Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Đoàn Văn Cừ (1913-2004)



THI SĨ ĐỒNG QUÊ ĐỘC ĐÁO CŨNG LÀ

MỘT NHÀ DỊCH THUẬT ĐỘC ĐÁO ĐÍCH THỰC




Tôi vẫn giữ được tập thơ Thôn ca của thi sĩ Thành Nam Sông Ngọc Đoàn Văn Cừ do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành từ năm 1960. Tính đến nay đã có tới 53 năm, hơn nửa thế kỷ. Sách mỏng, chỉ vẻn vẹn có hai tay sách: 64 trang khổ 13x18, nhưng vẫn còn khá nguyên vẹn.

Bấy giờ là năm học cuối cùng của chúng tôi, nhóm lưu học sinh 19 người Khoa Ngữ văn của Trường Đại học Sư phạm Moskva, chuẩn bị tốt nghiệp trở về nước nhận công tác. Xa quê hương, người thân đã mười năm liền, càng gần đến ngày trở về trong lòng mọi người càng rạo rực khấp khởi mong ngóng. Sau Tết Tân Sửu năm ấy, một bữa đến hiệu sách quốc tế mang tên Hữu Nghị, bên cạnh tòa nhà Xô Viết Moskva trên phố Gorki (nay mang tên cũ là Tverskaya), trong số sách ở nhà mới đưa sang bán ở quầy sách Việt Nam tôi nhặt ra được khá nhiều sách văn học mới xuất bản, trong đó có tập thơ Thôn ca của Đoàn Văn Cừ. Thú thực, cho đến lúc ấy tôi chưa rành tên tuổi tác giả Đoàn Văn Cừ. Nhưng thấy cái bìa sách mộc mạc có cái tên Thôn ca đặt bên cạnh hình vẽ hai thân tre xanh khỏe khoắn, gợi ngay cho tôi nhớ đến làng quê mình, cái làng chợ Giầu Phù Lưu, ở đó cha mẹ, anh chị em tôi đang sống, chờ đợi tôi sau bấy nhiêu năm xa cách trở về.

Vừa giở mấy trang đầu sách ra, tôi gặp ngay bài thơ Chợ Tết của nhà thơ họ Đoàn. Làng Giàu tôi chính là thôn thị - làng chợ. Mà chợ nổi tiếng:

         Đông Ngàn vật hoa kiêm thủ ấp

         Bắc Ninh thôn thị cứ trung tâm

         (Đây là ấp hàng đầu về sản vật quý của huyện Đông Ngàn

         Đây là nơi trung tâm buôn bán của tỉnh Bắc Ninh)

Chợ Giàu một tháng sáu phiên. Chợ họp ngay tại làng, có tới trên hai chục cầu hàng bày la liệt hai bên đường, suốt từ ngoài cổng bắc của làng xuôi dọc theo trục đường lát đá xanh chạy xuống tận cổng nam, giáp ranh đường sang làng Báng (Đình Bảng). Đặc biệt đông vui sầm uất nhất là phiên chợ Tết, như nhà thơ Đoàn Văn Cừ tả, đủ màu sắc tươi rói, những hình ảnh nhộn nhịp chen vui, người mua, người bán, người chơi chợ… Chợ Giàu làng tôi còn có cả gánh xiếc nữa, cả chú khách bán thuốc ê… Ôi, nhớ quá đi mất! Và thế là từ đó tôi giữ mãi cuốn Thôn ca của nhà thơ họ Đoàn như một kỷ vật.

Về nước, sau một thời gian ngắn dạy học, tôi được chuyển về làm biên tập sách ở Nhà xuất bản Văn Học. Tập trung vào mảng sách dịch, mấy chục năm sau, tham gia vào công tác quản lý, tôi mới có dịp tiếp cận với mảng văn học sáng tác trong nước. Và rồi đến giai đoạn mở cửa, Nhà xuất bản bắt tay vào mở rộng kế hoạch, ra hàng loạt các tủ sách đủ thể loại, đặc biệt có tủ sách “tuyển tác phẩm của các tác giả tiêu biểu”. Năm 1992, Tuyển tập tác phẩm Đoàn Văn Cừ ra đời. Và lần đầu tiên tôi có dịp được tiếp xúc với tác giả Thôn ca ngay tại quê ông, nơi ông “ở ẩn”, sau khi được nghỉ chế độ.

