Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Đền thờ Mai Hắc Đế - thị trấn Nam Đàn, Nghệ An



Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (20)

Bắc Thuộc lần III


Mai Thúc Loan Thắng Thịnh Đường





M ai Hắc Đế (?- 722), tên thật là Mai Thúc Loan. Vua Anh hùng nước Việt. Người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân chống đô hộ nhà Đường đầu thế kỷ VIII.

Mai Thúc Loan sinh khoảng cuối thế kỷ 7VII, tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu, nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An. Theo Việt điện u linh bố Mai Thúc Loan là Mai Hoàn, mẹ là Mai An Hòa nguyên gốc Lộc Hà - Hà Tĩnh, lưu lạc sang vùng Nam Đàn- Nghệ An.

Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi hái củi bị hổ vồ. Rồi bố cũng mất. Mai Thúc Loan được Đinh Thế, bạn của bố nuôi, sau gả con gái Ngọc Tô cho. Mai Thúc Loan khỏe mạnh, học giỏi, có chí lớn. Mở lò vật. Lập phường săn. Chiêu mộ trai tráng trong vùng. Mưu việc lớn. Vợ Mai Thúc Loan giỏi việc nông trang. Nhờ đó "gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông".

Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt. Họ là những tướng tài tụ nghĩa dưới cờ Mai Thúc Loan: Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Vân Du, Mao Hoành, Tùng Thụ, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tân...

Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông. Năm Quý Sửu (713). Khởi nghĩa nổ bùng tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Sưu cao, thuế nặng là nguyên nhân khiến dân Việt nổi dậy, chống nhà Đường. Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị. Biết chọn thời cơ. Không phải một cuộc bạo động. Chuyện "cống vải" là một chi tiết, trong phút giây quả bóng vỡ tung.

Tháng 4- 713. Mai Thúc Loan xưng vua nước Việt. Giữ vững nền độc lập trong 10 năm (713 - 722). Sử gọi ông là Mai Hắc Đế. Theo Việt điện u linh Mai Hắc Đế mang mệnh thủy là nước. Nước được tượng trưng là màu đen. Ông lấy hiệu Hắc Đế hợp với mệnh của mình. Mai Hắc Đế xây thành lũy, lập kinh đô Vạn An (thuộc xã Vân Diên và thị trấn Nam Đàn hiện nay), tập hợp, rèn luyện tướng sĩ. Cuộc nổi dậy của ông được hưởng ứng rộng rãi ở trong nước. Có sự liên minh với các nước láng giềng Lâm Ấp, Chân Lạp.

Cây quả Việt, triều cống vua Tàu   Theo khoalichsu.edu.vn ngày 17- 9- 2013. GS Phan Huy Lê Khảo cứu lại cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Điều thú vị là ông đã nghiên cứu việc trồng vải và giới cai trị Tàu bắt dân Việt triều cống khốn cùng.

Theo khảo cổ học, trong một số di tích văn hoá Đông Sơn đã tìm thấy hạt vải cùng hạt trám, hạt na, hạt cau... Từ cổ đại, người Việt đã phát triển nghề làm vườn. Trồng nhiều loại cây ăn quả. Trong đó có cây vải. Đại Việt sử lược có lẽ là bộ sử đầu tiên của nước ta chép tên quả vải (lệ chi) vào năm Kiến Gia thứ 8 đời vua Lý Huệ Tông tức năm 1218 : « Vua ngự đến Cựu Kinh (tức Thăng Long) ăn quả vải ». Cuối thời Trần, trong các yêu sách của nhà Minh, đòi cống nộp các giống cây quý trong đó có cây vải.

Năm 1386 « Nhà Minh sai Lâm Bột sang đòi cống các loại cây cau, vải, mít, nhãn vì nội nhân Nguyễn Tông Đạo nói, hoa quả phương nam có nhiều thứ ngon. Vua sai bọn viên ngoại lang Phạm Đình đem sang, nhưng những cây ấy không chịu được rét, đi nửa đường đều chết khô cả ».

Chính sử ghi. Thế kỷ XV có địa danh mang tên Lệ Chi viên (Vườn Vải, nay tại xã Đại Lại, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh). Nơi năm 1442. Vua Lê Thái Tông từ trần đột ngột. Bọn quyền thần đã lợi dụng, dựng lên vụ án Lệ Chi Viên thảm khốc, tru di cả nhà Nguyễn Trãi, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới.

Dư địa chí của Nguyễn Trãi thế kỷ XV đã nói đến quả vải ở xã Quang Liệt, đạo Sơn Nam. Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII khẳng định "nước Nam nhiều vải nhất", nổi tiếng là vùng An Nhân, huyện Đường Hào. Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn thế kỷ XIX nói đến quả vải như một đặc sản của vùng huyện Đường Hào, Đông Triều ...

Ngày nay, tại Nghệ An, Thanh Hoá nhiều vùng vẫn còn loại vải chua hay vải rừng. Nhiều nhà vẫn trồng vải trong vườn. Chứng tỏ vùng này, xa xưa đã có cây vải, chưa kể giống vải mới đưa từ Bắc vào gần đây. Cho đến nay, dân vùng Nam Đàn xứ Nghệ vẫn còn lưu truyền ba đặc sản quê hương qua câu "Nhãn lồng, vải tiến, cá rô Bàu Nón".

Thư tịch cổ Tàu ghi nhận, trong thời Bắc thuộc, từ thời Tây Hán, vải và nhãn là những sản phẩm nổi tiếng Giao Chỉ và Cửu Chân.

Sách Nam phương thảo mộc trạng do Kế Hàm soạn năm Vĩnh Hưng thứ 1 (305) đời Tây Tấn (265-317), cho biết : «Hán Vũ Đế năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN) phá nước Nam Việt, xây dựng cung Phù Lệ. Tên Phù Lệ là lấy tên lệ chi (cây vải) đặt cho, chuyển 100 cây vải từ Giao Chỉ về trồng ở sân. Nhưng không một cây nào sống. Sau nhiều năm liền, đem cây vải về trồng, cuối cùng chỉ có một cây hơi xanh tốt, nhưng không có hoa quả. Vua lấy làm tiếc vật quý. Buồn bực. Vua sai giết đến mấy chục người trông vườn. Không trồng nữa. Hằng năm, bắt dân Việt cống nộp quả vải (tuế cống)”.

Cổ kim sử văn loại tùng chép : «Ngụy Văn đế (220-226) hạ chiếu cho quần thần rằng, quả phương nam, loại quý lạ là long nhãn, lệ chi, lệnh hàng năm nộp cống là xuất từ Giao Chỉ, Cửu Chân».

Sự kiện này cũng được chép trong Nam phương thảo mộc trạng. Như vậy cây vải không chỉ có ở Giao Chỉ mà cả ở Cửu Chân và lệ cống vải bắt đầu từ Tây Hán, tiếp tục đến Ngụy. Tư liệu này cho biết thêm Cửu Chân tức vùng Thanh Nghệ Tĩnh hiện nay, thời đó đã có cây vải và lệ cống vải bao gồm cả vùng này. Cây vải ở vùng Thanh Hoá, Nghệ An có nguồn gốc lâu đời. Sau này thoái hoá dần thành loại vải chua, vải rừng.

Chế độ cống nộp là một phương thức bóc lột mà chính quyền đô hộ đã thực hiện từ thời thuộc Hán. Các nguồn tư liệu thư tịch đáng tin cậy của Trung Quốc khẳng định chế độ cống nộp. Vật cống nộp gồm những loại sản vật quý như ngà voi, sừng tê, châu ngọc, hương liệu... và những sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới như cam, quít, nhãn, vải...

Khởi nghĩa Mai Thúc Loan quy mô lớn

 GS Phan Huy Lê khẳng định Khởi nghĩa Mai Thúc Loan hay Khởi nghĩa Hoan Châu là một cuộc khởi nghĩa qui mô rất lớn. Giành thắng lợi vang dội. Lập nước Việt riêng. Thoát Thịnh Đường giàu mạnh, hung hổ. Bảo tồn được một nhà nước độc lập trong gần chục năm.

Cùng với khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Lý Bí, khởi nghĩa Phùng Hưng, công cuộc giành và giữ chính quyền của Khúc Thừa Dụ- Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ và chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, Khởi nghĩa Mai Thúc Loan là một trong những cột mốc quan trọng trên con đường dấu tranh đi đến giải phóng đất nước, giành lại độc lập dân tộc.

Trong lịch sử một nghìn năm chống Bắc thuộc, lật đổ ách đô hộ Tàu của dân tộc ta. Nửa đầu thế kỷ VIII, đã xuất hiện một vị anh hùng trẻ tuổi, xuất thân nghèo khó. Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa không chỉ huy động được nhân dân cả nước đứng lên. Mà còn tập hợp được lực lượng quân đội của một số quốc gia lân bang. Tạo thành lực lượng hùng mạnh. Làm nên chiến thắng lẫy lừng. Đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường về nước.

Người anh hùng dân tộc vĩ đại, người Việt Nam đầu tiên thực hiện việc liên hoành liên minh với một số nước Đông Nam Á, đánh đổ ách đô hộ Tàu, đó là Mai Thúc Loan- Vua Mai Hắc Đế.

Đại Đường là một đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông thế kỷ VIII. Nhất là thời vua Đường Thái Tông (626-649) và Đường Huyền Tông (712-756).

Mai Thúc Loan đã đánh đuổi Thịnh Đường. Giải phóng nước Việt. Duy trì nhà nước độc lập, với vai trò Hoàng đế. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan là một thành công rất lớn. Được dân Việt tôn vinh xứng đáng.

Mai Thúc Loan & Chiến lũy Thành Vạn An

Đại bản doanh của nghĩa quân Mai Thúc Loan là vùng rừng núi rậm rạp nằm cạnh sông Lam, ở khúc hiểm sâu. Ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm. Dọc bờ sông Lam, nghĩa quân đắp một chiến lũy dài hơn nghìn mét. Đấy là thành Vạn An nổi tiếng. Có núi Đụn (Hùng Sơn) làm chỗ dựa. Phía trong núi là dải thung lũng rộng vài chục mẫu, dùng làm nơi trữ lương thực, vũ khí. Phía ngoài núi, có nhiều đồn trại đóng ở cạnh sườn. Xung quanh núi, sông Lam vây bọc như con hào thiên nhiên. Bao quanh khu trung tâm (Vệ Sơn), nghĩa quân xây dựng một hệ thống đồn trại nương tựa lẫn nhau. Biểu Sơn (hình quả bầu), bảo vệ cánh tả. Liêu Sơn bảo vệ mặt trước. Ngọc Đái Sơn (hình ngọc) cạnh thành Vạn An, là đồn tổng chỉ huy. Thống lĩnh cả hai đạo quân thủy bộ.

Cùng với việc xây dựng căn cứ địa, thành lũy vững chắc, Mai Thúc Loan truyền hịch cứu nước. Kêu gọi nhân dân dứng lên đánh đuổi quân đô hộ. Người yêu nước khắp nơi theo về ngày càng đông. Đặc biệt là tù trưởng và nhân dân các dân tộc miền núi Nghệ An, Hà Tĩnh. Khí thế nghĩa quân ào ào thác đổ. Đánh đến đâu. Thắng đến đó.

Quân nhà Đường bị bất ngờ. Không kịp chống đỡ. Phải thúc thủ. Lui binh về giữ Hợp Phố. Theo sử sách Tàu và truyền thuyết của vùng Nghệ An, Hà Tĩnh, mùa hè năm Quý Sửu (năm 731) Mai Thúc Loan bắt đầu ra quân đánh địch và thu phục ngay được châu Hoan (vùng Nghệ Tĩnh ngày nay). Tại thành Vạn An. Mai Thúc Loan lên ngôi Hoàng đế. Dân tôn sùng là Mai Đại Đế (Vua Lớn họ Mai).

Vua Mai- Liên minh láng giềng, đánh Thịnh Đường

Lên ngôi. Mai Hắc Đế cho người đi các châu huyện báo tin thắng trận. Kêu gọi nhân dân 32 châu trong cả nước cùng nổi dậy phối hợp chiến đấu. Tinh thần đại đoàn kết của Vua Mai được dân Việt hưởng ứng mạnh mẽ. Người ở 32 châu quận, ún ùn kéo về dưới ngọn cờ Mai Hắc Đế, cùng đánh giặc. Sử Tàu chép : “Mai Thúc Loan đã dấy quân 32 châu”. (trích Nguyễn Lương Bích- Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước- Nxb Quân đội nhân dân trang 17).

