đánh giá "Tiến quân ca” là một trong những bài hùng ca hay nhất của tân nhạc Việt. Ông khẳng định rằng Văn Cao "là người đẻ ra loại hùng ca Việt Nam” dù loại nhạc này đã được Thẩm Oánh, Hoàng Quý hay Lưu Hữu Phước có công khai phá, nhưng thật là "Việt Nam” thì phải là Văn Cao với các tác phẩm như "Tiến quân ca”, "Chiến sĩ Việt Nam” và "Bắc Sơn”.  

-Tuy vậy, để bản "Tiến quân ca” trở thành Quốc ca vang lên như ngày nay thì năm 1955, Quốc hội đã mời nhạc sĩ Văn Cao tham gia sửa chữa một số chỗ về phần lời. Theo đó, câu "Thề phanh thây uống máu quân thù!” dù rất đúng với hoàn cảnh lúc đó có tới 2 triệu người chết đói nhưng chính Văn Cao cũng thống nhất sửa lại là: "Vì nhân dân chiến đấu không ngừng!”. Sau này, có một vài câu bị sửa khiến nhạc sĩ Văn Cao không được ưng ý lắm. Nhưng đúng như tâm niệm của Văn Cao lúc cuối đời, "dù sao Tiến quân ca cũng chẳng phải là của riêng tôi, nó đã là của một dân tộc Việt Nam độc lập kể từ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đến nay”.   

70 năm đã qua đi, giai điệu "Tiến quân ca” vẫn vang lên cùng lịch sử dân tộc. Và vẫn còn tiếp tục ngân rung trong trái tim người Việt, dân tộc Việt Nam, là lời hiệu triệu non sông vững bền.

  Mùa Xuân đầu tiên' - điệu valse da diết ngày đoàn tụ

Một mùa Xuân nữa lại về, mùa Xuân thứ 40 của đất nước Việt Nam thống nhất. Bỗng dưng ngân lên tiếng hát Mùa Xuân đầu tiên của cố nhạc sĩ Văn Cao. Bao giờ cũng thế, điệu valse nhẹ nhàng, da diết này làm lòng ta yên tĩnh, ấm áp lạ thường. Và những kỷ niệm về cố nhạc sĩ Văn Cao trong căn gác ở số 108 Yết Kiêu, Hà Nội lại hiện về trong tôi...

   Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về
         Mùa bình thường mùa vui nay đã về
         Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên...

Có những bản hùng ca được viết vào những ngày Đại thắng mùa Xuân 1975. Đó là những bài ca hùng tráng, reo vui. Tâm trạng chung của cả đất nước lúc ấy là hân hoan, là rộn ràng... Nhưng có lẽ Mùa xuân đầu tiên đến với đất nước mình trong niềm vui quá lớn khiến Văn Cao lắng lại, để cất lên nỗi khát vọng, niềm mơ ước cháy lòng sau 21 năm đất nước bị chia cắt... 21 năm ấy, biết bao nhiêu cuộc đời dang dở, bao lứa đôi chịu xa cách chia ly... Hiền Lương - Bến Hải như lưỡi dao chém ngang khúc ruột Tổ quốc.

Để có ngày đoàn tụ, cả dân tộc đã lên đường, bước vào cuộc trường chinh vĩ đại và khoảng thời gian hai thập kỷ ấy có không biết bao nhiêu mất mát hy sinh... Và ngày toàn thắng đã đến. Niềm vui và nỗi đau ùa về, khiến lòng ta bâng khuâng...

Còn nhớ mùa Đông năm 1992 tôi đến thăm nhạc sĩ Văn Cao tại số nhà 108 phố Yết Kiêu. Cho đến lúc ấy, bài hát Mùa Xuân đầu tiên vẫn chưa được hát rộng rãi. Bên chén rượu trắng, dáng gầy gò nhưng đôi mắt thì rất sáng, Văn Cao kể: Tôi nghe Trịnh Công Sơn kể rằng bên Mỹ người ta đã tấu Thiên thai của tôi trước khi bay vào vũ trụ. Âm nhạc với tôi, tôi coi là lẽ sống, nhưng 20 năm không viết được gì. Có mấy bản thì thấy... bình thường vì vậy tôi chưa muốn công bố. Duy chỉ bài Mùa Xuân đầu tiên tôi viết vào lúc lòng quá xúc động trước một mùa Xuân kỳ diệu nhất đối với dân tộc.

Đó là khúc hoan ca mừng ngày Bắc Nam sum họp. Cho người thân về với người thân... Với tâm trạng đó tôi viết bài hát này bằng một điệu thức âm hưởng valse nhẹ nhàng, thiết tha, tình cảm. Chính vì thế mà bản nhạc chưa được đón nhận vào thời điểm ấy. Mọi người đang reo ca đang tưng bừng chào đón ngày mới về trên Tổ quốc, còn điệu valse xướng lên lúc ấy cỏ vẻ... nhẹ nhàng quá!

   Rồi dặt dìu mùa Xuân theo én về
         Mùa bình thường mùa vui nay đã về
         Mùa Xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên...

Nào ngờ, như ông nói, Mùa Xuân đầu tiên có số phận thật đặc biệt. Nó lưu lạc không biết bằng con đường nào sang tận nước Nga xa xôi, được xuất bản ở đó, trước khi được cất lên, được phổ biến tại Việt Nam rất lâu. Nhà văn Triệu Bôn từng kể người cháu của mình thời làm ăn ở Nga vẫn thường nghe Mùa Xuân đầu tiên. Chàng trai ấy bảo, nghe nhạc Văn Cao bởi: “... thấy lòng mình sạch sẽ trở lại, thấy quê hương đất nước như ở bên mình...”

Gặp Ánh Tuyết trước đêm nhạc Văn Cao tại Hà Nội năm trước, ca sĩ kể: “Từ năm 1983, khi đêm nhạc đầu tiên của Văn Cao được tổ chức tại TP.HCM, bản Mùa Xuân đầu tiên vẫn chưa được hát. Sau đó khoảng năm 1990 gì đó, có ca sĩ Thanh Thúy và vài người hát nhưng chưa được đón nhận rộng rãi... Chỉ sau khi tác giả qua đời, năm 1995, Mùa Xuân đầu tiên mới được cất lên khắp nơi. Phải chăng những tác phẩm nghệ thuật lớn thường có số phận lạ kỳ như vậy?!

Mùa Xuân năm 1995 là mùa xuân cuối cùng của tác giả Mùa Xuân đầu tiên. Lúc tôi lại thăm, thấy ông mệt nhiều và đến tháng Bảy thì ông về Thiên Thai. Ngày ông mất, tôi viếng ông bằng mấy câu thơ nhỏ: Ông ngồi đó như nốt lặng/ Rượu ngày đôi chén đầy vơi/ Nghĩ về sự sống cái chết (*) /Tóc râu ông trắng mây trời. Thi hài ông quàn tại Ngôi nhà Văn nghệ Việt Nam số 51 Trần Hưng Đạo - Hà Nội. Hoa nở trong thành phố dịp đó không đủ để mọi người mang đến viếng người nhạc sĩ tài danh. Vậy mà đã gần 20 năm...

Văn Cao đã đặt giữa cuộc đời một điệu valse nhẹ nhàng, tình cảm... Nhưng thời ấy đất nước bộn bề, đời sống còn bao điều phải lo, phải làm, vì vậy mấy ai bình tâm đón nhận sự lắng sâu thánh thiện của tâm hồn tác giả qua một khúc hát gợi bâng khuâng ngày hòa bình... Ông đã có tâm cảm xa hơn, khi chạm đến những xót xa, thấm thía của một dân tộc bước qua đau thương, mất mát.

Mùa én về báo hiệu một không gian thanh bình, nhưng cái hình ảnh khói bay trên sông, gà gáy trưa bên sông làm mùa Xuân có gì man mác... Và trong giờ phút lịch sử ấy thấy có gì đó bâng khuâng rạo rực trong lòng: “Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”...

Về sự ra đời của nhạc phẩm Mùa Xuân đầu tiên, anh Văn Thao - con trai nhạc sĩ - kể: “Lúc tôi trở về nhà, vừa lên mấy bậc thang bỗng sững sờ với tiếng đàn dương cầm vọng ra từ căn gác nhỏ số 108 Yết Kiêu. Đó là một điệu valse mượt mà, dìu dặt. Văn Cao ngồi bên đàn dương cầm. Đôi bàn tay khô gầy của ông đang lướt trên những phím. Tiếng đàn ấm áp, ngọt ngào như không muốn xao động căn phòng.

Sau 20 năm Văn Cao làm “nốt lặng” giữa cuộc đời... “Cha viết bài nầy mừng đất nước thống nhất, nhân dân mình đoàn tụ” - ông nhẹ nhàng cất lời với tôi. Cha tôi viết bản nhạc ấy trong tâm thức an vui sau ngày đất nước thôi chinh chiến 30 năm máu lửa, khi đất nước hòa bình, Tổ quốc sum họp. Trước đó, báo Sài Gòn Giải phóng cho người đến đặt ông bản nhạc mừng hòa bình và cuộc gặp gỡ ấy đã cho ta tuyệt tác Mùa Xuân đầu tiên...”

Nhà thơ Thanh Thảo viết: “Cả một dòng sông vui, nhưng không trào cuộn ào ào, mà như lắng lại, nghe kỹ thấy những lượn sóng đang run run, những lượn sóng như nhắn nhủ cái gì, như báo trước một điều gì”. Thời gian đã trả lại giá trị cho nhiều tác phẩm, trong đó có Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao. Và hôm nay giai điệu dìu dặt theo đàn chim én bay trong bài hát vẫn làm ấm lòng người khi Xuân về. Có những giai điệu đẹp đến mơ hồ. Điệu valse sang trọng, nhẹ nhàng như hơi thở mùa Xuân, nhưng ta cảm được bên trong sự tươi vui ấy chứa đầy bâng khuâng, thương nhớ da diết:

   Từ đây người biết quê người
         Từ đây người biết thương người
         Từ đây người biết yêu người

Bâng khuâng và rạo rực lắm, lòng người Việt trước mùa Xuân đầu tiên. Bây giờ thì giai điệu ấy đang làm xao xuyến lòng ta... Ôi khúc ca của hòa bình và đoàn tụ. Văn Cao đã đi xa 20 năm và tôi tin khúc hoan ca ấy, cũng như những tuyệt khúc khác của ông mãi ở lại với người Việt...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 19.7.2015.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004