Sách ra, cùng với nhà thơ Nguyễn Bao, Phó giám đốc, chúng tôi đi xe của Nhà xuất bản chở sách bản quyền về trao tận tay tác giả họ Đoàn. Ghé vào Hội Văn nghệ của Hà Nam Ninh, được các anh ở đấy cử anh Kim Ngọc Điệu, anh Vũ Quốc Ái tháp tùng đi thăm chùa Cổ Lễ rồi mới tìm về Nam Lợi, Nam Ninh, quê của nhà thơ họ Đoàn. Về tới nơi trời đã chiều muộn, sẩm tối…

Thời ấy việc ra sách hoàn toàn theo kế hoạch bao cấp của nhà nước, và việc làm tuyển tập cho từng tác giả được xếp sắp theo ưu tiên thứ bậc. Nhà thơ Đoàn Văn Cừ nằm trong diện ưu tiên đầu tiên. Sau khi được chủ nhà tất bật đón tiếp vào nhà, được mời ra bên giếng xây cạnh khoảnh vườn trồng nhiều cây hòe đang độ nở hoa, để rửa ráy, chúng tôi được mời vào ngồi chiếu trải sẵn giữa sân gạch, quanh một cây đèn tọa đăng thắp sáng. Anh Thiện lái xe cơ quan đã đi lấy giúp gói sách từ cốp xe đỗ tận ngoài đường chính vào. Nhà thơ Nguyễn Bao làm thủ tục trao sách cho tác giả. Nhà thơ họ Đoàn đã kịp đóng bộ áo cánh quần dài chỉnh tề hồ hởi đưa hai tay run run nhận chồng sách, đặt xuống bên mép chiếu, quỳ gối nhặt ra một cuốn, lom khom ghé đèn chăm chú giở xem. Mọi người ngồi im lặng hồi hộp theo dõi. Đến khi nhà thơ cười lớn lên tiếng: “Thế là Cừ có sách tuyển! Nhưng hãng cứ để xem sau, giờ chuyện trò cho thỏa đã!”. Mọi người hớn hở hưởng ứng.

Đến tận khuya hôm đó chúng tôi phải trả lời bao nhiêu câu hỏi của nhà thơ chủ nhà. Từ khi nghỉ hưu nhà thơ về ở hẳn tại nhà, ít khi đi đâu xa. Có con trai sống và làm việc ở Hà Nội, ông cũng chẳng mấy khi cất công ra thăm. Ông tự nhận mình giờ ở ẩn, là “cư sĩ”. Nói vậy nhưng thực ra ông vẫn theo dõi công việc của đoàn thể - Hội Văn nghệ tỉnh nhà cũng như Hội Nhà văn Trung ương ở Hà Nội, theo dõi sáng tác của bạn bè cũ và cả lớp viết trẻ. Ông hỏi thăm cuốn hồi ký Từ bến sông Thương của nữ thi sĩ Anh Thơ, hỏi chuyến đi tu nghiệp của mấy chục anh chị em viết trẻ, rồi sang cả chuyện thời sự chính biến ở nước Nga, nơi mà ông đã có dịp tới thăm, lên đài Moskva đọc thơ, khi Liên Xô còn đang sôi nổi bước vào giai đoạn “chủ nghĩa cộng sản phát triển”…

Mãi quá nửa đêm, sau khi sắp xếp cho chúng tôi chỗ ngủ đâu vào đấy, nhà thơ Đoàn Văn Cừ mới ngồi lại với cây đèn tọa đăng vặn nhỏ ở sân, lấy Tuyển tập của mình ra xem…

Đi đường xa mệt mỏi, tôi ngủ thiếp đi ngay, sáng ra trở dậy lại lo thu xếp ra xe chia tay gia chủ để về Hà Nội sớm cho kịp một cái hẹn buổi chiều nên không nhận ra có gì khác thường.