Mai Hắc Đế đã vận động liên minh quân sự với một số nước thuộc Đông Nam Á ngày nay, cùng đánh Tàu. Sách Lịch sử Việt Nam (Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, trang 129) cho biết: “Mai Hắc Đế còn liên kết với các nước Chăm pa ở phía Nam và Chân Lạp ở phí Tây đặng có thêm lực lượng chống nhà Đường”.

Nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Lương Bích trong Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước (Nxb Quân đội nhân dân trang 17, 18) viết: “Sử Trung Quốc ghi rằng ông (Mai Thúc Loan- NMS) đã liên minh được với các nước Lâm ấp, Chân Lạp (tức Campuchia ngày nay) và Kim Lân (tức Malaixia ngày nay).

Mai Đại Đế khởi nghĩa năm Quý Sửu (713), năm sau là năm Giáp Dần (714), cử tướng Tiết Anh làm Lâm Ấp thông vấn sứ, và tướng Hoắc Đam làm Chân Lạp cáo dự sứ. Hai tướng Việt, chính thức đi sứ sang hai nước Lâm Ấp, Chân Lạp, thông báo chiến thắng và đề nghị hai nước liên minh quân sự cùng đánh Tàu.

Ngay từ khi chuẩn bị khởi nghĩa. Mai Thúc Loan đã cho tướng Ba Đội Hầu sang liên hệ với hai nước láng giềng phía Nam này.

Hai nước Chân Lạp và Lâm Ấp đều nhiệt liệt hưởng ứng liên minh. Vua Chân Lạp Hồ A Khiêm, cho tướng Tham Ninh Na cầm quân. Vua Lâm Ấp Phạm Hồ Dĩnh, cho tướng Chư Hương An chỉ huy quân. Mỗi nước 10 vạn quân, sang nước Việt, chiến đấu dưới lá cờ đại nghĩa của Đại đế Mai Thúc Loan.

Sau khi tập hợp được quân dân của 32 châu và quân đội của hai nước láng giềng, lực lượng quân sự của Mai Hắc Đế rất mạnh. Sử nhà Đường ghi có khoảng 40 vạn người. Mai Hắc Đế chỉ huy đại quân tiến ra Bắc. Tấn công phủ thành Tống Bình (thuộc Hà Nội ngày nay). Trước ngọn lửa căm thù ngút trời và sức mạnh như vũ bão của nghĩa quân. Bè lũ đô hộ Quang Sở Khách. Không chống cự nổi. Phải bỏ thành. Chạy tháo thân về nước. Nước Việt hoàn toàn giải phóng.

Cuối năm Nhâm Tuất (722). Trả thù và khôi phục bộ máy đô hộ, nhà Đường điều tướng giỏi Dương Tử Húc, đem 10 vạn quân, cùng Quang Sở Khách sang, đánh Mai Hắc Đế.

Chặn đánh quân Đường, Mai Hắc Đế đem binh trấn giữ những nơi hiểm yếu. Trước sự hung dữ của quân Tàu, quân của Mai Hắc Đế không cầm cự được. Lần lượt bị chúng đẩy lui khỏi Bắc Bộ. Mai Hắc Đế và nghĩa quân co cụm về thành Vạn An. Dương Tử Húc bao vây thành Vạn An trong nhiều tháng. Quân Mai Hắc Đế dần cạn lương.

Đúng lúc nguy cấp đó, Mai Hắc Đế lâm trọng bệnh. Biết khó qua khỏi, ông truyền ngôi cho con là Mai Thúc Huy, hiệu là Mai Thiếu Đế. Mai Thúc Huy tổ chức lực lượng phá vòng vây giặc. Đưa thân phụ và quan quân rút về căn cứ Hùng Sơn.

Tại đây, ngày 16 tháng 9 năm Quý Hợi (723), Mai Hắc Đế đã trút hơi thở cuối cùng. Dương Tử Húc dùng tổng lực tấn công căn cứ Hùng Sơn. Mai Thúc Huy cùng nghĩa quân mở cổng thành, quyết sống mái với địch. Quân giặc quá mạnh. Mai Thúc Huy và nghĩa quân đã anh dũng hy sinh đến người cuối cùng. Dương Tử Húc cho quân san phẳng hai thành Vạn An và Hùng Sơn, rồi rút về Tống Bình.

