Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tranh vẽ Kiều của nữ họa sĩ Ngọc Mai (SàiGòn)




Kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 2015)

TRUYỆN KIỀU TRONG TÂM THẾ

TIẾP NHẬN CỦA CÁC THẾ HỆ                            






"T rong lịch sử ngôn ngữ và lịch sử văn học Việt Nam, nếu Nguyễn Trãi với Quốc âm thi tập là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học dân tộc thì Nguyễn Du với Truyện Kiều lại là người đặt nền móng cho ngôn ngữ văn học hiện đại của nước ta. Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, có thể nói rằng ngôn ngữ  Việt Nam đã trải qua một cuộc thay đổi về chất và đã tỏ rõ khả năng biểu hiện đầy đủ và sâu sắc...Nguyễn Du sinh quán ở Thăng Long, tổ quán ở Nghệ-Tĩnh, mẫu quán ở Bắc Ninh, đã nhờ những điều kiện ấy mà dựng lên được một ngôn ngữ có thể nói là gồm được đặc sắc của cả ba khu vực quan trọng nhất của của văn hóa nước ta thời trước".(Nhận định về Nguyễn Du và Truyện Kiều của Đào Duy Anh)

 Mộng Liên Đường Chủ Nhân bình luận: "...Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn đứt ruột... Tố Như Tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trong thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy".

 “Mặc dù xuất thân từ giai tầng quý tộc, nhưng Nguyễn Du lăn lộn nhiều trong cuộc sống của quần chúng, đã lắng nghe được tâm hồn và nguyện vọng của quần chúng...Thơ Nguyễn Du dù viết bằng chữ Nôm hay chữ Hán đều đạt đến trình độ điêu luyện (Nguyễn Lộc).”

Sinh thời Nguyễn Du từng day dứt:


Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như

Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, sinh năm Ất Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng. Có tài liệu ghi ngày sinh của Nguyễn Du là 23 tháng Mười một, tính ra Dương lịch là 3. tháng I năm 1766 ở Thăng Long trong một gia đình đại quí tộc và có truyền thống khoa cử lâu đời.  Thời niên thiếu Nguyễn Du  sống chủ yếu cũng ở Thăng Long...".. Quê Nguyễn Du ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An. Họ Nguyễn Tiên Điền là họ danh vọng nhất thời Lê Mạt, cho nên đương thời có lời truyền tụng:

Bao giờ Ngàn Hống hết cây,
Sông Rum hết nước họ này hết quan.

Cha Nguyễn Du là sử gia, nhà thơ Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775) làm tới chức Tể tướng  Mẹ là Trần Thị Tần (1740 - 1778) vợ trắc thất của Nguyễn Nghiễm, sinh được 4 trai, 1 gái. Đại thi hào Nguyễn Du là con thứ 7 của ông và bà vợ ba Trần Thị Tân.Nguyễn Du mồ côi cha từ năm 9 tuổi và mồ côi mẹ từ năm 12 tuổi... Nguyễn Du có 3 vợ và 18 con. Nguyễn Du văn chương vượt hẳn bạn bè, nhưng học vị chỉ là Tam trường (Tú tài). Nguyễn Du gặp nhiều khó khăn hồi còn thanh niên vì sớm mồ côi cha và mẹ nên ăn nhờ ở đậu: hoặc ở nhà anh ruột (Nguyễn Khản), nhà anh vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà, và nhận chức nhỏ: Chánh thủ Hiệu úy. Do tình hình đất nước biến động, chính quyền Lê Trịnh sụp đổ, Tây Sơn quét sạch giặc Thanh, họ Nguyễn Tiên Điền cũng sa sút tiêu điều: "Hồng Linh vô gia, huynh đệ tán". Nguyễn Du trải qua 10 năm gió bụi.

Năm 1802, ra làm quan với triều Nguyễn được thăng thưởng rất nhanh, từ tri huyện lên đến tham tri (1815), được cử làm chánh sứ sang Tàu (1813). Ông mất vì bệnh thời khí (dịch tả), không trối trăng gì, đúng vào lúc sắp sửa làm chánh sứ sang nhà Thanh lần thứ hai.

Truyện Kiều tên gốc là Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột) gồm 3.254 câu thơ lục bát Việt Nam của Nguyễn Du là một truyện thơ Nôm dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của nhà văn Trung Quốc Thanh Tâm tài Nhân. Nguyễn Du sáng tác Truyện Kiều vào thời gian 1804-1809, khi ông làm Cai  bạ ở Quảng Bình, trước khi đi sứ Trung Quốc (1814-1820). Ngay sau khi ra đời, truyện được nhiều nơi khắc in và lưu hành rộng rãi. Hai bản in xưa nhất hiện còn là bản của Liễu Văn Đường (1871) và bản của Duy Minh Thị (1872), đều ở thời vua Tự Đức 

Từ xưa đến nay có nhiều công trình nghiên cứu, bình luận và những cuộc bút chiến về Truyện Kiều. Đầu thế kỷ XX, cuộc tranh luận về Truyện Kiều quan trọng nhất là cuộc phê phán của các nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng phản đối phong trào cổ xúy Truyện Kiều do Phạm Quỳnh đề xướng (1924).

