Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ “Bán Diện Phật / Buddha’s Profile’
của Võ Công Liêm




KIM CƯƠNG TẠNG THỂ






    T ại sao gọi là tạng thể mà không gọi như xưa nay là Kim Cương Thừa hay Kinh Kim Cương? Kim Cương là trong sáng, sắc bén cắt đứt mọi vật thể thời đó là tạng thể. Như Lai Tạng (Tathagatagarbha) là Bản Thể Chân Như: Chân Tánh, Niết Bàn Tâm, Tâm Không, Vô Diệt, Bất Nhị, Nhất Thiết Trí là tâm trong sáng, soi rọi, phản chiếu ánh sáng làm lu mờ mọi vọng niệm; là thể chất không thể đập vỡ dưới bất cứ dạng thức nào.Một phẩm kinh thường hằng,siêu việt được gọi chung là Kim Cương.Vậy muốn chứng nghiệm Kim Cương Tạng Thể là Như Phật ở nơi mình là tâm vắng lặng trước mọi vọng dục ’desire’ là phải có tuệ giác (prãjna), một thân trí tự-giác là ngộ Bồ-Đề-Tâm cho một Kim Cương Tâm. Phẩm kinh này du nhập vào Tây phương (1799) đã có một vài đánh giá sai lầm về ngữ ngôn cổ Ấn và xác nhận là kinh chung của Phật giáo hoặc rút ra từ những kinh Phật học.Thực ra giờ ấy phương Tây chưa tìm thấy ngọn nguồn chân lý tuyệt đối của tồn lưu, tồn lại, tồn duy của kinh Phật. Kim Cương Thừa được đại sư Cưu-Ma-La-Thập người xứ Dao Tần nước Thiên Trúc (Ấn-Độ) đem theo Kim Cương Thừa truyền bá vào Trung Hoa năm 392 (trước Công Nguyên (BC). Theo phái Mật Tông; từ ngữ Kim Cương là ‘Tantra’ rút từ Phạn ngữ (Sanskrit) là một kết hợp Kim Cương Thừa của Ấn Độ giáo và Kinh Kim Cương của Phật giáo. Cả hai xuất xứ từ Ấn Độ nhưng mỗi phẩm kinh xử dụng từ ngữ theo cách riêng của họ. Ngày nay gọi chung một từ là Kinh Kim Cương hay Kim Cương Tạng Thể. Nói chung dù khác biệt chi đi nữa đều hàm chứa một giáo lý tợ như nhau là Kim Cương Tâm mà phải là Tâm Vô Thượng chính Đẳng chính Giác. Ngày nay thường dùng để rao giảng trong giáo lý nhà Phật:Tâm-Bát-Nhã-Ba-La-Mật-Đa-Tâm-Kinh (Prajnãpàramitàsùtra) nghĩa là Kinh Ruột Tuệ Giác Siêu Việt là phẩm kinh(trong Kim Cương)vượt qua bến mê để tới bờ giác.Nguyên ngữ của Bát-Nhã-Ba-La-Mật (Mahãmutrà) là một giáo lý chân truyền để chứng ngộ trong tự-tâm một hình thức như-nhiên và thuần-tịnh.

Vậy thì muốn hiểu biết về Kim Cương Tạng Thể là TÂM phải thấu triệt, là cốt tủy thâm hậu trong Bát Nhã Ba La Mật nói lên cái chân-tâm con người tức Như Lai Tạng Tính là Bản Lai Diện Mục một siêu lý nghĩa là không trụ vào hình danh, sắc tướng để ‘thánh thiện’ mà trở thành xuất thế vĩnh cửu. Mặc khác tiêu diệt toàn bộ thuộc vọng bởi ngũ uẩn, lục trần quấn quít trong một vọng tâm có hiện tại, quá khứ, vị lai là thời gian biến thiên trong cõi người ta. Kim Cương Tạng là thuốc chửa tật nguyền cho tâm linh, chiếu vào đời một sự chứng ngộ tức giải thoát con người ra khỏi trầm luân, bến mê là giải thoát tâm trí vượt qua mọi gian truân để kiếp sau (luân hồi) toàn thiện hơn (trong giáo lý nhà Phật nói đến luân hồi và cõi Niết Bàn chỉ là định nghĩa của hiện thực con người chớ không chứng thực hiện thể của cõi vô-cùng có từ đâu và đến từ đâu, mà hướng tới ‘cõi-tâm’. Cõi tâm là con đường sáng đi tới Luân Hồi và Niết Bàn của Như Lai Tạng; là điểm hẹn của con người đang tại thế.Ngay cả Phật cũng coi Niết Bàn là ‘đất hứa’).