Các nhà nghiên cứu nhận định, việc một số nước láng giếng phía Nam và phía Tây nước Việt, đồng ý đem quân đội sang giúp Mai Thúc Loan đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường, ngoài ý nghĩa là sự thức tỉnh của lương tri trước cuộc đấu tranh chính nghĩa của Mai Thúc Loan, lật đổ ách đô hộ phi lý và những hành vi tàn bạo của nhà Đường, còn cho thấy sự sáng suốt của các dân tộc này trước âm mưu bành trướng của phương Bắc.

Giúp Việt Nam tức là tự cứu mình nếu không muốn trở thành miếng mồi tiếp theo của quân bành trướng nếu chúng xâm chiếm được Việt Nam. Việt Nam có vị thế Địa- Chính trị, Địa lý- Quân sự vô cùng quan trọng ở Đông Nam Á. Hàng nghìn năm qua, Việt Nam đã đánh thắng nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của Tàu. Giữ vững được độc lập dân tộc. Trở thành một cái nút chặn không thể vượt qua. Tránh cho cả Đông Nam Á không bị Hán hóa.

Cuộc đời Mai Hắc Đế thật ngắn ngủi. Cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo giành được những thắng lợi lớn. Làm rung chuyển cả bộ máy đô hộ của Tàu. Vua Mai để lại cho hậu thế một bài học lớn. Liên minh với các nước Đông Nam Á, chống lại kẻ thù lớn phương Bắc.

Dân Việt nhớ ơn Mai Hắc Đế. Lập đền thờ ông trên núi Vệ Sơn và trong thung lũng Hùng Sơn. Ngày nay tại địa phận xã Vân Diên, huyện Nam Đàn có khu di tích tưởng niệm ông. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong Tiên chân báo huấn tân kinh để ở đền thờ vua Mai.

Hùng cứ châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông,
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công.
Lam Thủy trăng in, tăm ngạc lặn,
Hùng Sơn gió lặng, khói lang không.
Đường đi cống vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung.

(bản dịch)

Hào quang Khởi nghĩa Mai Thúc Loan

homaivietnam.wordpress.com Ngày 3- 7- 2011 với bài CAO THỦY TỔ MAI THÚC LOAN đã khơi tỏa hào quang Khởi nghĩa Mai Thúc Loan.

Tại thôn Nhu Kiều, xã Quốc Tuấn, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng có đền thờ hai con của Mai Hắc Đế đã thay cha, chỉ huy chiến đấu ở mặt trận Đông- Bắc và anh dũng hy sinh. Đó là Mai Kỳ Sơn và Mai Thị Cầu. Năm 1926. Vua Khải Định sắc phong Mai Thị Cầu là nữ tướng THƯỢNG ĐẲNG TÔN THẦN BẠCH ĐẦU ĐẾ.

Theo Mai Hắc Đế- Truyền thuyết và lịch sử (Đinh Văn Hiến). Tác giả phát hiện từ hai bản thần phả của một ngôi đền ở Hà Nội và một ngôi đền ở Hải Phòng. Mai Thúc Loan có vợ là Phạm Thị Uyển ở châu Đường Lâm (thị xã Sơn Tây ngày nay). Một nơi xa quê Mai Thúc Loan đến mươi ngày đường, nhưng lại cạnh nách bộ máy cai trị đầu não chế độ đô hộ (đặt tại Tống Bình- Hà Nội ngày nay). Con Mai Thị Cầu và Mai Kỳ Sơn, đủ tuổi. Mai Thúc Loan cho cả hai về làm dâu, làm rể ở Điều Yên (An Hải, Hải Phòng). Khi khởi nghĩa nổ ở Hoan Châu, thì ở Đường Lâm và Điều Yên (Hải Phòng) dưới sự lãnh đạo của quan lang đạo châu Đường Lâm, là ông ngoại bà Phạm, và của hai chị em Cầu, Sơn ở Điều Yên, nhân dân cả hai nơi đều phất cờ hưởng ứng. Theo tác giả, điều đó là các chứng lý khẳng định, đã hơn hai chục năm, trước khi châm ngòi khởi nghĩa Hoan Châu, Mai Thúc Loan đã nghĩ tới và thực hiện kế hoạch xây dựng ở Đường Lâm và Điều Yên, hai căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa.

