Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Đọc Lại Thư Của Cụ Phan Châu Trinh

Gởi Nguyễn Ái Quốc Năm 1922.



T heo Sổ tay Báo cáo viên năm 2005 của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, đầu năm 1922, Nguyễn Ái Quốc ra báo Le Paria (Người cùng khổ) ở Paris (thủ đô nước Pháp), sau hai năm Người tìm ra con đường cứu nước khi đọc được tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lê Nin đăng trên báo L’Humanité số ra ngày 16 và 17/7/1920. Sự kiện này xảy ra chỉ sau 9 năm kể từ thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu tại bến Nhà rồng ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911).

Trong thời gian đó, cụ Phan Châu Trinh rời Paris đi xuống miền Nam nước Pháp, ở cảng Marseille để chuẩn bị về nước. Tại đây, cụ Phan đã viết thư cho Nguyễn Ái Quốc đề “Marseille, ngày 18 Février 1922” và mở đầu ghi :”Bức thư gửi anh Nguyễn Ái Quốc”. Sau đó, cụ Phan viết :”Tôi với anh mấy năm ròng cùng chung sống nơi đất khách quê người, nhưng mà lòng bọn mình chẳng khi nào quên cái cảnh tượng bên nhà…Bởi cái cảnh thất quốc vong gia, lương dân đồ thán nên cánh giang hồ chúng mình làm sao mà nguôi dạ được, hồn Tổ quốc nặng trĩu trên vai, xót vì quốc dân đồng bào đương rên xiết bởi cường quyền áp chế.”

Chúng ta đã biết đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc vào Đảng Xã hội Pháp và 18/6 năm này, Người gởi đến Hội nghị Versaille “Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam” đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Tới tháng 7, Nguyễn Ái Quốc chuyển đến nhà số 6 phố Vila Đê Gôbolanh quận 13, Paris ở chung với luật sự Phan Văn Trường và cụ Phan Châu Trinh.

Chúng ta cũng biết mối quan hệ giữa Nguyễn Tất Thành với cụ Phan Châu Trinh như tình bác-cháu. Trước khi xuống tàu đi Pháp (5/6/1911) Nguyễn Tất Thành được cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đưa xuống Mỹ Tho gặp cụ Phan để nhờ giúp đỡ sau khi cụ Phan sang Pháp (rời Sài Gòn tháng 4/1911). Đầu năm 1914, từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan ở Pháp, thông báo vắn tắt tình hình sinh hoạt, học tập của bản thân. Tháng 8, Nguyễn Tất Thành lại gửi thư cho cụ Phan đưa ra nhận xét về cuộc chiến tranh thế giới và dự đoán những chuyển biến có khả năng xảy ra…(Sổ tay Báo cáo viên 2005, trang 206). Hai bức thư này hiện còn lưu giữ tại nhà lưu niệm cụ Phan Châu Trinh ở khu mộ cạnh sân bay Tân Sơn Nhất.

Trong thư nói trên, cụ Phan nói với Nguyễn Ái Quốc :”Bấy lâu nay, tôi cùng anh và anh Phan (LS Phan Văn Trường) đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi; còn tôi thời lại không thích cái phương pháp ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội của anh và cái phương pháp dụng lý thuyết thâu nhân tâm của anh Phan. Bởi phương pháp bất hòa mà anh đã nói với anh Phan (Luật sự Phan Văn Trường – VL chú thích) là tôi là hạng người hủ nho thủ cựu; cái điều anh gán cho tôi đó tôi không giận anh tí nào cả; bởi vì suy ra thời tôi thấy rằng : tôi đọc chữ Pháp bập bẹ, nên không am hiểu hết sách vở ở cái đất văn minh này; cái đó, tôi đã thua anh xa lắm, đừng nói gì đọ với anh Phan..”

Cụ Phan Châu Trinh đã khuyên Nguyễn Tất Thành như sau :”Theo ý tôi thì mình mà mình học hỏi lý thuyết hay, phương pháp tốt, tóm thâu được chủ nghĩa, có chí mưu cầu lợi quyền cho quốc dân đồng bào thời đừng có cái lối nương náu ngoại bang để rung chuông, gõ trống mà trở về mà ẩn náu trong thôn dã, hô hào quốc dân đồng bào đồng tâm hiệp lực đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công !...Bởi cái lẽ đó mà tôi khuyên anh nên thu xếp mà về, đem cái tài năng của mình khích động nhân tâm, hô hào đồng bào ba kỳ đồng tâm hiệp lực để mà đánh đổ cường quyền áp chế, ắt là thành công. Tôi biết anh hấp thụ cái chủ nghĩa của Mã Khắc Tư (Các Mác), ông Lý Ninh (Lê nin), nên tôi cũng đem chuyện hai ông ấy làm mà giảng dẫn cho anh thêm rõ”.

