Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Triết gia Trần Đức Thảo





T rần Đức Thảo, con một viên chức bưu điện, sinh ngày 26/9/1917, mất ngày 24/4/1993 tại Paris, quê quán tại làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Ông là học sinh xuất sắc của trường trung học Pháp Albert Sarraut (Hà Nội): giải nhì cuộc thi triết học các trường trung học toàn quốc Pháp, đỗ tú tài Pháp năm 1935..

Năm   1936 , ông được nhận học bổng của Phủ toàn quyền Đông Dương sang  Paris ,   Pháp , và thi đậu vào trường  École normale supérieure (Paris)  năm 1939. Ông đậu thủ khoa đồng hạng bằng   Thạc sĩ  triết học, ngang điểm với  Jules Vuillemin) tại Pháp lúc mới 26 tuổi (1942), thành người Việt Nam đầu tiên trúng tuyển kỳ thi thạc sĩ triết học.

Thay mặt sinh viên và trí thức Việt Nam du học ở Pháp, Trần Đức Thảo đã viết thư gửi về Tổ quốc, bày tỏ tình yêu nước nồng nàn đối với đất nước vừa giành được độc lập hồi tháng 8 năm 1945. Lá thư được in trên tờ  Cờ giải phóng, cơ quan của  Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1952 ông về chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp.
      Sau 1954 từ Việt Bắc về Hà Nội, Giáo sư Trần Đức Thảo kết hôn với Tiến sỹ Nguyễn Thị Nhứt, đến ngày 5 tháng 1 năm 1967, theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Nhứt hai ông bà đã thuận tình ly hôn
      Năm
  1955 , ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc   Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa  Lịch sử,   Đại học Tổng hợp Hà Nội  (nay là  Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  thuộc   Đại học Quốc gia Hà Nội).
Ông bị quy tội dính líu đến
  phong trào Nhân văn Giai phẩm  khi công bố hai bài báo có bàn đến một số vấn đề về tự do, dân chủ. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, bị mất chức Phó Giám đốc trường ĐHSP Hà Nội, chức Trưởng khoa Lịch sử chung cho cả ĐHSP và ĐHTH Hà Nội, Trần Ðức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để ăn. Ông bị chặt đứt mọi liên hệ với thế giới, bị cô lập ngay giữa đồng bào của mình.
      Thái Vũ kể: "việc gặp thầy Trần Đức Thảo từ nước Pháp tư bản trở về là rất dễ bị quy tội như bên Trung Quốc trong Đại Cách mạng Văn hoá. Gặp thầy lủi thủi đạp chiếc xe đạp mini cộc cạch cũng đành làm ngơ, nhiều khi không dám nhìn."
      Trong quyển sách hồi ký nguyên văn bằng tiếng Pháp là Mémoire d'un Vietcong (Hồi ký của một Việt Cộng),
  Trương Như Tảng  có nhắc tới thạc sĩ Trần Đức Thảo (tr.300):
      " Ông không bị tù hay hành hạ thân xác, nhưng công an bao vây, cô lập ông không cho ai tiếp xúc…Nếu ông Thảo tiếp xúc với ai, chẳng hạn một người bạn trên đường phố, thì người đó sẽ bị bắt giữ để điều tra. Bề ngoài xem ra triết gia sống cuộc đời bình thường. Nhưng thực tế ông sống như Robinson Crusoe, hoàn toàn cô độc, mặc dầu có nhiều người ở xung quanh. Ngay họ hàng thân thích cũng không được phép nói chuyện với ông. Đối với một trí thức như vậy là một sự tra tấn dã man."
      Françoise Corrèze, người bạn thân của Trần Đức Thảo có hay tới thăm ông ở căn phòng khu tập thể Kim Liên, nhưng chỉ bút đàm, vì phòng bị thu âm
      Năm 1985, sau khi đi Cộng hòa dân chủ Đức vừa chữa bệnh, vừa làm việc với Viện hàn lâm khoa học của CHDC Đức, ông có sang làm việc với Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.
      Năm 1991, ông sang Pháp chữa bệnh kết hợp với "nghiên cứu khoa học, do Ban bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cử" (theo TS.
  Cù Huy Chử) và mất tại  Paris vào năm sau. Theo những anh chị em có dịp tiếp cận, Trần Đức Thảo cho biết ông được tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Ban bí thư cử sang Pháp để "giải độc trí thức Việt Kiều" khỏi những ảnh hưởng xấu.  Di hài ông được nhà nước đưa về an táng tại Khu A  Nghĩa trang Văn Điển,   Hà Nội.

. Năm   2000 , ông được  nhà nước Việt Nam  truy tặng  Giải thưởng Hồ Chí Minh  về   khoa học xã hội.

