Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM




      Những Danh Thắng Hà Nội



Chùa Trấn Quốc


M ột trong những ngôi chùa được xây dựng tại trung tâm Đại La ngày trước là chùa Trấn Quốc. Chùa được xây bên cạnh hồ Tây. Chùa nầy nguyên trước là chùa Khai Quốc, dưới triều vua Lý Nam Đế (544-548) ở ngoài bãi sông Hồng, nằm về phía Bắc phường Yên Hoa, tức là Yên Phụ, gần cầu Long Biên hiện nay. Năm 580, thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi từ Ấn Độ đến trung tâm Luy Lâu cũng đã dừng chân tại ngôi chùa nầy trong một thời gian.

Đời nhà Lý nhiều vị cao tăng, thạc đức trong nước được nhà vua mời đến để thuyết giảng tại đây, nên dân chúng khắp nơi thường đến chiêm bái. Dưới triều vua Lý Nhân Tông, thái hậu ý Lan thường đến lễ Phật tại chùa Trấn Quốc, và tổ chức cúng dường chư tăng trong vùng nầy. Bà cũng thường đến học hỏi Phật pháp với những cao tăng tại chùa nầy.

Vào đời vua Lê Thái Tông (1434-1442) chùa được tu sửa lại thêm nhiều và cũng đã được đổi tên là chùa An Quốc, dùng trong việc cầu khẩn vào những ngày đầu mỗi năm cho quốc thái, dân an. Nhưng thời gian sau đó thì nhiều trận lụt xẩy ra cho nên bến bãi của vùng nầy bị xoi mòn khá nhiều, có ảnh hưởng đến nền tảng của ngôi chùa nầy.

Vì vậy vào đời vua Lê Kính Tông, dân chúng làng Yên Phụ đã góp công sức để dời ngôi chùa vào gò đất Kim Ngư. Từ đó, ngôi chùa được tái thiết vững chắc hơn. Mãi cho đến đời vua Lê Hy Tông (1676-1705) thì chùa nầy mới được đổi tên là chùa Trấn Quốc cho đến ngày nay.

Nhà vua đã ban sắc tứ Quốc Tự cho chùa. Hằng năm vua nhà Lê thường đến lễ bái, cầu khẩn sau dịp Nguyên Đán. Hiện nay, bức hoành phi treo trong chùa có ba chữ Trấn Quốc Tự được kiến tạo từ thời đó. Chùa được xây dựng bên cạnh hồ Tây cho nên dưới thời vua Lê chúa Trịnh, chùa cũng được dùng làm nơi nghỉ ngơi cho nhà vua mỗi khi đến vãn cảnh hồ Tây.

Vào năm 1842, vua Thiệu Trị ra Bắc có đến vãn cảnh chùa và đổi tên chùa là Trấn Bắc Tự, nhưng dân chúng vẫn quen gọi tên cũ là chùa Trấn Quốc như hiện nay. Chùa Trấn Quốc không những là một ngôi quốc tự thường được nhiều vua chúa đến lễ bái, cúng dường mà còn là nơi kết tụ nhiều vị danh tăng từ nhiều phương đến đây.

Dưới thời Lý Trần, nhiều danh tăng thường đến trụ trì hay thuyết giảng tại ngôi chùa lịch sử nầy như: ngài Vân Phong, ngài Khuông Việt, ngài Thảo Đường, ngài Thông Biện, ngài Tịnh Không.

Ngoài ra chùa Trấn Quốc cũng liên hệ nhiều đến Thiền phái Thảo Đường. Sử chép: Vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông đem quân sang đánh nước Chiêm Thành đến tận kinh thành Đồ Bàn, bắt được vua nước nầy là Chế Củ, nhiều hoàng thân quốc thích và nhiều tù binh. Trong số những tù binh nầy có một vị tu hành rất tinh thông Phật Pháp. Khi hỏi ra thì mới biết đó là danh sư Thảo Đường mà dân chúng Chiêm Thành rất trọng vọng. Vua nhà Lý đã phong cho thiền sư Thảo Đường làmQuốc sư và cũng đã cung thỉnh ngài trụ trì tại ngôi chùa Trấn Quốc. Thiền sư cũng đã lập ra thiền phái Thảo Đường.