Chỉ ngần ấy thôi cũng đủ chất chứa một giáo lý thâm truyền; hầu hết kinh Phật đều hướng tới một bản thể của Pháp là như nhiên, là tâm trong sáng. Hình thái của Kim Cương Tạng Thể tức Kim Cương Thừa ‘Kriyatantra’ là nhắm vào hành động cá nhân, bởi; hành động là ‘Kriya’ là tác động vào tâm con người, một biểu hiện liên hệ giữa người và người đó là sự tương giao, hiệp thông giữa gia đình và xã hội, chính hai phương diện này cấu kết vào nhau có thể ảnh hưởng đến hồn người, hiện thể đó đã giao động tâm thể, xáo động phát sinh ở chính ta, dù có tác động bên ngoài nhưng tâm Kim Cương là trong sáng và bền vững để đưa con người tới chủ thể siêu việt từ những gì siêu lý để chứng ngộ. Có lẽ; đây là quan niệm được chấp thuận rộng rãi và cũng là nền tảng của Kriyatantra/Kim Cương Tạng Thể ở tự nó mà ra. Để mở rộng chân lý tánh-không (sùnyatà) của Kim Cương Tạng Thể là tìm hiểu tiêu chuẩn cứu cánh ‘aim’ để diệt khát vọng mà ta đang ở trong một hiện thể cuộc đời, cái đang là ‘to on/being’ tức hiện thể tính là lưu giữ cái thể tính trọn vẹn. Triết lý Tây phương hướng tới cơ sở Luân lý học và Khoa học là duy tâm đường lối cải thiện bản thể, đó là nguyên nhân sự cớ có hiệu suất ‘causa-efficiens’ để làm nên sự việc. Xét ra cái đó khác chân tâm nhà Phật, bởi; trong Bát Nhã của Kim Cương Tạng Tính là linh động tiêu diệt hư-ảo vì đó là mộng tức không thực với tâm linh con người. Hiểu thêm rằng Bát-Nhã là Tâm; cho nên chi nói tới Bát Nhã là nói tới Tánh Không là không còn chấp trượt. Vì; tánh-không tức là ở trạng thái của thực chứng ‘Thánh trí’ nghĩa là vô phân biệt là chủ động không lệ thuộc vào giá trị nhân-quả, luân-hồi, niết-bàn mà Kim Cương Tạng Thể là vượt thoát để đi tới chứng ngộ không còn trói buộc vào bất cứ hoàn cảnh nào vì tâm và trí đã giải thoát toàn diện; không còn phép nhị-nguyên mà còn lại nhất-thể độc lập thuộc về thế giới Thánh trí. Như điều đã hiểu, biết tất cả là biểu hiện của thân tâm trong cuộc sống, cử chỉ hay hành động đều xuất phát từ chân tâm ‘nhất thiết chi tâm đạo’ chỉ một ĐẠO là con đường sáng của Tâm-Bát-Nhã đó là cốt tủy của đạo Phật, cốt tủy của Kim Cương Tạng Thể là diệt vọng để có được chân-thể. Rứa cho nên chi dù là Kim Cương có rao giảng, thánh thiện, thánh trí đi nữa đều là hư-không; theo Thiền Phật giáo cho đó là gạn ép, buộc phải thời tất mất đi tánh-không; cái đó chỉ là thuật ngữ giáo điều một văn tự, kinh điển đi vào thủy tử thời không chuyên chở được gì cái Pháp của Phật, mà Phật hô hào ‘phát tâm’ để chứng quả. Đó là nguyên lý tánh-không trong Kim Cương Tạng Thể.

Nói như rứa thì Kim Cương Tạng Thể chứa đựng gì? Là chứa đựng một tri giác về tất cả hiện thể nơi chân tướng của chúng ta –It is the perception of all things in their true form (sarvadharmànàm bhùtapratyaveksà) Và những gì như-nhiên là thuộc về tri giác sống thực –And again; what is the nature of this true. It is this perception. Nói chung là không hiện (non-appearing), không quán (non-comprenhensible), không chức năng, vị trí (without any position) là con đường trung-đạo một hình ảnh trung thực nhận ra được. Đó là thực tính trong Kim Cương Tạng Thể. Một phương thức hữu hiệu nhất của Kim Cương là trí tuệ/prãjna và tu luyện/upaya là khai ngộ để giải thoát. Ngoài ra Kim Cương sống thực chân tâm như Như Lai Tạng Tính thường xuyên trong thực tại chớ không nhất thiết tu chứng để đạt tới khai ngộ. Trọng tâm chính yếu để đạt tới là hiểu rốt ráo về tạng thể của Kim Cương tức nhập vào Pháp/Sadhana của Kim Cương Kinh. Kinh là Sutra và Tantra từ ngữ củaTây Tạng; là sự kết hợp hay nhập là dứt khoát lià xa cõi trần tục để có một tâm linh chân-như không phiền não, không khổ đau. Trong mọi dữ kiện cuộc đời đang sống là phát hiện được sự khai ngộ đi qua từ đốn ngộ mà ra nghĩa là diệt được một bản ngã hư vọng trong phút chốc của đốn ngộ. Đốn là ý thức của ‘conscious’ trong một ý thức bộc phát ‘spontaneous’ để ngộ ra được thời gọi là ‘đốn ngộ’ có thể hiểu là con đường ngắn nhất để nhận ra được Tạng-tánh của Đạo pháp/Dharmakaya. Theo giáo lý Kim Cương bản ngã tự tại một phần đưa tới u mê tánh khí, một ‘egotism’ nói về mình trước tha nhân lắm khi không còn thấy mình vì ngã ngự trị trở nên vô-minh/rudra; chính sự lý đó Kim Cương Tạng Thể cho là chấp ngã của Trượt, cái tôi/ngã làm cho thần trí bệnh hoạn. Trạng thái đó không thể du nhập vào tạng tính của Kim Cương mà đứng ngoài vòng cương tỏa của Kim Cương Tạng Thể. Thời tất tu chứng không có hiệu năng tác thành. Cội của Kim Cương Tạng Thể là vô-phân-biệt giữa thiện và ác, bởi nghiệp quả. Đó là ý thức được, nhận thức được là giải thoát được cho một bản thể tự tại và bản thể kiếp sau (được tái sinh như quan niệm người Ấn Độ giáo). Nguyên lý của nhận thức là phạm trù dữ kiện của tri giác của A-Lại-Da-Thức, Mạt-Na-Thức và sáu thức còn lại lập thành chữ Tâm/Citta. Tạng Thức của Kim Cương được miêu tả sự kiện là ‘nhầm lẫn’ chớ không ‘phạm tội’ không có vấn đề giữa có tội và vô tội. Ý niệm tội lỗi không có một liên đới gì trong Phật Pháp, bởi đòi hỏi của Pháp là Tâm. Mà tâm sáng là tâm khai ngộ trong Kim Cương Tạng Thể. Đó là phép sống hiện sinh của tạng tính, một thuật ngữ của Kim Cương Tạng Tánh nghiã là không có gì to lớn vĩ đại, tối thượng ‘Mahasukhakaya’ mà chỉ có chân phúc mà thôi (maha: không có to lớn. sukha: chân phúc) mà phát sinh ra tâm thân/Kaya. Một khi tâm thân xáo trộn thì nhất thiết không còn gọi là tự do để rồi chìm vào biển mê của luân-hồi (Samsara) và cõi niết-bàn (Nirvana) không còn là cõi vĩnh hằng vì dục còn tồn lại thì tồn lui còn vướng vân, cõi đó là cõi ảo hóa chớ không còn là thực tướng tánh không (Sùnyatà) trong Kim Cương Tạng Thể (Vajrakaya) còn được gọi là Kim Cương Thân là bản chất nội tại của Vajra là bản thể trong sáng không thể hủy hoại được. Tánh không là phủ định và vượt lên tất cả hình danh sắc tướng (Namarupa) để đi tới cõi không tức là đạt tới siêu-thức hay thần-thức của tâm-như-nhiên; đây là triệu chứng hiện ra của ý thức luận (conscience logique) vì vọng động đó mà ly khai bản thể của tâm; thành ra có hai con người trong một con người, con người ý thức và con người vô thức. Kim Cương Tạng Thể hóa trị (chemically) để nối lại cõi vô thức và cõi ý thức thành một cái tâm đại đồng là phân biệt hữu thể và vô thể, giữa vô thức và ý thức thì khống chế được mọi tâm tối và ánh sáng của Kim Cương xuất hiện. Theo triết lý Phật giáo không có sự khác biệt của bản chất và hiện tượng. Bởi; Bản chất (essence) Tồn tướng (existence) và Dụng (usage) nghĩa là chẳng có cái nào có trước và cái nào có sau mà đồng-có tức là Dụng. Còn hiện tượng là chẳng ‘có’ mà chẳng ‘không’. Không đây là không có thật cái thực tướng của nó; mà là chân-như-thực-tánh (nature realistic).Vì cả hai; một khi đã có cái này thì có cái kia thuộc về luật thừa trừ. Nguyễn Du nói đúng ‘bỉ sắc tư phong’ thời không có gì là tồn lưu tồn lại tồn lui tồn lập miên viễn cả mà phải tồn tồn (existent).Rứa thì tiên sinh Nguyễn Du đưa ra luận thuyết đó làm chi rứa? Dạ thưa ‘Shunyata’ là ‘Không Sắc’ một sự trống-không; một chuyển dịch vũ trụ. Là; bối cảnh của Shunyata nằm tại khung cảnh hơn là nội dung hàm chứa cho ‘bỉ sắc’ và ‘hư không’.Cái siêu lý trong Nguyễn Du là siêu lý thâm hậu !