. Nhận xét của giáo sư  Nguyễn Lân  trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm

Sở dĩ có những lệch lạc ở một số sinh viên khoa Văn và khoa Sử là vì họ đã chịu cái ảnh hưởng tàn khốc của Trương Tửu và Trần Đức Thảo... Nhà trường đòi hỏi các cán bộ giảng dạy trước khi lên lớp phải soạn giáo trình và giáo án; nhưng Tửu và Thảo thì không chịu viết giáo trình, lấy cớ là môn mình phụ trách khó quá chưa thể cho in thành tài liệu được. Sự thực là họ sợ mực đen giấy trắng dễ biểu lộ những tư tưởng phản động của họ. Họ thường tay không lên lớp rồi nói lung tung, không theo một phương pháp sư phạm nào. Vì không có giáo án nên đã có lần Trương Tửu không chuẩn bị, phải nhai lại một bài đã giảng kỳ trước, làm cho sinh viên hết sức công phẫn...

... Nhưng Trương Tửu và Trần Đức Thảo thì ngược lại, chỉ âm mưu dùng cái diễn đàn của trường đại học để đả kích chế độ, đả kích Đảng và xuyên tạc chân lý. Thí dụ: Tửu đã say sưa giảng về Vũ Trọng Phụng để chứng minh rằng Vũ Trọng Phụng sáng suốt hơn Đảng. Còn Thảo thì trong hai năm dạy lịch sử tư tưởng chỉ cố ý dừng lại ở Hê-ghen, không hề giảng đến Mác, Thảo luôn luôn dùng cái "hạt nhân duy lý" để xóa nhòa ranh giới giữa duy vật và duy tâm, xóa nhòa ranh giới giữa ta và địch. Quả là Tửu và Thảo đã dụng tâm làm tan rã lòng tin tưởng của sinh viên vào Đảng, vào chế độ.

Giáo sư  Trần Văn Giàu  cho rằng, ở Việt Nam bản thân mình và các đồng nghiệp khác cũng chỉ là những người nghiên cứu và giảng dạy triết học, người duy nhất được coi là nhà triết học, chỉ có Trần Đức Thảo mà thôi.

Bùi Nam Sơn   nhận xét: "Đó là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học và cho thấy người Việt mình cũng có thể tiếp cận rất gần với triết học thế giới. Đi cụ thể vào tư tưởng, thành tựu của Trần Đức Thảo thì khác. Có lẽ do bối cảnh đặc thù, không có điều kiện tiếp thu với bên ngoài cộng hưởng nhiều yếu tố dị biệt của thời cuộc đã khiến cho Trần Đức Thảo không còn thấy những chân trời của cụ. Cụ không còn mở cửa đối thoại mà tự giao cho mình trách nhiệm phòng vệ: bảo vệ cái có sẵn, cái gì xa lạ là bác bỏ thay vì tiếp thu cái mới để có thể phê phán hay không đồng ý nhưng sẽ phát triển. Mà điều này không đúng với tinh thần của một triết gia. Triết gia là phải tranh luận để tiếp tục, để mở thêm những chân trời chứ không phải để khép lại các chân trời. Không ai dám phủ nhận chất lượng triết học của bản thân Trần Đức Thảo, nhưng đáng tiếc, có thể nói Trần Đức Thảo là tù nhân của bản thân.

Các tác phẩm

  • Phương pháp hiện tượng học của   Husserl   (1942), tiếng Pháp

  • Phénoménologie et matérialisme dialectique (Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng). Minh Tâm. Paris 1951.

  • TRIẾT-LÝ ĐÃ ĐI ĐẾN ĐÂU? NXB Minh Tân - Paris xuất bản năm 1950

  • Khuyến khích tinh thần tự do dân chủ (1955)

  • Nội dung xã hội và những hình thức của tự do (1956).

  • Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức, tiếng Pháp, NXB Xã hội của Pháp, năm 1973.

  • Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người (1988).

  • Logic của cái hiện tại sống động (La logique du présent vivant)(chưa hoàn thiện).

  • Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.

  • Sự hình thành con người, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.

  • Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối, Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2014: Nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh viết lại những gì họ đã thâu băng những câu hỏi của họ và những câu trả lời của ông trong 6 tháng cuối cùng khi ông sống ở Pháp. Nó ghi những suy nghĩ chân thực của ông về 40 năm từ khi ông tình nguyện trở về Việt Nam.

    Theo BKTT mở Wikipidia


    *Triết gia dám nói lên sự thật


    TPCN - Theo đánh giá của Trần Văn Giàu, Việt Nam không có truyền thống triết học? Nếu có một nhà triết học (chuyên nghiệp) thì đó là Trần Đức Thảo.