Vào đời Hậu Lê, chùa Trấn Quốc cũng đã trở thành ngôi tổ đình của thiền phái Tào Động. Chùa Trấn Quốc trải qua bao nhiêu thăng trầm lịch sử cũng như thời gian bị hư hại nhiều cũng như được trùng tu nhiều lần. Khi được dời vào vùng bãi Kim Ngư (Cá Vàng), chùa Trấn Quốc cũng đã được kiến thiết và trùng tu nhiều lần.

Chẳng hạn như năm 1624, dưới triều nhà Hậu Lê, vua Lê Thần Tông đã được xây dựng toà Tam bảo, toà Thiên hương và ngôi Tiền đường. Nhà Tổ cũng được dựng lên sau chánh điện. Thời gian sau đó, năm 1639 lại xây thêm cổng tam quan, nhà hậu đường và la thành hai bên khá kiên cố.

Hiện nay phía gian bên phải của nhà chánh bái còn có tấm bia ghi lại công trình tái thiết nầy do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đề từ. Đời Tây Sơn, qua nhiều cuộc chiến, chùa Trấn Quốc cũng bị tàn phá khá nhiều.

Căn cứ theo nội dung của một tấm bia do vị tiến sĩ triều Gia Long là Phạm Quý Thích được dựng lên vào năm 1815 thì trong khoảng thời gian từ năm 1813 - 1815, chùa Trấn Quốc đã được trùng tu lại nhiều công trình đã bị hư hại: chánh điện, nhà thiêu hương, la thành, gác chuông, hậu đường. Công trình tu tạo lần nầy là do công đức của vị trụ trì tại chùa là thiền sư Khoan Nhân. Ngoài ra, ngài cũng cho đúc 5 pho tượng Phật và đại hồng chung.



Chùa Một Cột


Chùa Một Cột còn có tên là chùa Diên Hựu xây ngay ở trung tâm của kinh thành Thăng Long. Ngôi chùa đượcdựng lên trong giai đoạn đầu tiên bắt nguồn từ một giấc mơ. Tương truyền rằng: vào năm 1049, vua Lý Thánh Tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm hiện ra, cầm tay nhà vua dẫn lên toà sen. Khi tỉnh dậy nhà vua đã đem toàn câu chuyện kể cho triều thần nghe. Có người cho là điềm không lành.

Nhà sư Thiền Tuệ khuyên nên xây chùa ở trên cột đá giữa hồ làm toà sen thờ đức Quan Âm. Khi xây cất xong, nhà vua lại sai lập trai đàn chẩn tế để cầu cho nhà vua được sống lâu. Vì thế có tên là chùa Diên Hựu. Năm 1105 Lý Nhân Tông ban sắc chỉ cho sửa chữa lại toàn bộ ngôi chùa nầy, trước sân lại còn cho xây thêmmột bửu tháp theo mô hình kiến trúc Champa kiểu Pô Nagar. Ba năm sau đó, Ỷ Lan Phu Nhân cũng cho đúc một quả chuông rất to, tương truyền là nặng đến một vạn hai nghìn cân. Chuông nầy có tên là Giác Thế Chung, ngụ ý là tiếng chuông sẽ thức tỉnh người trên cõi đời. Chuông nầy được liệt vào một trong Tứ đại khí trong thời bấy giờ. Nhưng sau khi hoàn thành thì chuông gióng lên không kêu liền cho đem bỏ ngoài ruộng, có nhiều rùa. Chuông có tên là chuông Quy Điền.

Năm 1105 vua Lý Nhân Tông ngôi chùa nầy tu bổ đã cho xây 2 ngọn tháp chỏm trắng. Một số giả thuyết cho rằng chùa trước lớn hơn bây giờ, nhưng không có bằng chứng rõ ràng. Chùa xây trên trụ đá hình bát giác, mỗi cạnh có một khối gỗ chống từ cột lên xà ngang. Từ xà ngang hướng lên phía trên có 8 cột chống. Chùa cất theo bố cục hình vuông; các góc đều được trang trí khá tinh vi. Mái được lợp ngói uyên ương (âm dương) ở phần chánh điện và ngói ngang ở phần sau. Từ bờ hồ đi vào có xây một bậc thang dùng làm lối đi chính vào chùa.

Cho đến thế kỷ XV, quân Minh đem quân sang xâm lăng nước ta, chiếm được thành Đông Quan (tức là Hà Nội sau nầy). Lê Lợi đem quân từ Lam Sơn ra chống lại quân thù, bao vây thành lũy của chúng rất gấp. Vì thiếu vũ khí, cho nên tướng Minh là Vương Thông đã sai quân lính đem phá chuông nầy để lấy đồng đúc khí giới. Lê Lợi thắng giặc đem lại thịnh trị cho đất nước, nhưng chuông Quy Điền thì đã không còn lại nữa.

Chùa Một Cột được trùng tu nhiều lần, nhưng quan trọng nhất là cuộc đại trùng tu vào những năm 1840 cho đến 1850 và cuối cùng là năm 1920 sau nầy nữa. Đài Liên Hoa còn sót lại ngày nay cũng là do cuộc trùng tu theo mẫu cũ vào năm 1955. Đài nầy xây theo hình vuông, mỗi cạnh đo được 3 mét, có mái cong theo kiến trúc Trung Hoa, được dựng trên một cột cao 4 mét, đường kính vào khoảng 1,2 mét gồm có hai trụ đá ghép lại với nhau, thành một khối khá hoàn chỉnh.

Tầng trên của chùa là một khung gỗ khá kiên cố, đỡ ngôi đài. Mái chùa được lợp bằng ngói, bốn góc được gặp cong vút lên. Trên mái có tạc hình "Lưỡng long triều nguyệt" bằng những mảnh sành sứ ghép lại với nhau khá tỉ mỉ. Từ xa nhìn lại thì ngôi chùa nầy có dáng một toà sen đang vươn thẳng lên; chung quanh có hàng lan can bằng bằng những viên gạch được tráng màu xanh. Con đường đi qua hồ theo một lối đi nhỏ hơn, lót bằng gạch, rồi một cầu thang lên Phật Đài. Chùa Một Cột đã trở thành một biểu tượng của những ngôi cổ tự Việt Nam cũng như điển hình kiến trúc Thăng Long.



Chùa Quán Sứ


Chùa Quán Sứ được nổi tiếng trong những thập niên gần lại đây vì là Trung tâm Phật Giáo quan trọng của Hà Nội và cũng là trụ sở của những tổ chức Phật Giáo trong cả nước. Theo những tài liệu còn lưu lại cho đến ngày nay thì chùa Quán Sứ được xây dựng vào giữa thế kỷ thứ XV, nhưng một số chứng liệu khác thì chùa có thể xây dựng vào thế kỷ thứ XIV hay sớm hơn nữa.

Chùa Quán Sứ tọa lạc tại địa phận của thôn An Tập, thuộc phường Cổ Vũ, tổng Tiền Nghiêm, huyện Thọ Xương; ngày nay là phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm của thành phố Hà Nội.

Theo cụ Nguyễn Văn Tố (trong Tri Tân Tạp Chí) thì nguyên trước đây chưa phải là chùa mà chỉ là mấy gian nhà tranh vách đất, nằm về phía Nam của địa phương nầy để tế Thần, tế Kỳ Yên trong những ngày đầu năm cho nên được đặt tên là An Tập.

Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã ghi lại rằng: Ngày trước vào đời vua Lê Thế Tông, những nước Chiêm Thành và Ai Lao thường sang triều cống nước ta hằng năm. Những nước nầy đều theo đạo Phật. Nhà vua cho xây một căn nhà tạm trú cho những sứ thần khi mới đặt chân đến, cho nên được gọi tên là Quán Sứ.

Những sứ thần của Chiêm Thành và Ai Lao lại sùng bái đạo Phật, cho nên vua Lê cho xây thêm một ngôi chùa nhỏ nằm trong khu vực Quán Sứ, để họ hành lễ trong thời gian lưu trú tại đây. Ngôi nhà Quán Sứ sau không dùng nữa cho nên đã bị suy thoái theo dòng thời gian, nhưng ngôi chùa Quán Sứ thì được dân chúng đến lễ bái, nên vẫn còn được tồn tại và trùng tu thêm.

Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, khi phong trào chấn hưng Phật Giáo được phát động thì Tổng Hội Phật Giáo Bắc Kỳ đã chọn chùa Quán Sứ làm trụ sở trung ương (3/1934) và cũng được sửa sang thêm nhiều. Cho đến năm 1942, ngôi chùa nầy đã được Hội Đồng Quản Trị ra công xây dựng lại toàn bộ. Bản thiết kế xây cất nầy do hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng phác họa ra. Hội Đồng đã trình lên tổ Vĩnh Nghiêm duyệt xét trước khi xây cất.

Theo nhận định chung thì kỹ thuật kiến trúc và điêu khắc của chùa Quán Sứ đã kết hợp những nét tiêu biểu nhất của những ngôi chùa nổi tiếng miền Bắc đúc kết lại. Về sau thì chùa nầy là trụ sở chính của Tổng Hội Phật Giáo Bắc Việt và nay là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Trước hết là nhìn vào kiến trúc của cửa tam quan; cửa có ba tầng mái cân đối, ở chính giữa cửa là tháp đại hồng chung lưu lại từ đời trước. Sau đó, qua một sân nhỏ có trồng nhiều hoa quý, bước lên 11 bậc thềm thì tới chánh điện của chùa.

Lối trang trí của điện Phật được phối hợp theo kỹ thuật mới, cách bài trí thanh thoát, trang nghiêm và những pho tượng đều sơn son, thiếp vàng. Phía giữa và bên trong thờ Tam Thế Phật ở ngôi vị trang trọng và trên bậc cao nhất. Bậc kế tiếp là tượng đức A Di Đà ở chính giữa; hai bên có tượng đức Quan Thế Âm Bồ tát và Đại Thế Chí Bồ tát. Phía dưới có thờ đức Bổn sư Thích Ca, ngài A Nan Đà và ngài Ma Ha Ca Diếp là hai đại đệ tử của đức Phật. Sau cùng, ở bậc thấp nhất của điện nầy, có tòa Cửu Long, hai bên có tượng Đức Quan Thế Âm Bồ tát và Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Một bàn thờ bên phải thờ ngài Minh Không (tức là LýQuốc sư) vị khai sáng chùa nầy. Những gian phòng khác được tổ chức khá quy mô, có giảng đường, có thư viện dùng trong việc hội họp và nghiên cứu. Hiện nay, Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học được đặt tại chùa nầy. Ngoài ra đây cũng là trụ sở của Tổ chức Phật Giáo Á Châu Phụng Sự Hoà bình chi bộ Việt Nam.



Chùa Kim Liên


Chùa Kim Liên nằm trong địa phận của làng Nghi Tàm, xã Quảng An thuộc thành phố Hà Nội, nằm cạnh Hồ Tây, xoay lưng ra sông Nhị Hà. Chùa cũng còn có tên là chùa Nghi Tàm. Chùa nầy được xây trên nền cũ của ngôi chùa Đống Long, có từ đời Trần; đây cũng là nền của chùa Từ Hoa.

Chùa Kim Liên được xây vào năm Dương Hoá thứ năm (1639) và đến năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) thì được trùng tu lại. Một số tài liệu khác cho rằng: Chùa Kim Liên được xây lên từ đời nhà Lý. Thoạt đầu, ngôi chùa nầy có tên là cung Từ Hoa, hay chùa Từ Hoa, vì nơi đây công chúa Từ Hoa đã ra trú ngụ để trồng dâu chăn tằm. Công chúa đã mở ra trại Tàm Tang, về sau được đổi thành trại Tích ma, rồi lại đổi thành Nghi Tàm.

Đây cũng là tên làng như hiện có. Cảnh quan vùng nầy rất đẹp. Trong tài liệu Thăng Long - Đông Đô của Hoàng Đạo Thúy có viết về chùa Kim Liên như sau: Đứng trên đê Nghi Tàm, vầng dương đã gác ngang vai núi Tản, ngắm lên các mũi dao của chùa Kim Liên thêu nổi lên nền trời và nước, một màu vàng như mới toả, trong khi gió núi đưa lại mùi hương sen ngào ngạt mà thanh thanh. Những mô thức kiến trúc ngôi chùa nầy có nhiều đường nét của nghệ thuật VN vào thế kỷ thứ XVIII; nhiều phần trông giống như kiểu chùa Tây Phương trên núi Câu Lậu.

Nhiều nhà nghiên cứu kiến trúc Việt Nam đã liệt hai ngôi chùa nầy cùng chung nhau một mô thức. Quang cảnh chùa rất thanh nhã. Khi mới đi vào địa phận của chùa, cổng tam quan chỉ có một hàng cột, trên có bệ con, đưa ra hai phía như đỡ lấy mái ngói. Tuy nhiên, nhìn tổng thể của phần cấu trúc nầy trông thật thanh thoát hẳn, ngay trong lối vào của chùa. Tấm bản sơn son, được dựng lên cách đây hơn hai trăm năm, với những chữ Kim Liên Tự. Cửa ở hai bên cũng có hai tấm biển khác; một bên có chữ Từ Bi Địa còn bên kia là Thanh Hư Cung. Những danh từ nầy được trích trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh.

Qua bao nhiêu năm tháng, cổng chùa nầy đã hư hại nhiều và cũng được trùng tu lại vào năm 1986, vẫn theo đúng khuôn mẫu của cổng cũ. Qua khỏi cửa tam quan, đi vào một sân rộng, lát gạch, chung quanh có trồng nhiều chậu cây kiểng, nhất là phong lan.

Ngôi chùa nầy gồm có ba lớp được kiến trúc theo hình chữ Tam. Đó là chùa hạ, chùa trung, chùa thượng. Những dãy chùa nầy đã được sắp xếp song song với nhau. Một tấm bia lớn được dựng lên phía bên tả, ngay trong tiền đường của chùa; người biên soạn là quan Thái Úy An Huy Bùi Huy Cận và gọi tên chùa nầy là chùa Đại Bi. Những cột xà của chùa khá kiên cố, những nét điêu khắc rất tinh vi, dù đã lâu ngày nhưng vẫn còn đường nét sắc sảo.

Tường chùa trước đây được xây bằng loại gạch Khuất Âm, đường vòng cổ khá dày. Chùa trải qua nhiều giai đoạn trùng tu; trong lần trùng tunăm 1792 thì mang nhiều dấu tích của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc của triều đại Tây Sơn.

Trong chánh điện hiện nay còn bảo lưu những pho tượng Phật (Tam thế Phật) và chư Bồ tát. Một pho tượng của Uy Nam Vương Trịnh Giang, mặc sắc phục một vị võ tướng, dáng điệu uy nghi. Đây là một trong những nhân vật có công nhất trong nhiều đợt trùng tu chùa.

Hiện nay, trong chùa Kim Liên còn lưu giữ nhiều hoành phi và nhiều câu đối mang nhiều ý nghĩa. Một trong số những câu đối nầy ghi như sau: "Tâm tức Phật, Phật tức tâm, hoành nhi sung chi dữ thiên địa đồng kỳ đại. Sắc thị không, không thị sắc, quả nhi truyền di quán nguyên hội dĩ vô cùng".

Nghĩa là:

"Tâm tức Phật, Phật tức tâm, mở ra hết tâm rộng, ngang cùng vũ trụ, Sắc tức thị không, không tức thị sắc, lan truyền khắp, dài cùng thế gian".



Thành Cổ Loa


Đây là toà thành cổ vào bậc nhất Việt Nam được vua Thục An Dương Vương xây từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên để làm kinh đô nước Âu Lạc (tên của Việt Nam thời đó).

Thành được xây kiểu vòng ốc (nên gọi là Loa thành) gồm 3 vòng: thành ngoài, thành giữa và thành trong. Dưới thành ngoài là hào sâu ngập nước, thuyền bề đi lại được.

Từ trung tâm thành phố, đi 18km đến xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, sẽ tìm thấy được dấu vết còn lại của 3 vòng thành xưa bằng đất và nơi các nhà khảo cổ học tìm được hàng vạn mũi tên đồng, lưỡi cày, rìu sắc, xương thú vật.

Trong khu vực thành có đình làng Cổ Loa, am thờ công chúa Mỵ Châu và đền An Dương Vương - ông vua rất mực thương yêu con gái của mình nhưng vì mất cảnh giác, ông đã để thành Cổ Loa trở thành sân khấu của tấn bi kịch nước mất nhà tan.