Phần cuối thư, cụ Phan kết luận :”Anh Nguyễn, tôi tường tâm với anh đã rõ nguồn cơn, bây giờ thân tôi tợ chim lồng cá chậu, vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí lẫn…Còn anh, như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông…Bởi vậy, tôi thành tâm mong mỏi anh thay đổi cái phương pháp cũ kỹ kia đi, để mà mưu đồ đại sự, tôi cầu chúc anh thành công và hy vọng bọn mình cùng thấy mặt nhau ở quê hương xứ sở.”. Bên dưới thư này, ghi :”Người bạn kính thư – Phan Châu Trinh.”(Phan Châu Trinh, thân thế và sự nghiệp, NXB Trẻ, tháng 4/2002, trang 258-265).

Tháng 6/1925, cụ Phan về nước cùng chuyến tàu với ông Nguyễn An Ninh được cử sang Pháp đón cụ, về được tiếp đón nồng nhiệt. Tới tháng 12, thì sức khỏe của cụ suy sụp nằm dưỡng tại nhà số 54 đường Penlơranh (nay là đường Pasteur Q.1 TP HCM) cho tới khi qua đời. Trong thời gian này, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đều túc trực bên cạnh vì hai người là bạn đồng khoa rất chí thân. Thân thiết nhất là Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường và cụ Bằng Huy; còn cụ Huỳnh Thúc Kháng vì chờ giấy thông hành nên tới ngày cuối cùng mới vào gặp được nhau có mấy giờ trước khi cụ Phan mất, vừa kịp để nghe lời trăn trối cuối cùng đặc biệt quan trọng của cụ Phan :”Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc” (Sđd trang 194)..

Qua bức thư trên và hai thư của Nguyễn Tất Thành gởi cụ Phan khi còn ở Anh, ngay như lúc cùng ở chung nhà tại Paris, chúng ta nhận thấy Bác Hồ luôn tôn kính cụ Phan và gọi xưng bác-cháu nhưng cụ Phan đãi ngộ lại như tình bạn hữu, rất coi trọng Người, tới giờ phút lâm chung vẫn còn trăn trối lại với kỳ vọng chân thành như vậy.

Từ mối quan hệ đồng môn, đồng khóa và đồng bảng mà hai nhân sĩ trí thức Nguyễn Sinh Sắc và Phan Châu Trinh luôn có chung tư tưởng “ái quốc” và “cứu quốc”. Con đường cứu nước của hai ông hướng về phương Tây chớ không phải từ phương Đông như phần đông các nhà ái quốc khoa bảng ở vào thời kỳ ấy, sau đệ nhất thế chiến và sau nền văn minh khoa học công nghệ phát triển của thế kỷ 18.

Chính cụ Nguyễn Sinh Sắc đã sớm rèn luyện cho con trai Nguyễn Tất Thành cái chí hướng yêu nước thương dân và mưu đồ việc lớn (giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc) theo tư tưởng dân tộc – dân chủ - dân quyền của các cụ sáng lập trường học mới Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội), trong đó có nhân sĩ trí thức Phan Châu Trinh. Thoạt tiên, cụ Nguyễn Sinh Sắc đào tạo con trai út sớm có chí khí và thiên tài Nguyễn Sinh Cung đổi tên thành Nguyễn Tất Thành và con trai lớn Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt với mong mỏi đạt được thành công trong nghiệp lớn trên đường đời. Điều này ứng với lời dặn dò sau cùng của cụ Phan trước lúc lâm chung ý tứ về hậu vận của Nguyễn Tất Thành :”Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”.