    Giữa những năm 1980, một sinh viên Việt Nam đang học Toán sang Tiệp được phân công học Triết. Ông giáo sư Tiệp dạy Lịch sử Triết nói với cậu ta: “Mày sang chúng tao học Triết làm gì? Sao không ở nhà học ông Tran. Mỹ, Italia, Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật Bản… đều có sách dịch của ông ấy cả. Cần tiếng nước nào, tao cho mượn. Họ tên đầy đủ của ông ấy là thế này đây…”.

    Ba chữ trên mẩu giấy mà chàng SV nhận được là Trần Đức Thảo. Phạm Thành Hưng kể lại chuyện này trong cuốn Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo (NXB…) do ông chủ biên.

    Việt Nam không có truyền thống triết học? Nếu có một nhà triết học (chuyên nghiệp) thì đó là Trần Đức Thảo - đánh giá của Trần Văn Giàu.

    Đỗ Lai Thúy thì nhìn thấy ở Trần Đức Thảo “một năng lực tư biện cao - điều hiếm ở Việt Nam”, nhưng vẫn chưa coi ông là triết gia - “người sáng lập những triết thuyết”(?).

    Người thì bảo ông “đấu tranh không khoan nhượng chống lại thuyết phân tâm”, người lại khẳng định Trần Đức Thảo “không phải người anti - Freud”.

    Những nhận định có vẻ đối lập nhau có thể được tìm thấy trong phần I của cuốn Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo, tập hợp các bài viết trong và ngoài nước về Trần Đức Thảo, trong đó có loạt bài được viết ngay khi ông mất tại Paris (ngày 24/4/1993), một số bài khác được viết vào thời điểm 7 năm sau- ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh.

    Người Việt Nam du học Pháp thuở ấy, không mấy người vào được trường d’Ulm (trường Sư phạm phố d’Ulm),” - Nguyễn Đình Chú kể. Người đầu tiên vào học được và tốt nghiệp đứng thứ 35/36 đã được báo chí trong nước ca ngợi là “bậc anh tài kiệt xuất”.

    Còn Trần Đức Thảo tốt nghiệp d’Ulm đứng thứ nhất, nhưng vì là dân thuộc địa nên Pháp chỉ coi là “đồng nhất”. Sự kiện Trần Đức Thảo kết thúc cuộc tranh luận với nhà hiện sinh Jean-Paul Sartre trên thế thắng đã đi vào huyền thoại trong nhiều thế hệ trí thức Việt Nam.

    Trần Đức Thảo đã biến đổi Sartre cả trong hành động: “Năm 1952, Jean-Paul Sartre đã quyết định cống hiến tích cực cho phong trào vì hòa bình. Có thể những trao đổi về quan điểm trước đây vào mùa đông 1949-1950 đã góp phần vào sự tiến bộ của ông ta theo hướng hợp tác với những người cộng sản”. (trích Tiểu sử tự thuật). Một sự kiện hay được nhắc đến trong đời Trần Đức Thảo là việc ông bị Pháp bỏ tù từ tháng 10-12/1945, tội “mưu hại an ninh nước Pháp”.

    Bước ngoặt lớn trong đời Trần Đức Thảo là việc ông rời bỏ sự nghiệp ở châu Âu để quay về Việt Nam để - như ông nói - “gắn cuộc sống với triết học”.

    Theo Nguyễn Văn Độ: “Nhân chuyến Bác Hồ thăm nước Pháp (1946), giáo sư (Trần Đức Thảo) đã báo cáo với Bác về tình hình Việt kiều ở Pháp và bày tỏ nguyện vọng về nước tham gia cách mạng”.

    Còn theo Trần Ngọc Hà, mọi chuyện xảy ra như sau: “Sau khi ở tù ra, đầu 1946, Trần Đức Thảo đến gặp Emille Bréhier - là giáo sư hướng dẫn luận án tiến sĩ cho mình. Vị giáo sư cúi gằm mặt, vung tay chỉ ra cửa và thét: Nếu ông không yêu nước Pháp thì ông đi đi, về nước của ông!…

    Sau Hội nghị Fontainebleau, Bác Hồ đã tìm gặp và đề nghị Trần Đức Thảo về nước phục vụ cách mạng và ông cũng đã hứa với Bác sẽ về sau, khi làm xong luận án tiến sĩ”.

    Trong cuốn  Một chặng đường  (Paris - 1992), Trần Đức Thảo  viết: “Phần hai của Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng (1951) đã dẫn tôi tới một ngõ cụt, và lúc đó tôi hy vọng tìm ra giải pháp trong cách mạng Việt Nam”.