                                                                            ****

Trong lễ kỷ niệm Nguyễn Du năm 1924 do Ban văn học Hội Khai trí Tiến đức tổ chức – do báo Nam phong làm đại diện (200 Kiều  VHS 1797-1800)- Phạm Quỳnh -chủ bút của Nam Phong tạp chí  - ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay  tiếng Pháp đọc diễn văn  cho rằng Truyện Kiều  là tác phẩm được toàn dân mến, là quốc hồn, quốc túy, cho nên “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Do vậy nên Nguyễn Du là người gây dựng cho quốc âm ta thành văn chương.  Ông cho rằng, Truyện Kiều vừa là kinh, vừa là truyện, vừa là thánh thư phúc âm của cả dân tộc.  Theo Phạm Qùynh, Truyện Kiều là một bức tranh thế thái nhân tình vẽ sự đời.  Truyện Kiều làm cho ta vẻ vang với thiên hạ.  Bài diễn văn của Phạm Quỳnh đăng ở Nam Phong số 86  tháng 8 năm 1924. (200 kiều  PQ 1801-1804)

Ngày 21 tháng 9 năm 1924, trong Hữu Thanh tạp chí đăng bài Luận về Chánh học cùng tà thuyết, quốc văn, Kim Vân Kiều, Nguyễn Du. (200 kiều  NĐK 1708-1713)  Bài báo của Ngô Đức Kế phê bình Truyện Kiều và tố cáo việc suy tôn sùng bái Truyện Kiều. Ông cho rằng, Truyện Kiều chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải một thứ văn chương chính đại theo đường chính học mà đem ra dạy đời. Ngô Đức Kế cho rằng, phong tục, đạo đức, chính trị (Việt Nam) đều theo đạo Khổng, Hán Văn.  Nước nhà, giống nòi, cũng nhờ đó mà vững được. Phạm Quỳnh không trả lời. Câu chuyện tưởng dừng ở đây, nhưng bài  Sau khi đọc bài trả lời của Trần Trọng Kim tiên sinh, Cảnh cáo các nhà học phiệt  của Phan Khôi  đăng trong Phụ nữ tân văn năm 1931 thì có bài của Phạm Quỳnh Trả lời bài Cảnh cáo học phiệt  của Phan Khôi tiên sinh  in trong Phụ nữ tân văn số 67.  Phan Khôi cho Phạm Quỳnh là học phiệt. Phạm Quỳnh không trả lời,là khinh người.  Phạm Quỳnh trả lời Phan Khôi, tạp chí Hữu thanh có lời qua tiếng lại về tạp chí Nam phong thì chẳng có gì phải tranh luận, vì nghề báo nó vậy.   Bài Chánh học cùng là tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không của  Huỳnh Thúc Kháng đăng ờ Tiếng dân thì cuộc tranh luận trở thành hai phái giữa người nhà văn hóanhà báo tạp chí Nam phong, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn Phạm Quỳnh và chí sĩ, nhà thơnhà báo tạp chí Hữu thanh Ngô Đức Kế  và Huỳnh Thúc Kháng - chí sĩ yêu nước nổi tiếng, Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ thời thuộc Pháp.  Huỳnh Thúc Kháng đứng về phía  Ngô Đức Kế và cho rằng, Truyện Kiều chẳng qua chỉ là một lối văn chương mua vui. Truyện Kiều là một thứ dâm thơ, rõ không có ích mà có hại.

 Gần trăm năm trôi qua kể từ cuộc bút chiến năm 1924,  Thời gian làm công việc của mình. Phạm Quý Thích – bạn của Nguyễn Du – có viết bài  “Thính Đoạn Trường Tân Thanh hữu cảm” . Bài thơ có hai câu cuối :

“…Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân Thanh đáo để vị thuỳ thương”

 …(Một phiến tài tình vương vấn cả ngàn năm
Xét cho cùng thì truyện Tân Thanh đã vì ai mà thương cảm?)

Cuộc đời, sự nghiệp văn chương Nguyễn Du là một phiến tài tình. Phiến tài tình ấy không chỉ làm bận lòng ta hôm nay mà còn khiến hậu thế ngàn năm sau còn nhỏ lụy.

Ngày nay, tiếng vang của kiệt tác văn chương Việt Nam Truyện Kiều vượt biên giới Việt Nam, Truyện Kiều được dịch ra tiếng Nhật năm 1949, tiếng Tiệp năm 1957, tiếng Trung Quốc năm 1959,tiếng Pháp năm 1961,tiếng Anh năm 1963,tiếng Đức năm 1964, tiếng Thuỵ Điển năm 1969. 

Sách viết về Truyện KiềuĐào Duy Anh. Từ điển Truyện Kiều. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1974Phan Ngọc. Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều, 1985Đào Thái Tôn. Văn bản Truyện Kiều - Nghiên cứu và thảo luận. Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2001Nhiều tác giả. Truyện Kiều - Tác phẩm và dư luận. Nhà xuất bản Văn học, 2002.Nguyễn Quảng Tuân. Chữ nghĩa Truyện Kiều. Nhà xuất bản Văn học, 2004Thiền sư Thích Nhất HạnhThả một bè lau - Truyện Kiều dưới cái nhìn thiền quán. Nhà xuất bản Lá Bối.

Năm 1896,  bộ môn văn học so sánh tại Đại học Lyon Pháp được thành lập. Tính từ nửa cuối thế kỷ XIX với sự nở rộ của các công trình lý luận cũng như giáo trình, lịch sử văn học so sánh của các học giả như H. M. Posnett, L. P. Betz, J. Texte, F. Loliée, A. Vêxêlôvski, Barandece thì ngành khoa học văn học so sánh chính thức hình thành và có vị trí trong ngành nghiên cứu văn học cũng như đào tạo ngữ văn. Có ba trường phái văn học so sánh nổi bật, với thành tựu đầy thuyết phục: Pháp, Mỹ và Xô Viết. Theo trường phái so sánh theo tương đồng loại hình đã có  luận án tiến sĩ  của Trương Hồng Quang so sánh Truyện Kiều của đại văn hào Nguyễn Du với Faust của đại văn hào J.W. Goethe ở ĐHTH Leipzig Đức, luận án tiến sĩ của Trần Thị Phương Phương so sánh  Truyện Kiều của đại văn hào Nguyễn Du với Evegeny Onegin của đại văn hào Aleksandr Sergeyevich Pushkin ở Đại học KHXH-NV thành phố Hồ Chí Minh .

Điện ảnh du nhập vào Việt Nam khoảng năm  1898  với những rạp chiếu bóng do người Pháp xây dựng. Sau đó cũng đã có những  phim tài liệu quay ở Việt Nam khai thác phong cảnh, phong tục, hội hè... của Việt Nam. Đến năm 1923, công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Indochine Films et Cinéma) mới thực hiện cuốn phim truyện đầu tiên Kim Vân Kiều. Đây là đề xướng của một người Pháp là  Famechon và có sự cộng tác của một người Việt được ghi tên là Mr Vĩnh,Nguyễn Văn Vĩnh. Cốt truyện phim được lấy từ tác phẩm của  Nguyễn Du, được Famechon chuyển thể thành kịch bản điện ảnh và không có sự thay đổi đáng kể nào về tình tiết. Phim dài 1500 m, phần ngoại cảnh được quay ở các vùng phụ cận của Hà Nội: dinh Từ Hải là sân chùa Láng, nơi Kiều  viếng mộ Đạm Tiên là nghĩa trang Yên Thái, cổng làng Thọ là nhà Tú Bà. Các vai diễn do các đào kép của ban  tuồng Quảng Lạc đảm nhiệm.Phim được công chiếu vào ngày 14 tháng 3 năm  1924  tại nhà Cinéma Palace phố Tràng Tiền.

Truyện Kiều là nguồn cảm hứng  sáng tác của nhà soạn nhạc người Pháp gốc Việt thuộc dòng Nhạc đương đại Nguyễn Thiên Đạo, ông đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam  với Opera ballet  Truyện Kiều  Định mệnh bất chợt Nhà hát lớn Hà Nội 2012, là nguồn cảm hứng  sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam với giao hưởng số 7 Chuyện nàng Kiều là nguồn cảm hứng  sáng tác của nữ nhạc sĩ Đặng Hồng Anh, chị đang hoàn thiện bản Giao hưởng thơ Kiều cho dàn nhạc giao hưởng dành cho chương trình âm nhạc 

Đại thi hào Nguyễn Du chính thức được vinh danh là Danh nhân văn hóa thế giới tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 37  năm 2011  của Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) diễn ra tại Paris (Pháp).


CHÚ THÍCH

(200 Kiều  VHS 1797-1800)- 200 NĂM NGHIÊN CỨU, BÌNH LUẬN TRUYỆN KIỀU của Lê Xuân Lít, NXB Giáo dục, 2007, bài của Vương Hồng Sển, trang 1797-1800)

(200 kiều  NĐK 1708-1713)  200 NĂM NGHIÊN CỨU, BÌNH LUẬN TRUYỆN KIỀU của Lê Xuân Lít, NXB Giáo dục, 2007, bài của Ngô Đức Kế, trang 1708-1713

(200 kiều  PQ 1801-1804) 200 NĂM NGHIÊN CỨU, BÌNH LUẬN TRUYỆN KIỀU của Lê Xuân Lít, NXB Giáo dục, 2007, bài củaPhạm Quỳnh , trang 1801-1804


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 08.6.2015.