Cả hai nhân sĩ trí thức thời đại ấy đều có chung một tấm lòng và tư tưởng sớm nhìn thấy tương lai – hậu vận của Nguyễn Tất Thành. Người cha mẫu mực Nho học nhưng lại có chí hướng đào tạo cho con trai bằng hai nền giáo dục đương đại : Nho học và Tây học. Khi còn ở quê nhà Nam Đàn - Nghệ An, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã rèn luyện ngay cho con trai theo nền Nho học truyền thống của mình, cả trước và sau khi đỗ đạt. Nhưng tới khi vào nhậm chức ở Huế, cụ lại hướng con trai vào nền Tây học tiên tiến cho theo học trường Quốc học Huế. Chính ở môi trường này, học trò Quốc học Huế đã nhanh chóng chuyển đổi tư tưởng từ yêu nước thương dân tới “giúp dân, cứu nước” thực tiễn là tham gia biểu tình của nông dân 6 huyện tỉnh Thừa Thiên đòi giảm sưu cao thuế nặng ngay trong lòng thực dân Pháp đang áp bức bóc lột nhân dân ta. Từ đó, anh bị mật thám Pháp theo dõi, cả cha là cụ Nguyễn Sinh Sắc.

Từ quá trình học hỏi ở tuổi ấu thơ cho đến lúc trưởng thành, hiểu biết sâu rộng về văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội, lịch sử do người cha thân yêu tạo điều kiện theo bước chân trên đường hoạn lộ về phía Nam, thanh niên Nguyễn Tất Thành sau khi đang ở Bình Định với cha (Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc nhậm chức tri huyện) thì được thầy giáo Phạm Ngọc Thọ bạn thân của cha dạy thêm chữ Pháp ở Quy Nhơn (1909) rồi theo thầy tới Phan Thiết. Được thầy Thọ giới thiệu, Nguyễn Tất Thành dạy học ở trường Dục Thanh vừa mở cửa được vài năm do gợi ý của cụ Phan Châu Trinh theo hướng trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội. Công ty Liên Thành bảo trợ trường này thường xuyên có tàu buôn chở hàng ra vào Sài Gòn. Đây là cơ hội để thầy giáo Nguyễn Tất Thành tới Sài Gòn với ý định tìm kiếm một phương hướng mới cho đời mình (tháng 8/1910).

Chia tay với con trai ở Bình Định để về Huế theo lệnh triệu hồi của triều đình, cụ Phó Bảng lại không an tâm nên khi vừa được triều đình miễn truy cứu về tội chống tham ô liền vội vã vào ngay Sài Gòn mặc dù bị Khâm sứ Pháp làm khó dễ. Tới đây cụ Phó bảng được tin cụ Phan Châu Trinh vừa được Pháp đưa từ Côn Đảo về an trí ở Mỹ Tho và biết rõ cụ Phan sắp sửa đi Pháp theo lời mời của Hội nhân quyền do những người Pháp tiến bộ lập ra. Cụ Phó bảng nhanh chóng đưa con trai xuống Mỹ Tho để gặp cụ Phan, chắc chắn với ý định gởi gấm (đầu năm 1911). Sau này, Bác Hồ cho biết cụ Phan đã dặn dò mình tìm cách đi Pháp và sang đó cụ sẽ giúp đỡ ở nước ngoài.

Nguyễn Tất Thành sau khi từ Mỹ Tho trở lại Sài Gòn thì có quyết tâm đi Pháp nên đã xin vào học trường cơ khí Á Châu (nay là trường Cao đẳng kỹ thuật Cao Thắng Quận 1) để rồi tới ngày 5/6/1911 xin được làm phụ bếp cho tàu Admiral Latouche Tréville để ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Như vậy, cụ Phó bảng đã thành công nuôi dạy người con trai sớm có chí lớn tìm đường cứu dân cứu nước. Nhưng cụ vẫn chưa an tâm nên cụ ở lại Sài Gòn để theo dõi từng ngày bước chân phiêu bạt của con trai trên đường xa xứ. Trong lúc chờ đợi tin tức của con trai, cụ Phó bảng hoạt động từ thiện – xã hội (mang ý nghĩa của hành động yêu nước) bằng cách đi lại nhiều nơi như Bình Dương, Cao Lãnh, Bến Tre, An Giang, có khi lên tận Phnom Penh (Campuchia) để bốc thuốc trị bệnh cho dân nghèo, trong đó có thời gian hoạt động tuyên truyền, vận động chấn hưng đạo Phật mà cụ gọi đó là hành động yêu nước.

Trước ngày con trai lên đường xuất ngoại, cụ Phó bảng đã động viên như sau :”Nước mất thì lo mà cứu nước, con chỉ có mỗi một việc đó phải làm. Cứu nước tức là hiếu với cha rồi đó. Con hãy mạnh dạn lên đường. Cha chỉ quanh quẩn đất Sài Gòn để trông tin tức của con” (Theo Tạp chí Văn học của tỉnh Sa Đéc nay là Đồng Tháp).