    Cuối 1951, dùng nhuận bút công trình vừa xuất bản, Trần Đức Thảo tìm về đất mẹ theo con đường Paris - London - Praha - Moskva - Bắc Kinh - Tân Trào. Việc đầu tiên ông được phân công: nghiên cứu tại 2 xưởng công nghiệp của Việt Bắc. Sau đó: điều tra tình hình trường học ở Việt Bắc, tham gia chỉnh huấn cải cách ruộng đất ở Phú Thọ, ủy viên Ban Văn - Sử - Địa, giảng dạy Lịch sử Triết học…

    Thầy đến lớp thường xuyên chỉ với một bộ quần áo kaki xanh thẫm Trung Quốc. Trong tay không nửa trang giáo án. Chỉ đút tay túi quần mà nói. Nói lúng búng vô cùng… nhưng không hiểu sao vẫn tạo ra một thứ ma lực làm say mê toàn thể chúng tôi…”.

    Theo Nguyễn Đình Chú, không chỉ SV Văn mà cả SV Y Dược, giáo viên cấp III hay giáo sư ĐH hàng đầu cũng tới nghe bài giảng của Trần Đức Thảo. “Đúng là có một không khí sùng bái môn Triết của GS Trần Đức Thảo”.

    Năm 1956, hai bài báo của Nội dung xã hội và hình thức tự do và Nỗ lực phát triển tự do dân chủ của Trần Đức Thảo trên 2 tờ Nhân văn và Giai phẩm mùa Đông đã khiến ông phải ra khỏi biên chế Nhà nước. Nhà triết học có thời gian đi lao động ở Tuyên Quang hay chăn bò ở nông trường Ba Vì, coi như để “cải tạo tư tưởng”.

    Theo nhà văn Tô Hoài trong hồi ký Chiều chiều thì đàn bò “móp bụng” của Trần Đức Thảo cũng bị hổ vồ, trộm bắt mất vài con… Từ 1958, ông được tạo điều kiện ngồi ở HN nghiên cứu và gửi bài cho các tạp chí và NXB ở Pháp.

    Năm 1988, tác phẩm của Trần Đức Thảo lần đầu tiên xuất bản trong nước*

    . Năm 1992, theo Trường Giang, ông xin phép và được Trung ương chấp nhận sang Paris chữa bệnh gan và lấy tư liệu viết Logic của hiện tại sống động.

    Tại Paris, ông sống trong căn phòng nhỏ trên tầng 5 nhà khách Đại sứ quán Việt Nam. Nguyễn Đức Hiền tả: “Một ông già ở độ tuổi cổ lai hy khoác chiếc áo dạ cũ màu tím dài chấm gót, bưng bê lỉnh kỉnh đủ thứ xoong, chảo, chai, lọ leo lên leo xuống hàng trăm bậc thang gác, tự lo lấy bữa ăn cho mình… Ông già ấy cứ hành trình chừng mười lăm bậc thì dừng lại, tựa người vào hành lang đứng nhắm mắt há miệng thở như thổi bễ”.

    Hoàng Ngọc Hiến, người đã phê phán Trần Đức Thảo gay gắt hồi 1958 kể lại một câu chuyện cảm động - không liên quan đến chính trị hay triết học. Đỗ Chu kể về một người “không biết đến chiến tranh”, người được các cô mậu dịch viên ưu tiên (bán bánh mì).

    Phùng Quán trào lộng về cuộc phiêu lưu cuối cùng của triết gia dưới dạng… bình tro. Người vợ và từng là học trò nhà triết học cũng lên tiếng…Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo cho bạn đọc những nét cơ bản về sự nghiệp, tư tưởng và cuộc đời của nhà triết học.

    Phần hai của cuốn sách in lại tiểu sử tự thuật, cắt nghĩa của nhà triết học về Nội dung xã hội Truyện Kiều và 2 bài báo đem lại “vận rủi” cho ông… Tuy nhiên, tất cả chắc cũng chỉ mới là “phần nổi của tảng băng”.

    Đây là một con người siêu việt nhưng cũng có cái gì đó không bình thường”- Nguyễn Đình Chú nhấn mạnh và khẳng định: Trần Đức Thảo “cần được khám phá, phát hiện thêm”. Mong rằng một ngày không xa, sẽ có những công trình hệ thống, đầy đủ và đồng nhất hơn về Trần Đức Thảo.

    (*) Là cuốn Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận không có con người- NXB TP. HCM. Sách của Trần Đức Thảo xuất bản trong nước còn có 2 cuốn Hiện tượng học và chủ nghĩa duy vật biện chứng và Sự hình thành con người- NXB ĐHQG, 2004.

    Theo Nguyễn Mạnh Hà



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 12.7.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004