Nền tảng của Kim Cương Tạng Thể là một sáng tạo khai mở ‘Shunyata’ cái siêu lý của nó không còn nghĩa là ‘trống-không’ mà biến thành ‘tánh-không’ trong Kim Cương Tạng Thể; nó cũng là nền tảng trong pháp môn tu luyện Phật giáo. Cuối cùng rồi cũng gặp được Kim Cương Tạng Thể tức thị chứng Như Lai Tạng Tính (Tathagatagarbha) là biểu thị nguyên lý thuần khiết của vô nhiễm, không vướng bụi trần để tâm-như trong sáng. Một tâm như cần thiết đối với Kim Cương Tạng là vai trò chủ lực đưa đường dẫn lối cho một giải thoát. Như vậy Kim Cương Tạng Thể không còn là dạng thể huyền bí, ẩn dụ hay siêu hình mà là một hiện thể Trung-đạo; con đường trung hòa đi vào người và đi vào đời. Kim Cương là bước tiến hóa cá nhân. Khi đạt tới Chân-như của Kim Cương tức là đạt tới Chân-Phật mà tâm phải hoàn toàn tinh khiết vì lúc đó không còn gì để nghi ngờ thực chất của tạng thể. Đó là yếu tố cấu thành Kim Cương Tạng Thể, một hiện tượng thể ‘Mahamudra’, hiện tượng rực sáng cho một hào quang chính xác, nhận ra được bản ngã ‘tôi’ không còn tồn lưu mà thay vào đó tinh thần phá chấp của Kim Cương là vượt mọi giới hạn của toàn trí, toàn năng, toàn lực. Một dự phóng vô biên và lan tỏa, nó hoàn thành sứ mạng mong ước và nhu cầu của chúng sanh. Đấy là hình tướng của Kim Cương Tạng Thể xuất hiện, một sự xuất hiện vĩ đại ‘Mahayogatatra’ mang theo một ý nghĩa tuyệt đối trong cách lý giải vấn đề tương quan giữa suy tư và hành động, giữa hữu thể và vô thể và đâu là ánh sáng và đâu là bóng tối của luân-hồi và niết-bàn. Cõi đó không có đâu xa mà ngay trong ta nơi Kim Cương Tạng Thể chứa đựng ./.


(ca.ab.yyc.Mùa Phật đản. 24/5/2015)


SÁCH ĐỌC: ‘The Doctrinal Foundations’ by Paul Williams.(Lecturer in Indo-Tibetan Study University of Bristol) Routledge. London and New York.1989.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 21.6.2015.