Tới khi nghe tin Nguyễn Ái Quốc gởi bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” đến hội nghị hòa bình Versailles ở Paris (Pháp) thì cụ rất mừng và sau đó nhiều tài liệu, sách báo của Nguyễn Ái Quốc viết về chủ nghĩa Mác-Lê Nin và cách mạng Việt Nam gởi về Việt Nam, cụ lại vui hơn vì biết rằng con trai của mình đã thực sự tìm được con đường cứu nước cứu dân.

Năm 1925, cụ Phan Châu Trinh về Sài Gòn, cụ Phó bảng thường tới thăm và ở lại chăm sóc cụ Phan tới ngày qua đời. Trước lúc lâm chung, cụ Phan đã tâm sự với cụ Phó bảng :” Độc lập của dân tộc ta sau này sở cậy có Nguyễn Ái Quốc”.

Cuối cùng, cụ Phó bảng hoàn toàn an tâm về đứa con trai thân yêu của mình “thành đạt” ở nước ngoài nên năm 1927 về ở hẳn Cao Lãnh làm nghề thuốc để sinh sống cho tới ngày bị bệnh qua đời (26/11/1929) năm Kỷ Tỵ. Cụ Nguyễn Sinh Sắc quả là một nhà nho yêu nước, thương dân và là người có công sinh thành, nuôi dạy cho dân tộc Việt Nam một lãnh tụ kiệt xuất, cho thế giới một danh nhân văn hóa : Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về phần Nguyễn Tất Thành sau khi đổi tên Nguyễn Ái Quốc (gia nhập Hội những người yêu nước tại Pháp) và gởi đến Hội nghị Versailles bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” tháng 6 năm 1919 có sự góp ý của cụ Phan Chu Trinh và chấp bút của Luật sự Phan Văn Trường, ngày càng có nhiều hoạt động chính trị - xã hội, dân tộc, dân quyền và ruộng đất. Ông lại có quan hệ với Đảng Xã hội Pháp, Quốc tế Cộng sản và gia nhâp đảng Cộng sản Pháp, nhất là khi được đọc bản sơ thảo của Lê Nin về vấn đề dân tộc thì tư tưởng và sự nghiệp cứu nước đã chuyển đổi hẳn sang hướng mới – hướng cách mạng xã hội và cộng sản chủ nghĩa, tìm cách tới Liên Xô và có nhiều dịp đi về phương Đông, tới Trung Quốc và các nước chung quanh Việt Nam (Lào, Thái Lan, Malaysia, Indonesia…) vừa để liên kết vừa để thăm dò tình hình trong nước.

Tới năm 1926-1927 Nguyễn Ái Quốc đã liên lạc được với những người yêu nước của Việt Nam ở Trung Quốc và nhiều tài liệu, báo chí đã được Người gởi về Việt Nam. Phong trào yêu nước cứu nước đã được thổi lên ở trong nước theo con đường của Lê Nin và chủ nghĩa Mác –Lê nin. Cuối cùng tới đầu năm 1930 ông thành lập đảng Cộng sản Việt Nam (hợp nhất ba đảng cộng sản ở ba miền Nam, Trung, Bắc) tại Hồng Công thì sự nghiệp cứu nước của Người đã thành hiện thực. Đầu năm 1941, ông về nước lập căn cứ đầu não ở Pắc Bó tỉnh Cao Bằng và liên tục tổ chức nhiều hội nghị mở rộng của Đảng cộng sản Việt Nam, kêu gọi toàn thể nhân dân trong cả nước đồng tâm hiệp lực vùng dậy kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập cho nước nhà.

Những động thái nói trên đều có liên quan tới nội dung lá thư của cụ Phan Châu Trinh gởi Nguyễn Ái Quốc “ngày 18 Février 1922” trước khi trở về nước. Tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh được hình thành từ những nhà trí thức Nho học yêu nước, torng đó có cụ Phan Châu Trinh cộng thêm với tri thức thời đại và thực tiễn đấu tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê Nin mà Liên Xô, Trung Quốc là một thành tựu điển hình làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam thành công to lớn của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh mà ngày nay Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền đang phát triển có một vị trí, vai trò và uy tín đáng kể trên trường quốc tế trong thời kỳ mới.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 30.5.2015.