Mai Thúc Loan chỉ là một cậu bé sớm sống côi cút. Tứ cố vô thân. Quanh năm làm thuê cuốc mướn. Không một ngày đến lớp. Chỉ nhờ vào quyết tâm tự rèn luyện, tự học mà có sức và giỏi vật, võ hơn người. Mà am tường chữ nghĩa, biết rộng, hiểu sâu hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Mà thù giặc, thương dân, ủ ấp hoài bão cứu nước, cứu nhà, cứu nòi giống.

Đã vậy, lại sống vào buổi giao thời khó khăn hồi ấy, thế mà ông lại trường kỳ mai phục, chuẩn bị hơn 20 năm. Khảo sát kỹ tình hình. Xây dựng căn cứ dựa vào nhau trên ba địa bàn chiến lược (trong đó địa bàn Đông Bắc là nơi mà 200 năm, rồi 600 năm sau, lần lượt Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn cũng lại chọn làm căn cứ quân sự và nhờ đó lập nên hai chiến công Bạch Đằng lịch sử).

Mai Thúc Loan đã vận động Kim Lân, Chân Lạp (Malaysia và Cambodia) cùng vài nước nữa chi viện hơn 20 vạn quân, mở cuộc tổng tiến công quét sạch 20 vạn quan lính đô hộ nhà Đường ra khỏi nước. Việc thành, vua Mai lại tài tình mời số quân chi viện này quay lui. Tác giả cho rằng tới ngần ấy việc, Mai Thúc Loan xứng đáng được xếp vào hàng các bậc thiên tài xưa nay của đất nước Việt.

Khởi nghĩa Phùng Hưng là một phần khó tách rời của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan.

Tìm ra mối tương quan cậu cháu ruột giữa Mai phu nhân và Phùng Hưng. Liên hệ với việc sau khi vua Mai thất bại. Trên căn cứ Đường Lâm lại nổ ra cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng. Liên hệ việc nhân dân Nghệ An đã lập đền thờ Phùng Hưng. Tác giả Đinh Văn Hiến khẳng định cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng là đoạn cuối của khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Ảnh hưởng cuộc Khởi nghĩa Mai Thúc Loan kéo dài đến gần hết cả thế kỷ thứ VIII. Truyền thế kỷ XXI.

Gia đình vua Mai vì nước quên thân

Trước đây ta chỉ biết có hai nhân vật anh hùng trong gia đình vua Mai. Mai Thúc Loan chết vì bệnh trong khi vẫn đang chỉ huy cuộc kháng chiến. Mai Thúc Huy, con út vua Mai kế vị, đã hy sinh trong chiến đấu chống Dương Tử Húc.

Nay cuốn sách Mai Hắc Đế- Truyền thuyết và lịch sử cho biết thêm:

Trên mặt trận phòng ngự Tống Bình chống cuộc tái xâm lăng của nhà Đường, Hoàng tử cả và Mai Hoàng hậu đã anh dũng hy sinh trên mặt trận Duyên Hải Đông Bắc. Mai Thị Cầu và Mai Kỳ Sơn đánh đổi mạng mình, nhằm cứu một số lớn nhân dân bị giặc bắt làm con tin, để chiêu hàng hai vị. Cả gia đình vua Mai đã “vì nước quên thân”.

Cuộc khởi nghĩa Mai Hắc Đế cũng như của Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Nam Đế trước ông và của Phùng Hưng, của cha con họ Khúc sau ông, là ý chí quật cường, bất khuất của dân tộc Việt. Quyết không chịu còng lưng nô lệ. Cho dù nó mạnh gấp tỷ lần. Kẻ thù bành trướng đến đâu, gặp dân chống lại đến đấy. Thật nguy cho họ.

Dân Việt thế kỷ XXI hát ca:

“Giặc chớ hung hăng, chớ bạo tàn/ Đừng để quả bóng vỡ bùng, vãi tung/ Dân Việt vô lượng kiếp anh hùng/ Người này ngã, người kia vùng dậy/ Tâm linh nòi giống Tiên Rồng bủa vây/ Âm vang lừng lẫy, hào quang dâng đầy”.

(… Còn tiếp ...)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 15.6.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn