TÁC PHẨM
TÁC GIẢ





Huyền Viêm sinh năm 1930 tại Quảng Nam .

Hiện sống tại Sài Gòn - Nam Việt Nam.

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN :

.Thơ Mùa Chinh Chiến.
. Hạnh Ngộ.








THƠ


PHỐ HỘI TÌNH XA

THU XƯA HÀ NỘI

HAI MÙA PHƯỢNG

DƯ ÂM HUẾ

HUYỄN MỘNG

ĐÂU NHỮNG MÙA XUÂN ?

CHÙM THƠ XUÂN

CHÙM THƠ ĐẦU MÙA HẠ




BIÊN KHẢO


THÂM TÂM VỚI DANH TÁC “TỐNG BIỆT HÀNH”

CHUYỆN TÌNH CỦA TÔ ĐÔNG PHA

HAI CÁI CHUNG TÌNH
MỐI TÌNH THƠ NGUYỄN BÍNH – ANH ĐÀO


SAINT EXUPÉRY

PHI CÔNG HUYỀN THOẠI


DƯƠNG QUÍ PHI
Người Đẹp Làm Nghiêng Ngửa Nhà Đường


TỪ HY THÁI HẬU
NGƯỜI PHỤ NỮ LÀM SỤP ĐỔ CƠ NGHIỆP NHÀ THANH


VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

VÕ TẮC THIÊN, NỮ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA TÀN ÁC VÀ DÂM ĐÃNG

VỀ HUẾ THĂM LĂNG

YẾN LAN VỚI BẾN MY LĂNG HUYỀN THOẠI

TÂY CŨNG HỌA THƠ

NGÀY XUÂN ĐỌC THƠ XUÂN ĐƯỜNG TỐNG

THƠ XUÂN CỦA ĐÔNG HỒ VÀ MỘNG TUYẾT

THIÊN TÌNH SỬ CỦA LỤC DU

TRẦN HUYỀN TRÂN , ĐÂY MỘT LOÀI HOA KHÁC HẢI ĐƯỜNG

CHUYỆN TÌNH CỦA LƯƠNG KHẢI SIÊU

QUANG DŨNG, THI SĨ TÀI HOA, LÃNG MẠN

TÌM XUÂN QUÁ MUỘN







































TÌM XUÂN QUÁ MUỘN



V ào thời Vãn Đường (836-905) số thi nhân nổi tiếng rất ít, không tới mươi người, trong đó có Đỗ Mục, Lý Thương Ẩn và Ôn Đình Quân được gọi là “Ba nhà thơ lớn thời Vãn Đường”.

Đỗ Mục (803-852) là nhà thơ nổi danh vào bậc nhất thời này, không kém gì Đỗ Phủ thời Thịnh Đường nên người ta thường gọi ông là Tiểu Đỗ để phân biệt với Đỗ Phủ là Lão Đỗ. Tài thơ của ông ngang với Lý Thương Ẩn nên người đương thời cũng gọi hai ông là Lý Đỗ (có ý so sánh với Lý Bạch và Đỗ Phủ thời Thịnh Đường).

Đỗ Mục tự là Mục Chi, hiệu là Phàn Xuyên, người huyện Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là tỉnh Thiểm Tây), lúc còn ít tuổi đã nổi tiếng là người có văn tài. Năm 26 tuổi (828) dưới đời vua Văn Tông, ông thi đỗ tiến sĩ, làm quan ở triều đình một thời gian rồi phải đổi đi các châu huyện.

Tính tình cương trực, có khí tiết, ông nuôi chí lớn, muốn cải thiện xã hội, giảm bớt nỗi thống khổ của nhân dân, vì thế ông thường bị các quan trên nghi kỵ nên hoạn đồ gặp nhiều nỗi long đong. Ông vốn hào hoa, phong nhã, dáng dấp thanh tú, đa tình, ưa thích ca vũ, sáng tác không bắt chước cổ nhân, không chiều theo thị hiếu đương thời. Trong đời sống, ông tỏ ra phóng túng, tự do, xem thường lễ giáo.

Ông từng được bổ làm thơ ký cho Ngưu Tăng Nhụ, Tiết độ sứ Hoài Nam. Dưới đời Đường, Hoài Nam là chốn phồn hoa đô hội, văn nhân tài tử cũng lắm mà người đẹp cũng nhiều. Đời sống của Đỗ Mục lúc bấy giờ thật phong lưu thoải mái. Hai câu thơ dưới đây của ông trong bài “Khiển hoài” (Khuây khỏa nỗi lòng) cho ta biết điều ấy :

Thập niên nhất giác Dương Châu mộng,

Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh.

(Mười năm chợt tỉnh Dương Châu mộng,

Còn giữa lầu xanh tiếng phụ phàng).

Về thi ca, thơ ông hay nhất là thể thất ngôn tứ tuyệt, ý hàm súc, lời điêu luyện, tả cảnh tả tình trong sáng, nhẹ nhàng, thanh nhã. Ông lưu lại những tác phẩm nổi tiếng như : A Phòng cung phú, Xích Bích hoài cổ, Bạc Tần Hoài, Giang Nam xuân, Quá Hoa Thanh cung….. Tác phẩm lớn có bộ Phàn Xuyên văn tập gồm 20 quyển.

Dưới đời Thái Hòa, ông được bổ làm Thứ sử Trì Châu. Nghe nói ở Hồ Châu có nhiều danh lam thắng tích và nhiều người đẹp, một ngày xuân nhân rỗi việc quan, ông bèn lân la tìm đến. Duyên may bỗng đâu đưa tới, ông gặp một cô gái, tuy mới hơn mười tuổi nhưng mặt hoa da phấn, hứa hẹn một nhan sắc cực kỳ diễm lệ sau này. Ông đem lòng yêu mến, ngỏ lời với gia đình và được cha mẹ nàng thuận gả. Nhưng cô gái còn bé quá, ông bèn đem tặng gia đình nàng một rương lụa để làm tin và hẹn mười năm sau sẽ đem sính lễ đến hỏi cưới.

Khi về kinh, ông xin đổi làm Thứ sử Hồ Châu đặng sống gần người đẹp, nhưng vua và triều đình đang bận việc binh nhung nên không cứu xét, mãi đến mười bốn năm sau ông mới được toại nguyện. Ngay sau khi nhận nhiệm sở mới, một chiều xuân đẹp như tranh, ông vội tìm đến nhà cô gái ấy thì cha mẹ cô gái bước ra sụp lạy, khóc lóc mà rằng :

- Vợ chồng chúng tôi và cháu không hề dám sai lời hẹn ước, chờ ngài đã mười một năm qua nhưng không thấy ngài đến mà cũng chẳng có thư từ tin tức, chúng tôi nghĩ chắc ngài gặp trở ngại gì, hoặc ngài đã đổi ý, không còn quan tâm đến cháu nữa nên chúng tôi buộc lòng phải gả chồng cho cháu, đến nay đã được ba năm. Vả chăng tuổi xuân con gái chỉ có một thì, mà chờ ngài thì biết chờ đến bao giờ, mong ngài hiểu giùm mà lượng thứ.

Đỗ Mục không trách cứ gì vì biết do mình lỗi hẹn nhưng cũng không ngăn được nỗi thương tâm nên làm bài thơ tuyệt cú :

THÁN HOA

Tự thị tầm xuân khứ giảo trì

Bất tu trù trướng oán phương thì.

Cuồng phong lạc tận thâm hồng sắc,

Lục diệp thành âm, tử mãn chi.

Huỳnh Minh Đức dịch :

THAN TIẾC CHO HOA

Từ lúc tìm xuân quá muộn thôi,

Chẳng nên oán trách lỡ phương thời.

Gió cuồng làm rụng màu hoa đỏ,

Lá biếc trên cành, trái trổ rồi !

Và nỗi buồn ấy theo ông cho đến cuối đời.

Cũng may cho cô gái không sớm trở thành quả phụ vì chỉ vài năm sau, Đỗ Mục đã mắc bệnh rồi từ trần lúc mới 49 tuổi.

_________________________________________________





Email: huyenviem@hcm.vnn.vn



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC