Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





XUẤT GIA và TẠI GIA





kết


C ho nên chúng ta cần hiểu cho đúng, đừng như người “Y NGỮ” mang vàng, bạc, châu báu đến Chùa để cúng!. Rõ ràng Kinh dạy là: CÚNG DƯỜNG CHO PHẬT. Đâu có nói Cúng cho Chùa hay là cúng cho tượng Phật? Mỗi từ có một ý nghĩa riêng, hoàn toàn khác nhau. Đừng hiểu lầm rồi cho là Phật mà còn tham lam, dựng ra Đạo rồi dạy cho bá tánh mang vàng bạc đến cúng để thụ hưởng, nên chả trách Phật Quốc đầy dẫy vàng bạc, châu báu! Đó là “Y Kinh giải nghĩa tam thế Phật oan”! Chúng ta đừng quên rằng Phật đã nhập diệt từ mấy ngàn năm rồi. Có cúng cho Ngài thì Ngài cũng đâu có nhận được!

Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA viết rất rõ:

Lại thấy những Trời, Người

Rồng, thần, chúng Dạ Xoa

Càn thát, Khẩn na la

Đều cúng dường Phật mình” (Phẩm Tựa).

CÚNG DƯỜNG cũng Cúng Dường cho PHẬT MÌNH. BỒ TÁT cũng nói pháp tại NƯỚC MÌNH:

Lại thấy các Bồ Tát

Rõ pháp tướng tịch diệt

Đều ở tại NƯỚC MÌNH

Nói pháp cầu Phật Đạo

NƯỚC MÌNH không phải là Nước Việt Nam so với nước Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ vv... mà đó là ĐẤT TÂM. Vì Chúng Sinh, Bồ Tát, rồng, cá trạch, thần, Dạ Xoa, Càn Thát… là để nói về những tư tưởng còn nhiễm những đố kỵ, ghen hờn, giận ghét, Tham, Sân, Si vv... Do vậy mà PHẨM TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT, diễn tả: Khi Đức Phật thuyết pháp thì có những vị Đại Bồ Tát ở phương khác trong đại chúng đứng dậy bạch Phật xin cho họ được rộng nói Kinh thì Phật bảo: “Thôi đi chẳng cần các ông hộ trì Kinh này, vì cõi Ta Bà của ta tự có chúng Đại Bồ Tát số đông như số cát của sông Hằng. Mỗi vị Bồ Tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những người đó có thể sau khi ta diệt độ hộ trì đọc tụng rộng nói Kinh này”. Cõi Ta Bà của Phật là Cái Tâm của Ngài. Sáu Muôn hàng sa quyến thuộc đó là Lục Đạo chúng sinh trong Tâm của mỗi người, mà người tu được dạy phải làm LỤC ĐỘ để “Độ” cho chúng. Thời xưa, con người còn đi bộ, Đạo Phật chưa phát triển được ra nước ngoài thì làm gì có Bồ Tát Bản Địa, Bồ Tát nước khác? Họ làm gì biết đến Đạo Phật mà đi tới nơi Phật giảng để tham dự được?

Lúc Phật nói lời đó, cõi Ta Bà trong Tam Thiên Đại Thiên cõi đất đều rúng nứt, mà ở trong đó có vô lượng nghìn muôn ức vị Đại Bồ Tát đồng thời vọt ra. Tức là nói về BỒ TÁT từ trong Đất Tâm vọt ra.

Lời giải thích của Kinh còn nói rõ hơn: “Khi ấy các vị Phật của Đức Thích Ca Mâu Ni phân thân” Đó chính là những tư tưởng đã được điều phục của Phật. Kinh viết: “A Dật Đa. Các hàng Đại Bồ Tát vô lượng vô số a tăng kỳ từ dưới đất vọt ra mà các ông từ xưa chưa từng thấy đó, chính ta ở cõi Ta Bà lúc đặng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi, giáo hóa, chỉ dẫn các Bồ Tát đó, điều phục Tâm kia, khiến phát Đạo Tâm”. Đó là nói về việc Điều Phục, hay còn gọi là giáo hóa chúng sinh trong Tâm của Phật khi Ngài đang tu hành trong quá khứ. Thời Phật tại thế, chỉ có 1.250 đệ tử. Núi Linh Thứu cũng không đủ sức để chứa đến hàng chục ngàn người, nên rõ ràng những con số đó chỉ để nói về PHẦN VÔ TƯỚNG, tức là những tư tưởng, mà do ngày xưa ngôn ngữ chưa đủ để diễn tả, nên Phật phải dùng hình ảnh bên ngoài, do vậy mà dễ gây hiểu lầm. Bởi nếu cho rằng Bồ Tát là những vị tu hành bên ngoài, thì chúng ta làm sao giải thích khi Kinh viết: Bồ Tát đem theo Sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, 5 muôn hàng hà sa quyến thuộc, 4 muôn hàng hà sa quyến thuộc... Nếu đó là Bồ Tát Hữu Tướng thì làm gì có ngần đó quyến thuộc? Đất đâu đủ cho các vị đó đứng?

Cả hai Thừa đều cho rằng Đức Phật Thích Ca là một con người bình thường, nhờ tu hành mà được Giải Thoát. Giải Thoát cũng không có nghĩa là trở thành thần linh. Sinh thời Đức Thế Tôn cũng sinh hoạt bình thường. Ngụ ở nơi cội cây hay trong rừng, và đi bộ đến từng vùng chung quanh để giảng pháp. Đến giờ ăn Ngài cũng theo thứ tự mà đi khất thực. (Kinh Kim Cang). Cuối đời Ngài cũng bệnh, chết, cũng trà tỳ. Đâu có chỗ nào nói Ngài tri triển thần thông, phép màu hay cứu độ cho ai?

Do lớp người đi trước hiểu sai, cứ Y NGỮ mà truyền bá. Cho nên đến nay thì hầu hết Phật tử đều cho rằng Phật có thể “cứu độ Tam Thiên Đại Thiên thế giới”, rồi cần gì thì cứ nhang khói đến Chùa mà Cầu xin. Hết Cầu An lại Cầu Siêu. Nhiều Chùa vẫn tiếp tục kêu gọi Phật Tử làm việc đó mà không thấy đó là mâu thuẫn với lời Phật dạy là phải TỰ ĐỘ. Nếu cứ Cầu Xin mà được hẳn Đạo Phật không còn được gọi là Đạo Nhân Quả nữa.

Nhờ theo lời Kinh Đại Thừa dạy là phải VĂN-TƯ-TU tôi cũng bớt được cho mình rất nhiều việc làm không cần thiết. Thí dụ như có cần Tụng Kinh, Niệm Phật không? Mục đích của việc đó là gì? Thời Phật tại thế Kinh chưa có thì lấy gì mà Tụng? Do vậy, tôi hiểu ra là do các vị về sau đã bày ra, mục đích chỉ là để kềm giữ cái Tâm, trong thời điểm tập trung để Tụng Kinh, Niệm Phật thì không có nghĩ ác, hành ác. Do vậy, thay vì tụng Kinh thì tôi đọc rất kỹ, tìm hiểu ý nghĩa thật sự rồi theo đó mà thực hành.

NGỒI THIỀN cũng vậy. Tôi tự hỏi vì sao Đức Thích Ca chỉ cần NGỒI có 49 ngày đêm mà Đắc Đạo. Người thời nay Ngồi mãi mà không đắc? Tại sao Lục Tổ Huệ Năng không có Ngồi Thiền suất nào mà cũng Thấy Tánh? Đối chiếu lại với Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, tôi thấy dạy: “Dù có người vô lượng vô số kiếp kiếp chuyên tâm thính pháp, nhưng nếu không Tư Duy thì không thể được Vô Thượng Bồ Đề”. Nhưng Tư Duy cái gì? Tư Duy như thế nào? Tôi tìm thì thấy là hóa ra thì giờ được cho là NGỒI THIỀN của Đức Thích Ca là thì giờ mà Ngài nhiếp niệm để đi tìm CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT. Chính vì thế mà khi Ngài gặp được thì gọi là “Đắc Đạo”. Nghĩa của Đắc Đạo chỉ là gặp được, thấy được con đường đưa đến Giải Thoát. Thấy Tánh cũng chỉ là nhận lại được cái Mình Thật, thay vì từ trước đến giờ nhận làm cái TA GIẢ. Đâu có gì ghê gớm như một số Thiền Sư đã gióng trống khua chuông?