Đền Quan Thánh


Ba chữ Hán tạc trên nóc cổng là Trấn Vũ Quán nghĩa là quán thờ ông Thánh Trấn Vũ. Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp giữa một nhân vật thần thoại Việt Nam (ông Thánh giúp An Dương Vương trừ ma quấy rối khi xây thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc (một ông thánh coi giữ phương bắc).

Đền Quán Thánh được xây dựng vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028). Năm 1893, đền được tu sửa lớn như diện mạo ngày nay. Đặc biệt có pho tượng Thánh Trấn Vũ bằng đồng đen đắp năm 1677. Tượng nặng 3,600kg, chu vi 3,48m. Đền còn có một bức tượng đồng đen cỡ nhỏ, tương truyền đó là tượng ông trùm Trọng, người thợ cả đúc đồng tài hoa đã chỉ huy hiệp thợ đúc tượng Trấn Vũ và quả chuông trên gác tam quan.

Để ghi công ơn thầy, những học trò của ông đã đúc tượng ông và xin được thờ trong đền.



Chùa Liên Phái


Ngôi chùa ở trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Chùa lập vào năm 1726. Lúc mới xây dựng chùa có tên là Liên Hoa, sau đổi tên là Liên Tông và đến năm 1840 đổi tên là Liên Phái. Trước cổng chùa có ngôi tháp Diệu Quang, hình lục lăng, cao 10 tầng, có lối kiến trúc thanh nhã, cổ kính (1768). Trong tháp có hoà cốt đã hoả táng của vị sư tổ Diệu Quang cùng với 5 vị trụ trì khác liên tiếp nhau điều hành ngôi chùa nầy. Nhà bia có 34 tấm bia ghi sự tích của chùa và những lần trùng tu qua những giai đoạn khác nhau. Qua sân rộng đến nhà bái đường và nhà tam bảo thờ Phật.

Khu vườn tháp sau chùa có 9 ngôi tháp xây thẳng theo ba hàng, tương truyền đây là nơi táng hài cốt vị sư tổ thứ nhất Lâm Giác Thượng Sĩ. Ngôi tháp Cửu Sinh đã có trên 250 năm. Đây là ngôi tháp cổ nhất trong nội thành Hà Nội. Ngoài ra chùa còn có một ngọn tháp cao chín tầng kiến trúc đẹp được xây dựng vào năm 1890.



Chùa Láng


Ngôi chùa nầy được khởi dựng vào đời vua Lý Anh Tông (1138 -1175) tại làng Yên Lãng, huyện Từ Liêm, thuộc phường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội. Chùa được xây theo kiểu "nội công, ngoại quốc", tam quan 3 gian, lầu bát giác 4 gian.

Các ngôi nhà chính đều gồm 9 gian, vì vậy ngôi chùa trông rất bề thế. Trong chùa còn lại nhiều di vật cổ của những thiền sư trụ trì ngày trước bảo lưu. Ở hậu cung, ngoài các pho tượng Phật, còn có pho tượng vua Lý Thần Tông bằng gỗ, tượng thiền sư Từ Đạo Hạnh đan bằng mây, bên ngoài quét sơn.

Hai dãy hành lang thờ Thập bát La Hán trong tư thế thiền định, có nhiều nét sinh động. Chùa Láng đã qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn nhất vào năm 1656. Chùa Láng là một ngôi chùa có lối kiến trúc đẹp, bố cục của chùa tạo nên một không gian hài hoà, sâu thẳm, tĩnh mịch, cổ kính uy nghi.


Đền Ngọc Sơn


Ngôi đền nầy được xây dựng từ thế kỷ XIX, trên hòn đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm. Lúc đầu gọi là chùa Ngọc Sơn, sau đổi gọi là đền Ngọc Sơn, vì trong đền chỉ có thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương, khoa cử và thờ đức Trần Hưng Đạo, vị anh hùng có công phá tan quân Nguyên xâm lăng vào thế kỷ XIII.

Ngôi đền còn tồn tại đến ngày nay do công lao trùng tu của Nguyễn Văn Siêu một nhà văn hóa lớn của Hà Nội. Ông đã cho xây tháp Bút, trên tháp có tạc 3 chữ "Tả Thanh Thiên" (viết trên trời xanh), nói lên ý chí của con người chân chính.


Đền Phù Đổng


Còn gọi là đền Gióng, ở xã Phù Đổng, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Đền thờ Phù Đổng Thiên Vương Xung Thần.

Sử chép: Vào đời Hùng Vương thứ VI, ở hương Phù Đổng bộ Vũ Ninh, có nhà sinh đứa con lên 3 tuổi vẫn chưa biết nói cười. Gặp lúc có giặc Ân sang xâm lược, vua sai người đi tìm người tài giỏi ra dẹp giặc. Lúc ấy đứa trẻ bỗng cất tiếng nói, bảo mẹ ra gọi sứ giả vào xin tâu vua làm một con ngựa sắt và một cây gậy sắt để đi đánh giặc. Ngựa sắt, gậy sắt đúc xong, cậu bé vươn mình vụt biến thành cao lớn, nhảy lên ngựa, cầm gậy đánh giặc Ân, đuổi chúng lên núi Ninh Sóc, rồi cưỡi ngựa bay về trời.

Vua Hùng cảm tạ công đức phong thần làm Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ. Đền tọa lạc ở mé đông nam làng Phù Đổng, nhìn ra sông Thiên Đức (sông Đuống), phía tây đền có bàn đá, giếng đá, tương truyền là nơi thánh Gióng ra đời. Ngôi đền hiện nay gồm bái đường, hậu cung, nhà thủy đỉnh để múa rối nước trên nước ao trước cửa đền, dựng vào thế kỷ XIX.

Tượng Thánh Gióng khá lớn ngồi ở giữa, hay dãy là tượng các quan hầu. Quý nhất ở đền là đôi rồng đá cách điệu ở bậc thềm, đôi sư tử đá tạc vào thế kỷ XIX. Hàng năm cứ đến này 4 tháng 9 âm lịch tại đền Phù Đổng có tổ chức hội Gióng, diễn lại tích thánh Gióng đánh giặc Ân.


Khu phố cổ


Khu nầy còn gọi là khu "36 phố phường". Đặc điểm chung của khu phố nầy là phân chia ra từng con đường chuyên bán một mặt hàng: hàng Trống, hàng Đào, hàng Đường, hàng Mã, hàng Thiếc... Du khách mới đến Hà Nội thường chú ý đến vùng phố cổ nầy để thấy rõ nét khác biệt của Hà Nội với những thành phố khác ở các nước.

Từ phía bắc hồ Hoàn Kiếm, du khách đi bộ qua các phố hàng Đào, hàng Ngang, hàng Đường là đến khu chợ Đồng Xuân. Phố hàng Đào hình thành từ thế kỷ XV, dân ở đây chuyên nghề nhuộm vải. Thời đó họ thường xuyên nhuộm vải màu đỏ, màu hồng đào, nên gọi tên là hàng Đào. Từ đời Lê (thế kỷ XV) nhiều người Hoa được phép cư trú tại kinh thành Thăng Long, họ rủ nhau đến buôn bán tại phố hàng Ngang.

Xưa kia hai đầu phố có dựng hai cái cổng chắn ngang đường, tối đến đóng lại. Do đó có tên là hàng Ngang. Như tên gọi hàng Đường là nơi tập trung bán đường, bánh, kẹo. Sát với chợ Đồng Xuân là phố hàng Mã. Mặt hàng truyền thống nầy làm từ các loại giấy màu; phố nầy dường như không mấy thay đổi từ khi thàng lập cho đến nay. Khác chăng là có nhiều mặt hàng mới sáng tạo.

Từ đầu hàng Mã đi thẳng sang phố hàng Chiếu (bán loại chiếu bằng cói) là đền ô Quan Chưởng (cửa Đông Hà) di tích khá nguyên vẹn của Hà Nội 36 phố phường. Một nghề khá điển hình là phố hàng Thiếc. Đến đây, sẽ nghe vang dội những tiếng búa gõ vào những mảng tôn, mảnh thiếc. Những mặt hàng ở đây thường là chân đèn thùng, chậu, bể nước, gáo múc nước. Hàng Trống chuyên bán loại tranh dân gian Đông Hồ.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 21.5.2015.