Nhà thơ Đoàn Văn Cừ vẫn tươi cười đưa tiễn chúng tôi ra tận xe đậu ngoài đường chính của làng. Mãi khi lên xe, đi một quãng nhà thơ Nguyễn Bao mới cho chúng tôi hay, đêm qua nhà thơ Đoàn Văn Cừ hồ như thức trắng, đọc đi đọc lại tập Tuyển tác phẩm của mình. Lúc đầu ông rất vui như mọi người đã thấy. Nhưng rồi càng đọc ông càng băn khoăn, bứt rứt… Và sáng ra mọi người không để ý thế thôi, chứ trông ông sắc thái không được vui. Thì ra tập sách in để lỗi khá nhiều…

Bẵng đi một thời gian xa cách, đến tháng Tư năm 1997 tôi bỗng nhận được thư của nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Ông gửi thư cho tôi, gọi tôi là dịch giả - thi hữu, lại còn ghi thêm chức danh Chủ tịch Hội đồng văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam, chứ không nhắc gì đến trách nhiệm của tôi ở Nhà xuất bản Văn học. Ông không nói chuyện về công việc xuất bản mà ông nói đến chuyện dịch, phần liên quan đến tôi. Phong bì thư ông gửi khá dày, nhưng thư viết chỉ vài dòng, còn là kèm theo một xấp hai ba tờ giấy chép thơ. Trong thư nhà thơ họ Đoàn viết:

Hiện nay, giới văn học nghệ thuật Việt Nam và độc giả cả nước đang có niềm vui, niềm tự hào chung tiến tới kỷ niệm 40 năm (1957-1997) Hội Nhà văn Việt Nam, 40 năm sự nghiệp văn chương đại nghĩa.

Xin trân trọng kính gửi Hội đồng Văn học, trang thơ dịch kèm theo đây: ĐƯỜNG VÀO THƠ

10 vần thơ hai câu của 10 thi nhân, danh nhân Âu Á, cũng là 10 điều kinh nghiệm bất hủ, 10 điều tâm niệm của tất cả những ai cùng yêu thơ, cũng đã sớm “mang lấy nghiệp vào thân”.

Đây là tâm thành, cốt lõi của vấn đề mà người dịch muốn gửi gắm.

Về kỹ thuật và quan niệm – nhất là quan niệm, Đoàn Văn Cừ vô cùng hy vọng vào giúp đỡ của nhà văn Thúy Toàn và Hội đồng văn học dịch.

Văn chương xưa nay sớm có tình riêng, gắn bó, quý mến, trân trọng nhau giữa người viết và người đọc.

Xin hết sức chân thành kính chúc thi hữu mùa Xuân đẹp, nhiều thành công bút mực, nhiều tin Xuân, tin thơ.

Kính bút (chữ ký) Đoàn Văn Cừ

Kèm theo hơn hai trang khổ A4 với tiêu đề: Tiến tới Kỷ niệm 40 năm Hội Nhà văn Việt Nam (1957-1997) ĐƯỜNG VÀO THƠ, (Tặng những ai đã lấy nghiệp vào thân). Tiếp theo là 10 khổ thơ 2 câu dịch thành thơ lục bát danh ngôn của các văn hào thế giới – Macxim Gorki, Nguyễn Du, Alfrết đờ Muytxê, Alfrết đờ Vinki, Boalô, Ovit, Coocnây, Đỗ Phủ, đi cùng có Phụ Chú – 10 bản tiếng Pháp, phiên âm Nôm của Hán văn cùng mười đoạn dịch nghĩa

Chẳng hạn

         1. Thái dương sinh những bông hồng,

         Mẹ hiền sinh những anh hùng thi nhân

         (Macxime Gorki: Sans le soleil, les fleurs ne s’épanouissent pas, sans la mère, il n’y a ni poète ni héros

         Không có mặt trời, không có loài hoa nào nở được

         Không có mẹ hiền, không có anh hùng và thi nhân)

         2. Đồng quê hoa cỏ mến người

         Câu ca, điệu hát học lời lúa dâu

         (Nguyễn Du: Thôn ca sơ học tang ma ngữ

         Trong lời ca tiếng hát nơi thôn dã, học được âm điệu

         Ngôn ngữ người đồng quê cây lúa, trồng dâu gai)

