Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Rằng Xưa Có Gã Từ Quan …



Theo quy luật tuổi tác và tùy quy định niên hạn mỗi nơi,mỗi nước,khi sức khỏe rung chuông báo điểm dừng là phải ngừng thôi - về thôi - “Về đi thôi hề,ruộng vườn sắp hoang vu,sao không về? Đã tự đem lòng cho hình sai khiến,sao còn một mình buồn bã đau thương?...” (Quy khứ lai hề,điền viên tương vô,hồ bất quy?Ký tự dĩ tâm vì hình dịch,hề trù tướng nhi độc bi?) (1)

Lui về ẩn cư,buông xả hết mọi sự,an nhiên tự tại,rong chơi hòa nhập cùng bản thể vũ trụ :


1-Thăm nhà cửa vườn cây trên núi

Vui lên cao vời vợi xa trông

Bối Am thưa thớt rặng tùng

Mây quanh Thái Lão đá tầng phẳng phiu

Như đàn hát chim reo ríu rít

Ráng sườn non,tranh đẹp nào hơn

Ruộng đồng: xuân ý chứa chan

Áo tơi nón lá,ai đang cày bừa.


2-Ẩn trong núi chẳng vào triều yết

Chống gậy lên núi biếc du xuân

Đã qua sóng gió đường trần

Mới hay mây khói dưới chân non Hồng. (2)


Trong lịch sử từ quan có thể nói trường hợp Nguyễn Công Trứ(1878-1858) là suôn sẻ nhất - hoạn lộ tuy thăng trầm nhưng ngài“hạ cánh an toàn”. Nói theo theo ngôn ngữ Tổ chức bây giờ do “lý lịch chính trị” sạch không dính líu với triều đại Tây Sơn cũ (suy tàn năm1801),quá khứ nhẹ thênh,nên bước xuất chính (1820) của Nguyễn Công Trứ với vương triều nhà Nguyễn mới lên như “Rồng mây khi gặp hội ưa duyên/Trong lang miếu,ra tài lương đống/Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”(Kẻ sĩ) .Ông một lòng một dạ“Thượng vị đức,hạ vị dân/Sắp hai chữ quân thân mà gánh vác” (Phận sự làm trai).

Làm xong phận sự nam nhi - nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo,tiên sinh lui về ngơi nghỉ vui thú tiêu dao,dành chút quỹ thời gian ít ỏi còn lại cho riêng mình : “Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch/Tiêu dao nơi hàn cốc, thanh sơn”(Kẻ Sĩ)

Trường hợp Nguyễn Khuyến(1835-1909) sống vào lúc nền nếp của triều đình nhà Nguyễn đã ổn định. Ông có chí quyết khoa,đậu đến Tam nguyên - hoạn lộ tuy bằng phẳng nhưng không hiển hách. Mười hai năm làm quan thì có đến sáu năm làm ở Sử quán, một thứ nhàn quan. Không được giao trọng trách nên ông cũng không phải trực tiếp vật lộn với các vấn đề gay cấn của tình trạng giặc Tây, giặc khách, đê vỡ, mùa mất,... của thời Tự Đức. Thế rồi tình hình chuyển thành nguy kịch. Thực dân Pháp đánh Bắc bộ, chiếm kinh thành(Hoàng Diệu tuẫn tiết). Tự Đức mất. Triều đình lộn xộn. Nguyễn Khuyến lấy cớ ốm đau, xin cáo quan về trí sĩ (1885). Theo GS Trần Đình Hượu (1926-1995) :“Vấn đề đối với ông không phải là xuất/xử mà là hành /chỉ: ở hay về. Ông đã giải quyết vấn đề đó một cách nhanh gọn. Ông tự cho như thế là dũng thoái, ra về dứt khoát, nhẹ nhàng, không dùng dằng mất nhiều thì giờ. Chọn con đường rút lui, Nguyễn Khuyến cũng có cân nhắc, suy nghĩ nhưng vấn đề đặt ra để tính toán là tình thế và sức lực, là mình với kẻ khác, là bản thân với gia đình”(3):


Mười mấy năm qua ấn với thao
Thân này mong được đức vua yêu
Việc nhiều hay ốm đành hưu vậy,
Ngày một lần ăn chửa nỗi nào.
Giúp nước, bạn bè còn lại đó,
Về nhà con cái, chắc hiền đâu.
Từ đây ngất ngưởng ngồi nâng chén,
Lại nỡ làm nhơ sử sách sao?
(Cảm tác của Nguyễn Khuyến - Đỗ Ngọc Toại dịch)


Nhìn lại lịch sử quan trường khi cục diện chính trị thay đổi,thời thế sấp ngửa, những người tri thức,có nhân cách phần lớn đều rút lui không muốn hợp tác với triều đình mới .Sĩ khí nhà nho đã mách bảo : Bó thân về với triều đình/Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu /Áo xiêm buộc trói lấy nhau/Vào luồn ra cúi,công hầu mà chi? (Kiều).Họ lui về làng quê, nơi hương đồng gió nội, xa chốn phồn hoa thị thành,hoặc tìm tới nghề dạy học -“Tiến vi quan,thoái vi sư”như :

* Chu Văn An (1292-1370) quê ở Thanh Trì (Hà Nội). Ông làm Tư nghiệp Quốc tử giám đời Trần Minh Tông (1314-1340). Dâng “Thất trảm sớ” xin chém 7 tên loạn thần, không được vua Trần Dụ Tông (1341-1368) chấp thuận, ông từ quan, về Hải Dương dạy học. Về sau, vua Trần có đôi lần mời ông ra làm quan, nhưng ông đã từ chối và vẫn ở lại làng quê để truyền dạy cái chữ cho môn sinh. Học trò của thầy Chu Văn An sau này có nhiều người nên danh, nên giá như Lê Quát, Phạm Sư Mạnh. Người đời sau tôn vinh thầy là bậc sư tổ của nghề dạy học ở nước ta và thờ thầy ở Văn Miếu - Quốc tử giám Hà Nội.


* Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), đỗ trạng nguyên và làm quan đời nhà Mạc, chức Tả thị lang. Cũng như Chu Văn An, ông từng dâng sớ xin vua cho chém 18 tên loạn thần. Từ quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê làm nghề dạy học và vui thú với điền viên. Thơ chữ Hán, chữ Nôm của thầy, rất nhiều bài “hay và đẹp lạ thường”, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

* Nguyễn Huy Tự (1743-1790) người Hà Tĩnh, từng làm Tri phủ Quốc Oai (Hà Đông cũ) và giữ chức “Nhập nội thị giảng”trong phủ chúa Trịnh. Ông là tác giả của tập“Hoa tiên” nổi tiếng. Khi mẹ vợ mất, ông về quê chịu tang, rồi ở lại quê làm nghề dạy học cùng cha,vĩnh viễn từ bỏ chốn quan trường.

* Bùi Huy Bích (1744-1818), cùng quê với thầy Chu Văn An (đời Trần), giữ chức tể tướng thời Lê Trịnh. Thời thế đảo điên, ông rời bỏ thị thành về quê sinh sống bằng nghề “gõ đầu trẻ”. Nhiều lần được các vua Lê Chiêu Thống, Quang Trung, Gia Long vời ra làm quan, thầy đều chối từ.

Khái niệm “từ quan”gần đây rộ lên với trường hợp ông Nguyễn Sự (Bí thư Hội An) xin về nghỉ hưu sớm(trước 2 năm) .Dư luận chung rất quan tâm và ngưỡng mộ. Kể về triết lý tàu lá chuối. Trong khi những cây khác lá vàng tự động rụng xuống cho lá xanh vươn lên thì tàu lá chuối luôn bám chắc vào thân cây khi đã héo quắt. Những tàu lá chuối héo bám chắc đến nỗi nếu muốn bứt nó ra thì phải cắt bỏ. Ông bảo:“Tôi không muốn làm một tàu lá chuối.Tôi nghỉ lúc này là hơi muộn. Không có gì băn khoăn cả. Nhiều anh em nghĩ như tôi, họ cũng thấy đó là điều bình thường. Ở lâu trên cương vị thì có nhiều kinh nghiệm nhưng sẽ không còn nhanh nhạy,chậm theo kịp cái mới. Mình tiếp tục ngồi lại sẽ cản đường anh em, khiến họ không có cơ hội thử sức, sáng tạo, cống hiến và phát triển”.(nguồn internet)

Đến tuổi hưu phải nghỉ là chuyện bình thường nhưng treo ấn từ quan có năm bảy đường : bất phùng thời,bất như ý,bị đấu đá,hạ bệ, thời vận đã sắp hết …

Ở lại làm gì nữa,thói đời xưa nay phù thịnh chẳng ai phù suy.Nghĩ thế cũng đừng lấy làm lạ :


-Mai về bạn chớ ngẩn ngơ
Nay còn ấn kiếm,bây giờ thường dân
Chẳng xe đưa đón tận sân
Không còn thuộc hạ tụ quần ngoài trong.


-Từ mai ngõ sạch cửa thông
Những phường cơ hội sẽ không tới nhà
Bè”hờ”,bạn”rỡm”,lảng xa,
Chỉ còn nhiều gió trăng qua với mình. (3)

Do vậy hành động rũ áo từ quan,là quyết định khôn ngoan sáng suốt !


Ta về rũ áo mây trôi

Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan

Rằng xưa có gã từ quan

Lên non tìm động hoa vàng ngủ say (5)


(Saigon,25/6/2015)


(1) Nguyên tác“Quy khứ lai từ” Đào Tiềm - bản dịch Trần Trọng San(Theo sách Hán Văn- NXB Bắc Đẩu,Saigon 1970 ) . Đào Tiềm (365-427) - hiệu là Uyên Minh,tự Nguyên Lượng biệt hiệu Ngũ Liễu Tiên Sinh,người đất Tầm Dương đời Tấn được bổ làm Tri Huyện Bành Trạch được đúng 80 ngày thì nước Tấn bị Tống Công - vua Cao Tổ Võ Đế hủy diệt.Vua Tống buộc các quan lại nhà Tấn phải tiếp rước trọng thể,mặc áo cài dải.Đào Tiềm nghĩ mình là tôi thần nhà Tấn,hạ mình để được chức quan rất hổ thẹn,liền treo ấn từ quan,lui về vui thú điền viên.(Theo chú giải Thành Ngữ Điển Tích Danh Nhân Từ ĐiểnTrịnh Vân Thanh,Quyển I,NXB Hồn Thiêng Saigon,1969,trg 220).

(2) Nguyên tác “Sài Sơn xuân diếu” - TS.Phan Huy Ích (1750 - 1822) – Trần Lê Văn dịch – tuần báo Văn nghệ Xuân Quí Mùi 2003)

(3) “Vấn đề xuất xử của nhà nho và sự phát triển trong thơ Tam nguyên Yên Đỗ” – Trần Đình Hượu - Nguồn : tonvinhvanhoadoc.vn

(4)“Mai bạn về hưu - Nguyễn Long – Văn Nghệ số 45(08/11/2003)

(5)Tập thơ Động hoa vàng - Phạm Thiên Thư - cơ sở Văn Chương xuất bản lần thứ tư – Saigon,1971,tr 46)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 28.6.2015.