Khi một người đã điều phục xong cái tâm của mình, không còn đeo bám Danh, Lợi, Tham, Sân Si Thương Ghét như thường tình thế tục, cái Tâm được thanh tịnh, an lạc, thì gọi là được Giải Thoát hay Thành Phật. Do vậy, thời xưa, thời nay, thời sau, nếu người nào cùng tu hành đúng theo Chánh Pháp thì đều thành tựu, nên gọi là có đến TAM THẾ PHẬT. Nếu cho là từ xưa đến nay chỉ có mỗi một Đức Thích Ca là Phật mà thôi, vậy thì lời Thọ Ký: “Chúng Sinh là Phật sẽ thành” chẳng lẽ không có chút giá trị nào? Như vậy mọi người khuyến khích nhau Xuất Gia để làm gì? Tu Phật mà không được Thành Phật, lại phải bỏ tất cả để đứng bên lề cuộc đời, thì có phải là phí phạm kiếp sống một cách vô ích và có lỗi với cuộc đời chăng? Bởi kiếp sống dù nói là Vô Thường, nhưng cũng kéo dài cả 100 năm, trong thời gian đó, mọi người vẫn sử dụng thành quả của lao động của nhiều thành phần trong xã hội thì phải có nhiệm vụ đóng góp. Hơn nữa, dù có tu thành công cũng đâu có “Độ” được cho người khác để trả nợ áo cơm được?

Theo Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA, dù Phật bày ra trăm ngàn phương tiện, diễn giải đủ các kiểu, nhưng kết quả của việc tu hành chỉ là: Các chúng sanh này nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui”.

Phẩm Như Lai Thần Lực viết: “Cõi nước chỗ nào nếu có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép, đúng như lời tu hành. Hoặc là chỗ có quyển Kinh, hoặc trong vườn, hoặc trong rừng, hoặc dưới cây, hoặc Tăng Phường, hoặc nhà Bạch Y, hoặc ở trong điện đường, hoặc núi hang đồng trống, trong đó đều nên dựng tháp cúng dường.

Vì sao? Phải biết chỗ đó chính là Đạo Tràng. Các Đức Phật ở đây mà đặng Chánh Đẳng Chánh Giác, các Đức Phật ở đây mà chuyển pháp luân. Các Đức Phật ở đây mà nhập Niết Bàn”. Tức là tất cả mọi người, không phân biệt thứ hạng, nơi chốn, Tăng Phường hay Bạch Y, nếu Thọ trì, đọc tụng, giải nói biên chép đúng như lời tu hành thì đều thành Phật như nhau.

Đại Thừa Kim Cang Kinh Luận viết:

Người Đại Giác Ngộ được gọi là Bồ Tát, biết được khẩu quyết chân chánh bí mật của Phật. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào hiểu được, nghe được pháp khẩu quyết của Bồ Tát giáo hóa liền tin tưởng đều là chánh Nhơn, chánh Quả.

Vậy cho nên, người thiếu niên tu hành được Chánh Pháp ấy liền thành Phật Đạo. Người hai mươi tuổi tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật đạo. Người ba mươi tuổi tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Người 40 tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Người 50 tuổi, 60, 70, 80 tuổi… tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Người nữ nhơn tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo.

Người giàu sang tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Người bần tiện tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Người quan liêu tu hành được Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Cho đến người và phi nhơn tu hành đặng Chánh Pháp ấy cũng thành Phật Đạo. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nói bài kệ rằng:

Nếu có người nam hay nữ

Gặp được chơn minh sư

Tu hành đặng Chánh Pháp

Tất cả đều thành Phật”.

Tổ Đạt Ma dạy trong SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT:

Nếu thấy Tâm mình là Phật thì không cần cắt tóc, cạo râu. Hàng Áo trắng vẫn là Phật.

Nếu không Thấy Tánh, cắt tóc cạo râu vẫn là ngoại đạo”.

Trong những quyển Kinh vừa trích dẫn, kể cả lời Thọ Ký đều không phân biệt Nam, nữ, già, trẻ, nơi, chốn, sang, hèn… chỉ cần gặp đúng chân minh sư, tu hành đúng Chánh Pháp thì đều Thành Phật.

Không chỉ như thế, Kinh LĂNG NGHIÊM viết: “A Nan, ta có dạy các vị Bồ Tát và A La Hán: Sau khi ta diệt độ rồi, các ông phải thị hiện thân hình trong đời mạt pháp để cứu độ các chúng sanh đang trầm luân. Hoặc hiện làm Thầy Sa Môn, Cư Sĩ, Vua, Quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người gian giảo, kẻ trộm cướp, người thợ thịt, kẻ buôn bán, để lẫn lộn trong từng lớp người, chung làm một nghề nghiệp đặng giáo hóa chúng sanh trở về Chánh Đạo”. Có nghĩa là trong đời mạt Pháp, Bồ Tát, A La Hán có thể thị hiện trong bất cứ hình dạng nào, Tu Sĩ hay Cư Sĩ, làm bất cứ ngành nghề, bất cứ thứ hạng sang hèn nào trong xã hội chỉ với mục đích là để cứu độ chúng sinh. Nhưng các vị không bao giờ tự xưng ra. mình là Bồ tát, là A La Hán giáng thế để cầu danh, cầu lợi. Những kẻ khoe khoang tất nhiên là tà ma ngoại đạo.

