Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ ‘Người Đàn Bà Khoát Khăn Quàng và Chậu Cây Xương Rồng /
Woman with Shawl and Cactus. của Võ Công Liêm




TRẠNG HUỐNG TÂM THẦN

CỦA VĂN NGHỆ SĨ






    B ệnh lý nầy ít ai tìm thấy sự bất thường trong con người nghệ sĩ. Thường khi đưa tới một tâm lý khó hiểu, một trạng huống dị thường gần như điên loạn hay khủng hoảng bởi tâm thức mà ra; những thói tính lạ đời phản ảnh qua lời ăn tiếng nói hay cử chỉ hành động có thể do tình trạng thuộc tâm não. Kể từ đó khoa phân tâm học của Freud ra đời và đánh động những gì cần biết đến chung quanh những người mắt chứng thần kinh. Khởi từ đó hai thầy trò Freud và Jung đã ra công tìm kiếm và phát hành tập ‘Tâm lý học về Vô thức / Psychology of the Unconscious’ và ‘Thể loại thuộc về Tâm lý / Psychological Types’. Cuối cùng rồi họ phân tích ra được trạng huống tâm lý và hướng tới những gì liên can đến dân gian huyền ảo đến anh hùng hảo hớn và đến cả thi ca là những khác biệt gần gũi với nhau và sản sinh ra những gì tương quan đến tồn lưu nhân thế giữa nghệ thuật và phân tâm lý – Finally; analytical psychology has turned directly to folk myth, to saga and to poetry, a close and fruitful relationship has existed between art and psychoanalysis. Ấy là điều mà Freud đã khám phá; không thể chối bỏ sự hiện hữu của nó với cả một công trình nghiên cứu và tìm hiểu về bệnh lý tâm thần. Đặc biệt về phân tâm học và nghệ nhân / Psychoanalysis and Artists là những tác động thường trực thuộc não thức; nhất là giới văn nghệ sĩ…

Với những dữ kiện tâm lý, sinh lý là yếu tố kết thành gây ra từ não thức do đó gọi chung là khoa phâm tâm sinh lý (psychoanalysis) của S. Freud ; đây là cái nhìn thấu suốt vào tri giác của mỗi con người, một tự thức tri nhận (perception of the self) là trạng huống tâm lý chung hay trạng huống do từ bẩm sinh, một tính khí đưa tới vong thân ‘death drive’ cho một cảm giác hung hãn, phẩn nộ hoặc ngấm ngầm, một thái độ, cử chỉ không ngay thẳng và nhiều lúc méo mó, bâng quơ một cách tự nhiên, trở nên tội lỗi đè nặng vào tâm can của con người. Trong con người nghệ sĩ có một cái gì đặc biệt riêng mình và đưa ra nhiều tính chất khác nhau vào cái nhìn sự vật. Hỗn loạn tâm can ở những trường hợp như thế là do từ não thức mà ra, cái gì riêng tư của mỗi cá nhân đều qui vào bệnh lý tâm thần thuộc về tâm sinh lý. Để rồi tràn ngập trong tư duy của nghệ nhân; một tư duy phô trương cái lối riêng của mình, một cái-tôi khác lạ và một tình trạng sẳn có trong người như chứng tỏ ở chính họ một tâm lý thông thường và tự nhận ở mình một nét đặc thù mới lạ hơn cả những nhà khoa học (văn chương, nghệ thuật). Nghệ sĩ luôn dễ dàng đạt được trên những tác phẩm cơ bản thiên tài hơn hẳn cả bực thầy –The artist is always easier to win over for a works of radical genius than is the professor. Tư duy này thường xuất hiện ở một số văn nhân, thi nhân và họa nhân… Bởi; họ nhìn trong một tâm thức tuyệt đối, cái riêng mình là đỉnh cao. Jung cho tư duy đó thuộc trạng huống tâm bịnh (mental-illness) là chỉ thấy mình ta trong cái thế giới riêng ta, một chủ quan thuộc tự-thức-tri-nhận nghĩa là không ra khỏi mình vì tâm lý khống chế trí năng mà không thấy sự sa ngã ở nơi mình; do đó nghệ nhân có một cái ‘tự hào’ riêng họ tức là họ đang đi trên con đường dẫn tới cái chết ‘death drive’ hay là đang tắm trên dòng sông của thủy tử ‘ death water’. Cũng có thể do truyền thống gia đình hay trong huyết lệ có một thứ tế bào dự cuộc, nghĩa là chứa đựng trong tiềm thức não bộ một thứ phi thường (extraordinary) là bẩm sinh chìm đắm trong dạng thức vô hình của tâm lý. Trường hợp này thường bắt gặp những khi bất chợt hoặc những khi bình thường với những tánh khí ngộ nghĩnh tự nhiên, một sự cớ không có nguyên nhân đối với ‘văn nhân mặc khách’. Một thứ bản chất duy lý có trong diễn trình ý thức (conscious) mà không thấy đó là vô thức (unconscious). Nhưng; trong con mắt của ‘nạn nhân’ thì ngược lại và cho đó là lý lẽ tự nhiên. Thí dụ: một thi nhân ‘biến thể’ từ một nhà mô phạm uy tín đến một người ăn nói sỗ sàng, bỡn cợt, biến đổi từ thể cách đến tinh thần dần dà sa vào ‘cõi chết/death drive’ và từ đó nhìn sự thế là phi lý. Biến dạng một thân tàn điên dại xa rời thực tế; tâm thức và não thức chi phối bởi hoàn cảnh, nhiều lúc không thấy mình trong cuộc sống; hóa điên mà không thấy mình điên. Trong tâm lý Freud có đoạn viết như thế nầy: ’artists in particular were quick to take up this new and variously productive way to seeing things’ bởi; người nghệ sĩ có cái nhìn cá biệt đưa tới cái mới lạ bén nhạy và phát sinh khác về hiện vật là thế. Nhưng; bản thân của người mang triệu chứng nầy là hoàn toàn hợp lý để rồi ngày tháng trôi qua không còn biết mình là mô phạm mà đứng riêng ra cõi ngoài nhân thế. Cõi đó là cõi phi thường và ngay những người bình thường vẫn không nhận thấy ở chính mình mà biến mình như kẻ dự cuộc và cảm thông đồng hóa vào dữ kiện. Thậm chí trong tư duy cũng mất đi sự chỉnh đốn từ văn, thơ, họa; rút cuộc nhìn sự kiện như là một hợp nhất để rồi huyền thoại hóa giữa người điên và người bình thường là một lý lẽ như đã có. Trạng huống đó đến nay vẫn còn tồn lại, tồn lưu, tồn lập và vẫn còn tồn lùi, biểu dương mà không tìm thấy nguyên nhân của sự cố; âu đó cũng là triệu chứng tâm lý mà ra. Có nhiều chứng cớ khác thuộc về tự-thức-tri-nhận ở chính não bộ (neurotics themselves); nhưng với người khác thì cho đó là dạng thức thuộc về phân tâm sinh lý. Và; cho đến bây giờ tư tưởng đó vẫn còn đem ra thảo luận một cách rộng lớn để biện minh những tâm lý thông thường xẩy ra đối với những nghệ sĩ trẻ tuổi hơn là sự phân tách của những nhà chuyên nghiệp bệnh lý và những người chuyên môn về tâm lý. Tuy nhiên; cũng tìm thấy những điều mới lạ và quan trọng trong tất cả hiện hữu của đời người. Một sự kiện sống động và thương cảm đã tìm thấy trong một cái nhìn chung; đó là nhận thức hiểu biết về tâm lý sự kiện, hầu như đây là một dự phóng vào những thi nhân, bởi thi nhân dưới cái nhìn quan sát thì chính họ là người đụng phải tiềm thức để biến hóa thần thông mà thành thơ hoặc biến mình thành những con người không bình thường như hiện tượng của thi sĩ. Hình thức đó chứng tỏ những gì sẳn có là một phần dự cuộc. Nhận ra sự vô thức là bắt nguồn từ cảm tính và sự nhạy bén thấy được nơi họ. Vì vậy mà giòng thi ca nơi họ có những tương quan mật thiết giữa hồn và người, một giao thông đem lại sự sáng suốt trong cái nhìn quan sát vào đời, đây là một luận cứ mới của những gì mà họ muốn chứng tỏ sự ngọt ngào cho tâm hồn như một biểu lộ xẩy ra; hoàn toàn không có tính chất sa ngã trước chìa khóa thần thông mà nên thơ nhưng dù sao thì họ đã nhập cuộc trong một tâm thức thoát tục; chính ở điểm này đưa họ tới một trạng huống tâm thần, một trạng huống thuộc dạng duy lý; thế nhưng vẫn đem lại một giá trị cho nhận thức mới và tin vào những gì đã bộc bạch –Not an infallible magic key but nevertheless a valuable new conception and reliability were quickly demonstrated. Mượn cái tư duy cảm thức này của Nietzsche về những gì thuộc về khoa tâm lý cảm tính là nói lên chân giá trị đến với chúng ta trước cái nhìn thâm cung bí sử của một tâm thức thuộc trạng huống tâm thần thì may ra giải tỏa đôi điều tâm lý. Nhưng đứng trên phương diện phân tâm của Freud thì đây là một lý giải cho chứng cớ thuộc tâm thức não bộ. Cả hai quan niệm vẽ lên đây một sự nhận biết và quan sát của cái gọi là vô thức, một diễn đạt thuộc về cơ năng tâm lý đúng như một áp đảo, sắp xếp, một thứ cao siêu phàm tục và không còn thoái hóa, thụt lùi, một cái gì trong sáng không còn ước lệ mà tự nó đem lại một giải thoát cho tâm hồn. Dạng thức này một đôi khi xảy ra trong giới văn nghệ sĩ đặc biệt là thi nhân.

Nhận định được thì giờ đây cảm thức đã tạo ra một giao thông tư tưởng, thuận lợi và dễ dàng cho bất cứ ai lâm vào hoàn cảnh bệnh lý tâm thần, ngoại trừ những nạn nhân thuộc dạng siêu tâm lý thì không còn cách nào để giải thoát; nói theo siêu hình học thì tâm thức bị chiếm cứ vô hình, não thức đông cứng và trí năng hoạt động trong trạng huống vô thức. Dù chi thì đây là một tác động đáng được chú ý về khoa học đối với người nghệ sĩ mà chỉ còn lại những gì tiềm tàng trong đó. Thí dụ: thi sĩ phải mang kính trắng, hút thuốc, cà phê, suy tư trầm lắng, nhìn đời, nhìn trời, tóc tai áo quần vùi rối, thái độ bất cần. Người đời cho đó là dáng dấp của nghệ sĩ nhưng chính cái ‘hàng hiệu’ đó đưa tới nghi ngờ cho bệnh lý tâm thần mà chính thi nhân không hay mình mắt chứng bệnh hiểm nghèo của thói đời. Ngày nay khoa học đã giải hóa để người thi sĩ không còn thấy mình là thi sĩ mà biến mình thành con người ‘hiện đại’: kiến râm, rượu đỏ, hoa hồng mới thành thơ. Bệnh lý đó là căn bệnh hủ hóa thời đại mà vẫn thấy mình là người bình thường; tất cả triệu chứng đó gây ra từ tâm thức. Ngụy trang tư tưởng không chừng dễ nhận diện. Phải loại cái ý thức trong vô thức ra khỏi con người hiện đại; dù cho Freud, Jung, Stekel hay nhà văn Stéfan Zweig cũng đã viết và nói đến là nói đến người thuộc về phân tâm bệnh chớ không nói đến những bệnh nhân thuộc căn bệnh thời đại. Dữ kiện đó người ta có thể thấy được thế nào là căn nguyên phân tâm sinh lý, ở chính nó là một diễn trình không ngưng đọng mà dựa vào thi ca như đã phân tích ở trên. Có nghĩa rằng sự kiện như đã phân tích và thừa nhận là dẫn dụ cụ thể qua hình thức thuộc khoa học để thấy được con người nghệ sĩ (thi nhân). Quả thực như thế; thi nhân đã chứng tỏ diện mạo bề ngoài là thay mặt một lối tư duy đặc biệt về mình, cái đó là thực tế chạy ngược đến con đường tư duy của những gì phân loại thuộc bệnh lý tâm thần. Thi nhân là người giàu mơ mộng, biến hóa thần thông theo giấc mơ nhưng phân tích ra thì đó chỉ là mơ bình thường như hằng triệu người mơ (mơ lành, mơ dữ). Và; như vậy có những gì bỏ lại sau lưng của người thi sĩ để thực hiện (thơ) vào giấc mơ của mình, tuy nhiên; trong cái hay ho lớn lao đó chính là nằm trong cái tân-tâm-lý mà thi nhân tìm thấy, nhưng; mơ và theo sau cái bắt chụp là của trạng huống vô thức? Không! hoàn toàn không có một diễn trình nào theo sau đó, bởi; khi đó ‘Hắn’ chưa phải là thi nhân. Rứa thì khi nào hắn trở nên thi nhân? Hắn chưa cảm thụ để kết nạp thành thơ trong cấu trúc thành văn và cảm xúc hóa tâm lý cuộc đời (psychic life). Cho nên chi thi nhân phải thuần phục trước trạng huống tâm lý còn không thì thi sĩ chỉ thành-thơ theo bản năng mà trí năng biến mất và cũng có thể không làm nên hoặc không hòa nhập với tâm hồn. Tất cả sự kiện như thế là tạo ra một hệ thống mới về cái gọi là phân tâm sinh lý học, nhưng cũng chưa hẳn đây là lối nhìn cần thiết cho một khả năng cần thiết; mà tùy vào trạng huống tâm thức thuộc về tâm lý mà là tiến trình còn lại trong não thức có trước một nhiệm vụ của tri giác. Không thuộc vào phân tích; mà thiên tài! –Not the analytical; talent! Tuy nhiên ; việc ở đây không dựng nên vấn đề. Đúng ra đây là hướng đi tới những gì thuộc về phân tâm của trạng huống tâm thần, có thể trợ vào một biểu thị có ý nghĩa của người nghệ sĩ. Biện minh cho việc phân tích tâm lý về người nghệ sĩ đều là trong đôi mắt riêng tư của họ. Giữa lúc này như ném vào đó một sự lý khai mở về tâm lý vừa phân tích, vừa giải bày là một hiện thực vấn đề cho một trí óc trong sáng và thực dụng. Đây chỉ là phương pháp trị liệu vật lý, có thể đây là vai trò khách quan. Tuy nhiên; người ta vẫn theo sau một vài khoảng cách hướng tới phân tích để tìm kiếm những nguyên nhân thuộc tâm lý trong hoài niệm, tưởng nhớ, mơ mộng và những liên tưởng; nắm bắt được như một chiếm cứ thường trực, cái sự cớ đó được gọi là ‘mối liên hệ bên trong đến từ vô thức của chính mình / inner relationship to his own unconscious’. Trong đó có cả sự thức tỉnh, một kinh nghiệm tràn đầy với nhiều đam mê hứng khởi, hoán chuyển giữa hữu thức và vô thức; cớ sự đó giúp cho một trí tuệ bừng sáng là điều có thể tồn lưu còn bằng không thì chẳng để lại gì cho một tâm lý của ‘đáy tận cùng ở bước khởi đầu / beneath the threshold’ và lãng phí trong việc không còn để ý vào giấc mơ. Và đây chính là sự trở về để liên lạc với cái ‘bên-trong/inner’ cho một công trình thu tập về cách thức chửa trị của thầy thuốc, của một con người có lương tâm. Do đó chức năng của thầy thuốc chửa bệnh là chức năng, nhiệm vụ của ‘từ mẫu’. Nó đã dạy cho chúng ta thấy, thừa nhận, thử nghiệm và thận trọng trong những trường hợp chửa trị để từ đó có hiệu năng trong những gì quan tâm đến tâm lý con người nhất là những người đang ở trong thời kỳ xuất hiện triệu chứng tâm thần.Tuy nhiên; những nhà chuyên môn khoa bệnh lý tâm thần nhận ra được hoặc phỏng đoán được phiá sau cảnh tượng suy sụp bi thảm của hình ảnh bi thương về sự thật của người mắt bệnh tâm thần; nhưng nhìn qua trông như không có chi cả mà bên trong là một rối loạn tâm can. Về tâm lý này không những người mắc bệnh tâm thần mà ngay cả người bình thường đều thế cả. Đòi hỏi ở trường hợp này là nhận biết sự việc thông qua trí năng trong sáng để kiềm chế rối loạn của não thức; vì mất kiểm soát mà đưa tới một tâm thần bất an là ở chỗ đó. Đấy cũng là chứng nan y khó chửa trị. Dẫu sao họ đã nỗ lực tìm kiếm một phương pháp mới trong đó phân tích tâm bệnh như một triệu chứng hỗn loạn, phức tạp của não thức, bởi; dưới cái nhìn của Freud não thức đông cứng là một tri thức thụ động, thụ động không có nghĩa là mất hoạt động, ngược lại tích tụ trong dạng thức thuộc về ‘tri’ là biết được cuộc đời đang sống và một quá khứ bị chôn vùi; trạng huống đó gọi nôm-na là vùng lãng quên của ‘vô thức/inconscient’ ở đây không phải là vô-tri, trái lại nó là chất liệu tiềm tàng của tồn lưu là điểm tựa của ‘hữu thức/conscience’. Do đó con người nghệ sĩ thường chất chứa hai trạng thái của thực và ảo; thi sĩ sống ảo để hóa thực là trạng huống vô thức và hữu thức của tâm hồn. Cái sự cớ này nhà phân tâm học Freud xác quyết đó là tâm lý học vực sâu. Căn bệnh trầm thống của tâm thần không thể chửa trị hay mổ xẻ thuộc khoa sinh lý học như một chứng minh qua dạng y học. Não thức là dạng vô hình!

Theo sau vấn đề nhận thức tâm lý của thi nhân là những gì đã hiện ra trong quá khứ có một vài điều rất gần gũi để nhận biết trạng huống tâm thần do từ não thức gây nên là trọng tâm cần thiết để phân tích hoàn cảnh tâm lý xẩy ra. Hầu như hoàn cảnh này thấy rõ nơi Dostoevsky; không những chỉ tri giác theo sau đó trên những hướng đi có trước khi Freud phân tích và đệ tử Jung bàn đến, nhưng không biết ai là người chủ hữu thực nghiệm kỹ thuật này trong phương thức điều trị tâm lý học? Nhà văn lớn Franz Kafka đã hình thành triệu chứng tâm lý, có những dấu hiệu báo cho biết trong tư duy của ông, ngay trong truyện sự diễn trình qua từng nhân vật là cả biện chứng cho căn bệnh tâm thần. Cùng hoàn cảnh với nhà văn Mỹ Poe Edgar Allen rơi vào một tâm thức bấn loạn (xã hội và gia đình) ám ảnh phần nào vào não thức, để rồi biến mình vào một tư duy ‘thịt nát tan xương’ trong một trạng huống bi thảm của con người. Poe mắc chứng tâm bệnh ngay trong văn chương. Song le; họ vẫn thực hiện một tư duy trong sáng qua một vài dẫn chứng của người nghệ sĩ, một cái gì sâu sắc và sống động trong văn từ đã làm cho ông có một tri giác vững chắc tưởng như bình thường nhưng lại tiếp cận gần gũi những gì trong cái vô thức của ông, một bộc phát bất ngờ và bất biến. Trở lại sự cảm thức của Nietzsche về sự thật tuyệt đối như một phản chiếu rộng lớn vào tâm thức của một thế giới bao la do từ viễn cảnh và bệnh lý. Cái nhìn của Freud thuộc về tập quán không tự phát chính mình mà tạo thành bởi một trạng thái rối bời của tâm trí và vật lý. Đối với Nietzsche thì cho đây là thói tính riêng biệt(idiosyncratic), một cảm thức thuộc về tính chủ quan. Còn Freud thì nhất trí chửa trị theo phương pháp tâm học thần kinh. Qua kinh nghiệm của Nietzsche và Freud thì đây là cảm thức thường xử lý như một hình thức kỹ thuật, tôi luyện trí óc là một yêu cầu huấn luyện đầy đủ như cách trừng phạt được ghi nhận là rõ ràng cho tất cả những gì thông thường trong một trạng huống tâm lý thỏa thê, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi bộ môn làm mới lại cuộc đời. Phiá ta; trường hợp của thi sĩ Bùi Giáng là một tâm lý hạn hữu, một kiểu thức ‘trừng phạt’ do trí tuệ gây nên; bởi người nhận thức được từ vô thức sang hữu thức, nghĩa là trạng huống nửa vời (khi tỉnh khi say) một trạng huống ghi nhận từ não thức biến động đưa tới vô thức, siêu hình hóa để quên mình hiện hữu giữa đời. Đó cũng là bệnh lý tâm thần cá nhân (không liên can vào sự nghiệp văn chương của thi sĩ mà một số người đã dựa vào để phê nhận và cả quyết đó là hiện tượng xuất thế hay vì không ngăn nắp trong cuộc sống mà trở nên có tiếng đời hoặc có thể xuất thần trong một hỗn loạn tâm thức mà thành văn?). Đó là cái nhìn cảm tính cho thi sĩ chớ đứng trên phương diện tâm lý thời thi sĩ mắc chứng tâm bệnh (mental-illness) chứng hỗn loạn não thức (cerebro-psychic), từ điểm đó biến thi nhân thành hiện tượng của thi ca. Dòng thi ca của thi nhân là dòng của ‘siêu thoát’ chớ không phải đi qua dòng chảy của hiện tượng. Rứa mà cứ nhắm vào hiện tượng chớ không nhìn vào bệnh lý; đó là đứng trên mặt chủ quan để phê nhận giá trị như chứng tỏ ta với người là một. Tâm lý này thuộc dạng hủ hóa tâm thức; vì không thấy bên trong trạng huống mà chỉ thấy bên ngoài trạng huống rồi từ đó cho những gì xẩy ra của thi sĩ đều là phi thường; cái đó là ‘unconsciously’. Có hai cái nhìn. Thí dụ: nhận thức của thiếu nữ nọ luôn thấy mình mập (béo) không muốn ăn, phải nhịn ăn vì ăn nhiều là mập và xấu đi, rồi từ đó gầy mòn đi tới cái chết. Người đàn ông khác nặng quá ký thì lại đòi ăn để giảm cân. Đó là hai trạng huống tâm lý và sinh lý của người nghệ sĩ là thế… Nhưng; ‘có người gọi tôi mắt chứng tâm thần là giết tôi đó’ “Those who call on me mentally; are killing me” (Mary Baker). Dựa câu nói này thì đây là tâm lý bề ngoài (outward) cho một sinh lý bên trong (inner) của người phi thường hay có thể đây là hình thức huyền thoại hóa để không thấy bệnh lý của thi nhân. Có nhiều đối tượng tương quan trong phân tâm với cái nhìn thuộc xã hội. Thấy được tâm lý hơn là thấy nhiều bóng tối. Đấy là cái nhìn chung về tâm bệnh không riêng văn nghệ sĩ, nhưng; phải nêu đại diện của thi sĩ là một thực nghiệm cụ thể. Bệnh lý tâm thần người bình thường có nhiều khiá cạnh khác nhau, có thể trong dạng thức siêu hình, trừu tượng không đi từ lý trí mà đi từ bản năng khác; với văn nhân, bệnh lý đó là vận dụng trí năng, một não thức vận chuyển để thành hình qua một trí tuệ phát tiết, có khi vượt ngoài nhận thức đem lại một ý thức vô thức nhưng trong vô thức của người nghệ sĩ thì thấy đây là một ý thức sẳn có (already) của hữu thức. Cho nên chi người mắc chứng tâm thần không riêng người mất trí. Freud cho đây là sự xuất thần đột khởi cũng là một trong những triệu chứng gây ra từ não thức. Vì vậy; rối loạn tâm can có thể đẩy bệnh nhân đi vào hố thẳm, tuyệt vọng, nguồn hứng khởi nơi con người không còn nữa, phải mượn hóa chất, độc dược để có cảm hứng. Chính trong tìm kiếm đó là đi tìm một trí năng suy tàn. Có nhiều dữ kiện khác nhau tiếp tục để giảo nghiệm, nhiều định nghĩa cho từng trạng huống về triệu chứng mà tuồng như thiếu khả năng để xác quyết. Đây là một chứng cớ hiển nhiên trong cái gọi là ‘demeure/mentally’ qua lời nhận định của Maurice Blanchot: ‘L’instant de ma mort / The instant of my death’ có nghĩa là tuyệt vọng để van xin một cái chết tức thời khỏi phải đau đớn ‘vết thương’ tâm hồn và thể xác.Trạng huống của con người nghệ sĩ là một tâm lý bốc đồng, bỡn cợt hay hứng khởi trong một tư duy riêng biệt, có khi không nhận ra được đó là sự thật hay giả dối, có khi tha thiết và cũng có khi van xin. Một trạng huống bất thần, biến sắc… Ngay cái chết gần kề thì lại thức tỉnh để có cái chết dịu êm hơn là sống đau. Đấy là tâm lý chung; ảnh hưởng nơi con người nghệ sĩ, trong đời thường hay trong một diễn biến thuộc tư duy cá nhân. Một lần nào đó; có một thi sĩ ao ước xin được chôn mình nơi biển cả.Nghe qua như là mộng siêu tưởng. Nhưng trên thực tế là chuyện thường, bởi; trong con người nghệ sĩ không thấy mình lâm vào hoàn cảnh của bệnh lý tâm thần.


Nói tóm lại; trong mọi viện dẫn về trạng huống tâm thần của văn nghệ sĩ là điều được mô tả sâu sắc qua vai trò thi nhân; bởi trạng huống thi nhân xuất thần trong những hoàn cảnh đáng kể hơn những vai trò khác, hiện tượng đó đưa dẫn tới một lý tưởng hình thành cho một ngữ ngôn trong sáng theo tư duy, nhưng; trong sự trong sáng đó không nằm trong não thức hoàn toàn của người nghệ sĩ mà nó vượt ra ngoài như một kinh ngạc có một xác định đường lối hiện đại của một tâm lý thuộc dạng vô thức xẩy ra. Nguyên nhân đem lại bệnh lý một sự tha hóa trí tuệ, tuồng như đây là một lý sự buộc phải mà chẳng qua bệnh nhân lâm vào hoàn cảnh ảo hóa bất thần trong não thức để được trở về với ‘hồn nhiên’. Điều nầy tuồng như là một hiện thể xấu xa. –It semes to be a bad thing, disadvantageous to the creative activity of the soul, là điều bất lợi tạo nên bởi khả năng hoạt động của tâm hồn. Lý tưởng đó là dòng chảy không ngừng đang dồn tới cho họ. Một ý tưởng chú ý đến trong dạng thức cách ly giữa người bình thường và không bình thường, có thể cho ta thấy điều không thể hứa hẹn cho dù có phi thường đi chăng nữa, nhưng; có lẽ sự cớ này là một liên hợp để phân tích trạng huống; thì may ra có chứng cớ do đâu mà ra và do đâu mà có, mặc khác; điều này có thể phát hiện ở một trạng huống do ngu si đần độn vốn đã chất chứa trong huyết lệ để rồi cung phụng trong dạng thức tiếp dẫn sự việc. Trái lại; trong não thức tạo nên sự kiện, một tri thức bị rào cản, ngăn chận, canh chừng trước cửa ngõ của một bốc-đồng-xen-lẫn (pell-mell) mà chỉ có một tri thức đứng ra quan sát và nhận định cho tất cả những gì xẩy đến giữa vô thức và hữu thức. Không những ngăn chận con bịnh trong chất liệu của dòng chảy vô thức tuôn trào, mà ngay cả điều không kiểm soát được: tưởng tượng, mơ mộng, và bỡn cợt của lý trí, để rồi thua cuộc trước những bóng dáng vô hình triền miên của thế giới vô thức mà giờ đây chỉ hướng về sự nhận định và thanh lọc những gì rối loạn của nội giới –như những gì chúng ta nói đến tâm thức của người nghệ sĩ.Nếu lý luận này có thể giúp ích được một cách trọn vẹn và đây chỉ là nhận định đưa ra. Ấy là những gì thuộc khoa phân tâm học muốn nói đến ./.


(ca.ab.yyc. 1/6/2015)


SÁCH ĐỌC:

- ‘Theory After Theory (A Intellectual History of Literary Theory)’ by Nicholas Bir ns. Broadview Press. Canada/USA 2010.

- ‘The Future of an Illusion’ by Sigmund Freud. Tran. By James Strachey.W.W. Norton & Company. New York. London 1962.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 04.7.2015.