         3. Thi hào, quốc sỹ, vĩ nhân

         Nhiều đau thương lớn, gian truân mới thành

         (Alfred de Musset: Seules les grandes souffrances font les grands poètes

         Chỉ từ những nỗi đau lớn, mới này sinh thi tài lớn, nhà thơ lớn)

Ít lâu sau, ngày 16/4/1997 nhà thơ Đoàn Văn Cừ lại gửi thư cho tôi, bổ sung thêm 3 khổ thơ do ông dịch ra lục bát danh ngôn của ba tác giả Giả Bảo, Lamactin, V.Hugo, cũng kèm theo phiên Nôm Hán văn và bản tiếng Pháp, cùng dịch nghĩa.

Trong thư gửi cho “thi hữu”, nhà thơ họ Đoàn còn bộc lộ rõ quan điểm dịch của mình: “Dịch thơ cũng như làm thơ, lấy thơ, lấy thần là chính, thi tại ngôn ngoại, sắc ngoài sắc,vị ngoài vị.

Dịch giả và tác giả là đôi bạn đồng hành, đồng tâm, đồng điệu, bổ sung, phát triển lẫn nhau…”

Trong thời gian qua trên văn đàn nước ta việc dịch văn thơ nở rộ. Riêng về dịch thơ ca, liên tiếp xuất hiện hàng chục tập tuyển thơ dịch do nhiều người thực hiện, cũng như của riêng người dịch này dịch giả nọ. Về hình thức thể hiện dịch cũng thật đa dạng phong phú. Ngoài loại hình dịch thuật truyền thống, những dịch nghệ thuật, trực dịch, phỏng dịch… Xuất hiện tác dịch (Thái Bá Tân), Ngẫu dịch (Trương Nam Phương), dịch Việt ra Việt (Đỗ Hoàng) vv… Về thể thơ, gần đây xuất hiện khá nhiều bản dịch thơ Á, Âu chuyển sang thể thơ lục bát Việt Nam (Thơ Đường chuyển lục bát Cao Bá Vũ (NXB Văn học 2002), 101 bài thơ tình nước Nga (lục bát) của Ngọc Châu (NXB TG 2012)

Dịch thuật của nhà thơ Đoàn Văn Cừ có nét độc đáo riêng, có chủ đích rõ ràng, nhất quán. Ông muốn phổ biến những suy nghĩ, kinh nghiệm sáng tác nghệ thuật của các bậc doanh nhân cổ kim đông tây giúp cho “thi hữu”, những ai cũng sớm “mang lấy nghiệp vào thân”, mà ông chú thích thêm bằng câu thơ của Nguyễn Du: “Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần, trời xa” (Kiều).

Nhà thơ của đồng quê Việt Nam vận dụng thể thơ lục bát thân quen sở trường của mình để chuyển tải tứ thơ, triết lý cuộc đời, triết lý sáng tạo của các bậc tiền nhân kiệt xuất… Nói chung đọc các khổ thơ dịch được ông gửi cho tham khảo tôi đều thấy suôn sẻ, dễ nhập, dễ đi vào lòng.

Tôi viết thư chia sẻ một vài cảm tưởng của tôi sau khi được tiếp xúc với những dịch phẩm của ông gửi cho, nhà thơ lão thành viết tiếp thư mới cho tôi (13/5/1997): “Tha hương ngộ cố tri”. Cừ đã nhận được thư anh, đề ngày 5/5/1997, đúng ngày Hội ta tổ chức long trọng Kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Hội (1957-1997)

Không nhận được giấy của Ban tổ chức, Cừ vẫn coi như có dự.

Rất chân thành mừng vui, nghĩ như vậy.

Xin chân thành cảm ơn nhà văn, Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch khuyến khích bạn tiếp tục “Hoa thơm cỏ lạ” cho tới khi thành công. Chả là những khổ thơ ông gửi cho tôi dưới nhan đề ĐƯỜNG VÀO THƠ là trích ra từ công trình sưu tầm, dịch của ông có tên HOA THƠM, CỎ LẠ.

Nhà thơ họ Đoàn từ thảo lư Sông Ngọc của mình còn tiếp tục gửi ra Hà Nội cho tôi một số sáng tác mới của mình. Chẳng hạn bài suy nghĩ MỘT QUAN NIỆM THƠ (không phân biệt sáng tác hay dịch). Về sau cũng bài này có sửa chữa ông chép lại gửi thêm với đầu đề Vì một hành tinh mới có đề từ Phải biết ước mơ Lênin. Ông còn chép gửi cho một bản dịch thơ của Alfred de Musset (1810-1854) – bài thơ Hỏi sao hôm, ghi theo trí nhớ, không rõ người dịch.

Mấy năm sau khi tôi cũng đã nghỉ hưu, tháng 9 năm 2002, tôi một lần nữa lại có dịp về thăm nhà thơ họ Đoàn, cư sĩ thảo lư Sông Ngọc, vào cuối mùa sen, vào dịp sắp kỷ niệm tuổi thượng thượng thọ 90 của ông. Lần này cùng với nhà thơ Nguyễn Bao chúng tôi đi nhờ xe của nhà thơ Hữu Toàn do con trai anh lái, có cả người con trai thứ của Đoàn Văn Cừ, là họa sĩ Đoàn Văn Nguyên cùng về thăm cha mẹ.

Dọc đường hai nhà thơ Nguyễn Bao – Hữu Toàn, thuộc nhiều thơ của nhà thơ họ Đoàn thay nhau ngâm đọc thơ họ Đoàn cho mọi người thưởng thức. Hai anh trao đổi bình luận về những câu thơ hay. Tôi lại có dịp học lỏm để hiểu thêm nhà thơ họ Đoàn, cũng như thơ ca nói chung. Anh Hữu Toàn rất thích bài Về quê mẹ... vừa ngâm nga:

         Tôi nhớ đi qua những rặng đề,

         Những dòng sông trắng lượn ven đê,

         Cồn xanh, bãi tía kề liên tiếp

         Người xới cà ngô rộn bốn bề

Anh vừa hướng chúng tôi nhìn ra hai bên đường ngắm cảnh sắc đồng quê xứ Thành Nam. Anh nhận xét: cụ Cừ giỏi tả cảnh thật! Mà thật giầu hình ảnh, màu sắc, âm thanh. Ở bài Chợ Tết cụ đã điểm tới trên hai chục màu sắc khác nhau hòa trộn trên bức tranh quê. Trong bài Về quê mẹ cụ cũng đưa ra, nào là: “... tơ mây bay sắc trắng ngần”, rồi “Những dòng sông trắng lượn ven đê”, “cồn xanh, bãi tía...”, “Khuyên vàng, yếm thắm, áo the nâu”, “mắt sáng, môi hồng, má đỏ âu”, “.. nắng nhạt vàng”, “Trời xanh, cò trắng...”, “…xác lá vàng”, “Tà áo nâu...”, “…cặp má hồng”.

Anh còn thắc mắc: “Thúng cắp bên hông…”, sao lại cắp thúng? Ở đây cái thúng đó dứt khoát không phải cái thúng to đựng thóc, đựng gạo, mà phải là cái thúng đựng trầu, đựng đồ khâu vá, kiểu con gái ngày nay đi đâu phải có cái sắc, cái ví đầm… Có phải thế không anh Bao?

Đến nơi, trời còn sớm lắm. Nhà thơ lão thành đang vận quần sắn móng lợn, áo may ô ba lỗ ngồi trong “thảo lư” – căn buồng có hai chiếc ghế gỗ đã lên nước đối diện với chiếc giường cá nhân, giá sách và chi chít bằng khen trên tường… Năm ấy nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã 90 tuổi, tai nghễnh ngãng nặng. Anh con thứ, họa sĩ Đoàn Văn Nguyên đi trước vào buồng hò to chỉ ra sân.

Thay bộ quần áo ngủ nghiêm chỉnh từ buồng bên cạnh nhà thơ trở lại buồng khách. Hai nhà thơ Nguyễn Bao và Hữu Toàn đón cụ, bắt đầu cuộc trò chuyện. Lần này nhà thơ – cư sĩ họ Đoàn nặng tai hẳn, khác hẳn mười mấy năm trước, không còn nghe được gì. Chuyện trò với nhà thơ phải viết ra giấy. Mắt thì vẫn tinh, đọc câu hỏi không phải đeo kính, nhà thơ cười thoải mái và trả lời đâu ra đấy. Không những thế nhà thơ còn kể hết chuyện này đến chuyện nọ, chuyện nhà, chuyện “bà lão” chăm lo cho chồng ra sao. “Bà lão” kém cụ ông một tuổi, nhưng còn mạnh chân mạnh tay, tinh tường hơn cụ ông nhiều. Rồi chuyện làng, chuyện huyện, lễ hội gần, lễ hội xa. Đã định trước lần về này về thế nào cũng phải ghi được hình ảnh nhà thơ của đồng quê, về ở ẩn tại nhà, tôi chuẩn bị sẵn máy ảnh và cứ loay hoay bấm máy. Thành thử quên khuấy mất việc hỏi thăm về công trình sưu tầm và dịch của nhà thơ họ Đoàn, mà mấy năm trước người đã trao đổi thư từ với tôi: Đường vào thơ – Hoa thơm cỏ lạ đã hoàn thành chưa nhỉ? Đến lúc lên xe mới sực nhớ ra thì đã muộn. Đành tự an ủi mình – chắc còn có lần trở lại.

Nhưng bao nhiêu sự việc khác trong cuộc sống cứ thế cuốn chúng ta đi, một ngày kia nhà thơ Hữu Toàn, người cho chúng tôi đi xe nhờ bữa ấy, đột ngột ra đi. Và rồi nhà thơ họ Đoàn cũng chỉ sống được đến tuổi thọ 92 mà thôi. Ngày nhà thơ về với tổ tiên tôi không được biết. Ngoảnh đi ngoảnh lại là thêm một chục năm trôi qua. Sực nhớ ra thì tiên sinh thi sĩ Đoàn Văn Cừ, nếu trời còn cho ở với mọi người thì nay mọi người được chúc thọ người tròn một thế kỷ.

Tôi tìm đến nhà anh con trai thứ của cố thi sĩ Đoàn Văn Cừ - họa sĩ Đoàn Văn Nguyên, hỏi về lễ kỷ niệm: “Lễ bách chu niên” của phụ thân anh sẽ được tổ chức ra sao? Nhân dịp này chắc anh sẽ soạn lại di cảo của phụ thân để có thể ra thành sách kỷ niệm truyền lại cho hậu thế. Trong đó thế nào cũng phải có di cảo Hoa thơm cỏ lạ? Tôi còn giữ đây 13 khổ thơ dịch chép tay của cố nhà thơ, xin góp, nếu cần. Đã qua bao nhiêu thời gian kể từ khi những bài thơ của cố thi sĩ đồng quê Đoàn Văn Cừ xuất hiện trên sách báo vào cuối những năm 30 thế kỷ trước, bạn đọc các thế hệ vẫn lưu truyền đến tận ngày nay. Những câu thơ dịch của thi sĩ nếu được tập họp lại, ấn hành thành sách, tôi nghĩ bạn đọc cũng sẽ yêu quý và ghi nhớ, và qua đó khẳng định thêm một khía cạnh sáng tạo nghệ thuật ngôn từ độc đáo của thi sĩ họ Đoàn – mảng sáng tạo trong dịch thuật.

Mà thi sĩ Đoàn Văn Cừ quả là một dịch giả thơ ca thật sự độc đáo. Trong lý lịch trích ngang của thi sĩ cũng đã cho biết thi sĩ từng làm công việc của người dịch: “Năm 1948 tòng quân, tham gia kháng chiến chống Pháp, làm công tác văn nghệ, phiên dịch, công tác địch vận Liên khu III”. Khẳng định thêm sẽ là công trình sưu tầm và dịch thành thơ lục bát danh ngôn của các danh nhân trên thế giới, thêm vào đó là những suy nghĩ nghề nghiệp, trong đó có suy nghĩ về dịch thuật, mà thi sĩ để lại trong một số bài viết lý luận ít ỏi thôi, nhưng rất sâu sắc và chí lý.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 07.6.2015.