Giáo Pháp của Đạo Phật đặt ra là để cho tất cả, đâu có nói riêng cho giới Xuất Gia? Cũng đâu có đặt điều kiện phải độc thân? Cùng thực hành Giới Định Huệ, Bát Chánh Đạo, Lục Độ, Vạn Hạnh, tức là cùng làm công việc chưng cất cho Phiền Não, Tham Sân Si không còn chiếm ngự trong Thân, Tâm, lẽ nào vì thiếu “đầu tròn, áo vuông” mà ra kết quả khác? Nếu cho rằng Tu Sĩ thanh tịnh, đoạn dục thì mới có Giải Thoát được, thì tất cả những Tu Sĩ từ xưa đến nay đều được Giải Thoát cả chăng? Nếu không, thì rõ ràng kết luận đó là thiếu khoa học và thiếu tính thực tế. Nếu chỉ cần có chiếc áo Cà Sa mà đã thoát tục, thì Phật Ngôn đã không có câu:

Hỡi các Tỳ Kheo! Nếu chiếc áo Cà Sa có oai lực xóa bỏ được: Tham Lam, Sân Hận, Si Mê, thì cha mẹ hoặc người thân chỉ cần khoác lên đứa bé khi nó mới chào đời là đã được toại nguyện”!

Và nếu chỉ cần là Tu Sĩ, khoác lên người chiếc áo Ca Sa là đã có thể trở thành Thánh Nhân, thì Phật ngôn đã không có câu:

Như Lai không cho rằng đời đạo đức có thể tượng trưng bằng:

Tỳ Kheo mặc Y, mang Bát.

Đạo sĩ lõa lồ bẩn thỉu ngụ dưới cội cây.

Khất Sĩ rách rưới ăn uống khác thường.

Du dà đứng như trời trồng dưới cơn nắng cháy da.

Giáo sĩ thông suốt thánh kinh, ăn nói hoạt bát, sành nghề bùa chú.

Người tu khổ hạnh thân mình phủ đầy cát bụi.

Kẻ trầm mình xuống sông Hằng lạnh buốt trong buổi sáng.

Kẻ mang búi tóc đan trên đỉnh đầu… Nhưng thân tâm nhơ bẩn thấp hèn. Như Lai không công nhận chúng là bậc Sa Môn”.

Ở hoàn cảnh nào thì cũng có cái Giải Thoát của hoàn cảnh đó. Rời bỏ nhà cửa, cha mẹ, không có vợ, con, nhưng Tham, Sân Si nếu chưa bỏ thì có được gọi là Giải Thoát không? Ngược lại, bị ràng buộc với gia đình, nhưng luyện được cái Tâm để chế ngự được Ba Độc thì sao gọi là không thể Giải Thoát? Họ không phạm Tà Dâm thì có tội gì? Hơn nữa, theo tôi, cái Giải Thoát của người tại gia có giá trị đích thực và phù hợp với biểu tượng Hoa Sen của Đạo Phật hơn, bởi vì họ trực tiếp sống trong môi trường phức tạp đầy dẫy sự cạnh tranh, đố kỵ, cao thấp, hơn thua, tranh chấp của người đời, lại phải tự mình vất vả để mưu sinh, lo cho gia đình, cha mẹ, vợ con, đồng thời đóng góp sức mình cho xã hội. Trong đó, nếu họ giữ được cái tâm bình ổn, thanh tịnh, không bon chen danh lợi, không Tham, Sân, Si khi đối nhân, xử thế thì chính là họ đang thể hiện tính cách của người tu Phật, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Ngược lại, những vị Xuất Gia đâu cần phải đối phó với đời. Họ tách riêng, khoanh vùng. Mọi thứ đều đã có người khác gánh vác cho, lại sống trong môi trường toàn những người tu như mình, đâu phải va chạm, phiền phức, đâu có gì để phải cầu Giải Thoát?

Ly Gia, Cắt Ái không phải chỉ là rời bỏ gia nhà thế tục, Cắt đi ái luyến với vợ con, cha mẹ. Đó chỉ mới là phần hình tướng. Nghĩa thật sự của Xuất Gia là RỜI KHỎI NHÀ LỬA TAM GIỚI. Cắt đi sự Ái luyến với chính bản thân mình. Người chưa bỏ được Tham Sân Si, còn yêu quý bản thân, cung cấp cho nó mọi thứ lợi, danh thì chưa thể gọi là Ly Gia, Cắt Ái.

Công việc tu hành theo Đại Thừa là chỉ cần đoạn trừ THAM, SÂN, SI, THƯƠNG, GHÉT, gọi là Chúng Sinh trong Tâm, để cho cái Tâm được thanh tịnh, kết quả đó gọi là Thành Phật.

Kinh VIÊN GIÁC viết:

Nếu người đoạn Thương, Ghét

Cùng với Tham, Sân, Si

Chẳng cần tu gì khác

Cũng đều được thành Phật”

Kinh LĂNG NGHIÊM viết:

Nầy Phú Lâu Na, các ông đối với trần cảnh chỉ đừng khởi vọng niệm phân biệt thì Tham, Sân, Si không khởi. Ba duyên không khởi thời Sát, Đạo, Dâm ba nhơn chẳng sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhã Đạt Đa ở trong Tâm các ông tự hết, mà hết tức là Bồ Đề. Khi ấy Chơn Tâm thanh tịnh, sáng suốt khắp cả pháp giới của ông tự hiện bày, không cần phải cực nhọc khổ khăn tu chứng hay cầu xin nơi ai cả”.

Lục Tổ Huệ Năng dạy: “Chư Thiện Tri Thức, muốn tu hành thì ở nhà tu cũng đặng, chẳng cần ở Chùa. Ở nhà mà thường tu hành thì cũng như người Đông Phương có lòng lành. Ở Chùa mà chẳng tu thì cũng như người Đông Phương có lòng dữ. Nếu lòng trong sạch thì Tánh mình tức là Tây Phương vậy”.

Suy cho cùng, nếu người tại gia mà tu hành không thành công thì cũng không mắc nợ Nhân Quả của bá tánh. Ngược lại, người sống nhờ vào sự cung dưỡng của người khác để tu hành, nếu tu không xong thì món nợ cơm áo đó trả không biết đến bao giờ! Đừng nghĩ là cứ mang lời Phật ra giảng thì đã xong nợ. Cơm bá tánh mà cứ “ăn trong Chánh Niệm” là được! Đọc Mã Tổ Bách Trượng Ngữ Lục, ta thấy Tích Con Chồn Hoang, nói về một người tu, chỉ vì hạ sai một chuyển ngữ mà phải đọa làm chồn hoang. Đọc Kinh VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN để thấy 4 tên Phiến Đề La phải khiêng kiệu lại bị đánh đập hành hạ vì kiếp nào đó đã lợi dụng hình tướng tu hành để hưởng của bá tánh. Đó là bài học cho người làm đạo không chân chính vậy.

Giữa một người chính thức nối Truyền Y Bát của Phật, là Lục Tổ HUỆ NĂNG, và người được người dân bản xứ xưng tụng là Phật Hoàng. Hai giá trị do hai nguồn đánh giá khác biệt nhau xa. Nếu chúng ta chưa xét kỹ lịch sử Truyền Thừa, mà cho là Giáo Pháp của Phật Hoàng cao hơn của Lục Tổ Huệ Năng e là hơi chủ quan. Việc so sánh Pháp tu của Lục Tổ Huệ Năng với Sư Thần Tú - là người Ngũ Tổ đánh giá là Chưa Thấy Tánh - Cho rằng Pháp tu của Sư Thần Tú đại diện cho quan điểm của Phật gốc. Pháp tu của Lục Tổ Huệ Năng đại diện cho quan điểm của Trung Quốc, theo tôi, đó là một hiểu lầm rất lớn, vì ĐẠI THỪA không phải tự xuất phát từ TRUNG QUỐC, mà bắt đầu bằng chính Đức Thích Ca, truyền cho Ngài CA DIẾP. Sau đó liên tục truyền nhau đến Các Tổ TRUNG QUỐC. Ngài Huệ Năng là Tổ chính thức, cuối cùng được truyền Y Bát, là Phật đương thời lúc đó, lịch sử Đạo Phật có ghi rõ. Cứ cho rằng Phật, Tổ thiên kiến đi, nhưng đọc trong Pháp Bảo Đàn Kinh thì ta thấy: Nếu Sư Thần Tú tự thấy rằng pháp của mình đã đầy đủ thì đâu có sai Sư Chí Thành tới Chùa của Lục Tổ để nghe pháp rồi về kể lại cho Ngài? Đó chẳng phải là một bằng chứng cụ thể để người sau chúng ta có thể theo đó mà đánh giá pháp của hai vị sao?

Lục Tổ Huệ Năng được Truyền Y Bát khi chưa Xuất Gia, chưa cạo tóc, đắp Y, tức theo hình tướng thì vẫn còn là Cư Sĩ. Dù muốn hay không, chúng ta cũng không thể phủ nhận sự kiện thực tế đó. Nhưng các Sư Tăng trong Chùa của Ngũ Tổ không thể chấp nhận được. Chính vì vậy mà Ngài Huệ Năng luôn bị họ chống đối, truy sát để dành lại Y Bát. Họ tôn Sư Thần Tú lên làm Tổ thứ Sáu, nhưng vì Y Bát do Ngài Huệ Năng giữ, nên phái Sư CHÍ TRIỆT mang dao đến thích khách Lục Tổ Huệ Năng, chém 3 dao mà không đứt cổ Ngài mới buông dao sám hối… Điều đó chứng tỏ thêm là hình tướng mà họ đang mang không giúp gì được trong việc cải tạo cái Tâm của họ, để cho cái xấu tiếp tục ngự trị nơi Tâm. Sự thù hận kéo dài mãi cho tới 16 năm sau Lục Tổ nhập diệt, Sư Thần Hội đứng lên xiển dương pháp môn cũng bị họ vu cáo cho vua đày đi. Chừng đó việc chứng tỏ cái Hạnh của các Sư Tăng đó có vấn đề. Sư, Tăng mà không lo tu sửa, lại còn đố kỵ, tranh giành, thù hận thì có xứng đáng với bộ Y mà họ đang mang trên người hay không? Qua đó, phần nào chúng ta có thể đánh giá cách thực hành giáo pháp mà họ đã học.

Đại Thừa và Phật Giáo Nguyên Thủy đều chấp nhận Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế. H.T. cũng thừa nhận rằng “cốt lõi của Đạo Phật là GIỚI, TỨ DIỆU ĐẾ, BÁT CHÁNH ĐẠO”. Khẳng định là “Ngoài Bát Chánh Đạo không có thánh nhân, ngoài Bát Chánh Đạo không có Giải Thoát, ngoài Bát Chánh Đạo không có chứng đắc”, mà lại cho rằng chỉ “người Xuất Gia hành trì pháp này mới được Giải Thoát. Người Tại Gia nếu muốn thì phải độc thân”. Trong khi đó, Kinh Lăng Nghiêm chỉ nói “Giải Thoát hay ràng buộc cũng do một Tâm”, không hề đề cập tới việc độc thân hay không. H.T. cũng cho rằng: “cốt lõi của người Xuất Gia xét cho cùng chỉ là GIỚI, ĐỊNH, TUỆ”. Như vậy tại sao chỉ người Xuất Gia mới có Giới, Định, Tuệ, còn Tại Gia thì không? Không rõ dựa vào đâu mà H.T. cho rằng người tại gia không diệt được Tham Ái, Sân Hận, Si Mê, chấp thủ? Trong khi đó Kinh dạy: Giáo Pháp của Phật như Lửa, dù cho vô đó là cỏ, cây, rác, phân bò đều cho sức nóng như nhau? Thật ra người cần Đạo Phật chính ra là Cư sĩ, và chính họ, qua cuộc sống, lăn lộn, va chạm với các pháp để mưu sinh sẽ tự mình chứng nghiệm kết quả của Giải Thoát trong từng pháp phải đối mặt hàng ngày.

Từ một Biển Giải Thoát của Đạo Phật bao la, các vị tu hành ngày xưa đã tách ra để lập thành những Tông, Phái, khác nào đắp đập để ngăn biển thành sông, thành hồ, thành ao! Điển hình là Ngũ Phái Thiền của Trung Quốc, diệu võ, dương oai một thời: Pháp Nhãn Tông, Vân Môn Tông, Tào Động, Quy Ngưỡng và Lâm Tế, rốt cuộc là hầu hết đi vào diệt vong, là một tấm gương cho người sau chúng ta để thấy: càng chia chẻ, cải biên thì làm mất đi tính thuần nhất của Đạo Phật chân chính. Sự chia chẻ chỉ nói lên tâm địa ham làm giáo chủ của một môn phái mà thôi, không có làm cho Đạo Phật tốt đẹp lên thêm. Cũng không thể lấy số đông Quy Y hay Xuất Gia để đánh giá Đạo Phật đã phát triển vì “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Số ít, mà tu hành nghiêm chỉnh còn hơn số đông mà lẫn lộn những người chỉ mượn cửa Chùa để nhàn thân. Có khi vì sự tu hành không nghiêm chỉnh của họ mà trở thành là “những con trùng trong thân Sư Tử, ăn thịt sư tử” vì làm ô uế cửa Chùa.

Có thực mới vực được đạo”. Người tu Phật sau khi làm xong cho bản thân thì được dạy phải trả nợ Tứ Ân. Vì vậy, theo tôi, thay vì vận động mọi người dẹp Tổ Đại Thừa Trung Quốc, là những người chính thức nối truyền theo Di Ngôn của Phật để có thể trở thành người có lỗi với Đấng sáng lập, vì các Tổ Sư Trung Quốc không có làm điều gì hại Phật Pháp. Những Tông, Phái, Tổ tự phong ngoài 33 vị Tổ, viết sai, dạy sai, ta đâu thể dựa vô đó để đổ lỗi cho các Tổ Sư chính thức? Do vậy, theo tôi, các vị tu hành không nên quay về để trách quá khứ, mà nên tiếp tay với xã hội để bài trừ mê tín, dị đoan, những hủ tục đốt vàng mã, cúng kiến, cầu xin… tốn kém tiền bạc, đang thịnh hành trong Phật tử, làm nghèo đất nước, kéo dân trí xuống thấp. Vận động những Phật Tử hằng tâm, hằng sản cứu giúp cho những vị “Phật chưa thành” còn đang trong hoàn cảnh khó khăn. Đất nước ta còn cần lắm những Bệnh viện, Trường học, và biết bao nhiêu hoàn cảnh khó khăn cần được giúp đỡ.

Thay vì so sánh Giáo Pháp của nước mình cao, thấp, so với nước khác, sao không so sánh người dân của nước mình có nhờ vào Đạo Phật mà bớt Khổ, bớt nghèo đói hơn không? Điển hình là Xứ Miến Điện với 90% dân số theo Đạo Phật, nhưng dân họ đã thoát nghèo đói, lạc hậu chưa? Tôi tin rằng đó là những việc làm có lợi ích thật sự cho bá tánh mà người có trách nhiệm nên quan tâm. Đã biết rằng Phật không có phù hộ cho ai. Vậy thì bá tánh sẽ Thoát Khổ cách nào, nếu không phải là ngoài dẹp bỏ những tính xấu, rèn luyện tính tốt, tin sâu Nhân Quả, còn tích cực học hỏi, khoa học, kỹ thuật, tham gia những việc làm thực tế, có ích lợi cho dân tộc, cho đất nước để trả ân đất nước đã cưu mang mình theo lời Đức Thích Ca đã dặn dò. Quả vị, thành Phật, thành Thánh thì như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa dạy: chỉ là HÓA THÀNH DỤ cho những người chưa rời được cái Ngã tu hành, còn ham cao, thấp hơn thua mà thôi.

Nhờ đọc Kinh Đại Thừa do Đại Thừa Trung Quốc phổ biến, và tìm rõ mục đích của Đạo Phật, tôi thấy PHẬT, BỒ TÁT không phải là thần linh cho ta hương khói, ca tụng, tán thán để cầu xin, nương tựa. Đức Phật đã nhập diệt từ mấy ngàn năm rồi. Dù cho chúng ta có dẹp hết mọi tạp niệm để chỉ nghĩ tưởng đến Ngài. Niệm danh hiệu của Ngài suốt 24/24 giờ. Mang lời Ngài dạy ra tụng ngày mấy thời. Ngồi Thiền bất động năm này sang tháng kia. Cất cho Ngài bao nhiêu Kiểng Chùa. Tạc vô số tượng vĩ đại. Cúng cho Ngài hết mọi sản vật, châu báu trên đời… thì Ngài cũng đâu có nhận để dùng được? Mục đích lập ra Đạo Phật của Ngài là đưa ra một Con Đường để chúng ta theo đó mà ĐỘ Khổ cho mình. Tự cứu độ cho mình khỏi các ác pháp, hầu thoát Khổ kiếp này và những kiếp về sau, để tất cả được an lạc gọi là “hữu dư y Niết Bàn. Đó mới là thật sự đền đáp ân Ngài. Đâu phải bằng dựng tượng, cất Chùa?

Ở trong bùn mà không nhiễm bùn”. “Ở trong thế gian mà thoát thế gian”. Đó là những gì mà Đạo Phật muốn hướng dẫn con người thực hiện. Phải chăng khi mọi người không còn Tham, Sân, Si, tranh giành nhau thì gia đình được yên, làng xóm cũng yên theo. Cứ nhân lên như thế mà xã hội cũng được an lành, mọi người yên tâm làm ăn, sinh sống. Đó chẳng phải là Niết Bàn tại thế sao? Ngoài ra, Đạo Phật còn là Đạo Nhân Quả. Dạy con người biết gây Nhân Thiện, để có Quả Lành. Đâu có dạy chúng ta không được làm gì hết. Phải tách riêng ở một nơi để các pháp không chạm tới. Làm gì, nghĩ gì là “Thất Niệm”. Như thế khác gì sống để chờ chết? Nếu thế thì xã hội làm sao phát triển được?

Sống sao, chết vậy. Lúc sống đã không tạo Nghiệp, hẳn nhiên được an ổn. Sau khi bỏ thân xác cũng không thể rơi vào ác đạo được. Có tái sinh cũng về nơi tốt đẹp. Theo tôi, đó chính là mục đích PHỤNG SỰ NHÂN SINH của Đạo Phật, mà tất cả những đệ tử thật sự của Đức Phật Thích Ca, dù tu có tướng hay không đều có nhiệm vụ phải chung tay, góp sức để thực hiện, gọi là “Mồi ngọn Vô tận Đăng, để tất cả mọi người đều được sống trong an lành, hạnh phúc. Trong tiêu chí này, theo tôi, đâu có phân biệt giới tính, già, trẻ, tại gia hay Xuất gia? Thậm chí không chỉ dành riêng cho Phật Tử, mà người theo bất cứ Tôn Giáo nào, miễn cuộc sống không ra ngoài vòng Thập Thiện, thì đó là đang đi trên hành trình Giải Thoát, bởi nhờ đó mà được sống an, chết lành. Kiếp sau nếu có, cũng được sinh về nơi tốt đẹp. Hiện tại kiếp sống được an lạc gọi là Niết Bàn, vì nghĩa của Niết Bàn chỉ là: “Ra khỏi rừng phiền não”, chẳng phải là một cõi xa xôi diệu vợi nào sau khi chết mới về, hoặc phải tu hành khó khăn, khổ nhọc mới đạt tới.

Theo tôi, sở dĩ Đạo Phật dạy người tu phải giữ Giới, Bát Chánh Đạo, Lục Độ, Vạn Hạnh cũng chỉ để tự rèn luyện Thân, Tâm, tránh xa cái Ác, hướng về nẻo Thiện, giữ Thân, Khẩu, Ý được tịnh Ba Nghiệp để bản thân người hành và chung quanh được an ổn mà thôi. Đó là những gì tôi đúc kết sau một thời gian khá dài nghiên cứu, đối chiếu khá nhiều Bộ Kinh Đại Thừa, và khi so với Giáo Pháp của Phật Giáo Nguyên Thủy tôi thấy đâu có khác gi nhau? Đạo Phật cho rằng: “Ông tu, ông đắc. Bà tu, bà đắc”. Người Tu chỉ là tự Sửa cái tâm của mình. Như vậy, xét cho cùng, đường lối của Tổ Sư Trung Quốc đâu có làm trở ngại cho việc tu tiến của người khác, thì đâu có lý do gì phải kêu gọi dẹp các Ngài đi thì ta mới có thể tiến bước trên hành trình Giải Thoát được. Ngược lại, nếu nhìn lại lịch sử Truyền Thừa của Đạo Phật thì phải chăng những người vận động điều đó đang đi ngược lại Di Ngôn của Đức Thích Ca, cố tình xóa dấu vết Truyền Thừa của Đức Bổn Sư, như vậy để dắt Phật Tử về đâu? Bởi vì theo Đại Thừa thì người Tu Phật là để thực hiện lời Thọ Ký của Đức Thích Ca: để được Giải Thoát, tức Thành Phật. Nếu tu theo Phật Giáo Nguyên Thủy thì quả vị cao nhất là A La Hán. Vì sao Tu Phật mà không Thành Phật lại thành A La Hán? Như vậy sao không gọi là Tu A La Hán? Bao giờ A La Hán mới được Thành Phật? Cần những điều kiện gì? Nếu cho rằng mơ ước Thành Phật là Tăng Thượng Mạn thì rõ ràng người kết luận như thế cho rằng Thành Phật là thành Thần Linh, không phải là thành tựu con đường Giải Thoát, và khác nào cho rằng Sinh Viên Trường Y mơ thành Bác Sĩ là ngạo mạn! Như thế thì mục đích Tu Phật là để về đâu? Tôi chỉ là người nghiên cứu Giáo Pháp của Đạo Phật qua Kinh Đại Thừa, không phải người tu học chính quy, nên sự hiểu biết còn nông cạn. Chỉ thấy đến đó. Rất mong được các Cao Tăng Từ Bi Hỉ Xả và chỉ dạy thêm cho.

Kính mong được góp ý, phản biện để học hỏi thêm. Kính.

(Tháng 3/2015)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 12.7.2015.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004