Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Phở - Thương Hiệu Việt Nổi Tiếng Trên Thế Giới






   L à một món ăn truyền thống của Việt Nam, cũng có thể xem là một trong những món ăn đặc trưng nhất cho ẩm thực Việt Nam. Thành phần chính của Phở là bánh phở và nước dùng ( nước lèo) cùng với thịt bò hoặc gà cắt lát mỏng. Ngoài ra còn kèm theo các gia vị như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt,... Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của từng người dùng. Phở thông thường dùng làm món ăn điểm tâm, hoặc ăn tối. Ở miền Nam, Phở được bày biện với những thành phần phụ gọi là rau thơm như hành, giá và những lá cây rau mùi, rau húng, trong đó ngò gai là loại lá đặc trưng của phở. Phở thường là phở bò, nhưng cũng có phở gà, phở heo, phở tôm,...

Nước dùng nói chung được làm bằng việc hầm xương bò, thịt dùng cho món phở là thịt bò hoặc gà và gia vị bao gồm quế, hồi, gừng, thảo quả, đinh hương, hạt mùi,... "Bánh phở", theo truyền thống, được làm từ bột gạo, tráng thành tấm mỏng rồi cắt thành sợi. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thống của nghề nấu phở.

TÌM HIỂU TỪ NGUYÊN: “PHỞ”

Phở là món ăn truyền thống, vì nó được nhắc đến trong tuỳ bút, văn của một số nhà văn thời tiền chiến, như Nguyễn Công Hoan nhắc đến phở từ 1913. Đến năm 1931, từ phở có nghĩa là một món ăn mới bắt đầu xuất hiện, ít nhất là trong quyển Việt Nam Tự Điển của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức (NXB Mặc Lâm). Một khi từ phở đã xuất hiện trong từ điển thì ta có quyền tin rằng món ăn này đã phổ biến. Thật vậy, trong tác phẩm Nhớ và ghi về Hà Nội, nhà văn Nguyễn Công Hoan viết: “1913... trọ số 8 hàng Hài... thỉnh thoảng, tối được ăn phở (hàng phở rong). Mỗi bát 2 xu... ” Từ yếu tố này ta có thể khẳng định Phở đã ra đời từ đầu thế kỷ 20.

 Nguồn gốc của Phở

Thật ra, nhiều quan điểm cho thấy chữ “phở” có nguồn gốc từ tên Ngưu nhục phấn-Theo Vương Trung Hiếu, ngưu nhục phấn và phở là hai món ăn khác nhau. Cách chế biến hai món này cũng khác nhau. Chữ Nôm phở hay phở bò (𡂄, 㗞, 頗, 普) không có liên quan gì với chữ Hán phấn 粉𤙭 cho thấy rằng người Việt xưa rất chủ động trong cách dùng từ, mục đích nhằm khẳng định rằng “Phở” là một món ăn hoàn toàn Việt, chẳng dính dáng gì tới ngưu nhục phấn của Tầu.

Bàn về phở, người ta thường nói đến phở bò Bắc Kỳ. Tên gọi chứng minh thịt bò là nguyên liệu chính. Phở là món ăn của Bắc Kỳ (theo từ điển của Pháp sau này họ dịch là soupe tonkinoise tức là súp Bắc Kỳ). Điều này khẳng định Phở xuất hiện ở miền Bắc.

Phở xuất hiện đầu thế kỷ 20, do đó không có mặt trong ngày Tết cổ truyền dân tộc.

Phở là món ăn ảnh hưởng món súp bò của Pháp (pot-au-feu, đọc như "pô tô phơ").Vậy từ Phở do chữ "Feu –phơ mà ra. Tiếng Việt đơn âm, người Việt lúc đó đại đa số không biết tiếng Pháp, do tiếp xúc làm việc phục vụ cho người Pháp, họ nói tiếng Tây bồi, họ thường hay rút ngắn từ tiếng Pháp: cồn, bơ, xăng…

-Trong khi đó, thật đáng buồn: Từ điển Việt - Pháp ở cuốn tái bản lần thứ 4 (trong đề có chỉnh sửa, NXB Khoa học xã hội, 1997) dịch "Phở" là "soupe chinoise" (súp Tàu)?

Phở chính là sự sáng tạo tuyệt vời của đầu bếp VN thế kỷ 20. Họ đã thả hồn Việt vào trong phở. Giao lưu văn hoá có nhiều cái lợi. Nếu tài giỏi, thông minh biết kết hợp cái cổ truyền và cái mới sẽ tạo ra những tuyệt tác mang phong cách và hồn dân tộc. Bắt chước, tạo ra cái mới đòi hỏi tài nghệ, trí tuệ của người sáng tạo. Phở là một vinh danh văn hoá ẩm thực Việt trong quá trình giao lưu với văn hoá ẩm thực phương Tây. (Trần Thu Dung)

Nguồn gốc và sự khác biệt

Phở tại Sài Gòn (có rau, giá)

Phở bò chín ăn cùng quẩy, ở Hà Nội

Một số giả thuyết cho rằng Phở xuất hiện đầu tiên ở Nam Định, nhưng Hà Nội lại là nơi làm cho món ăn dân dã này trở nên nổi tiếng như ngày nay; một số giả thuyết khác nhìn nhận phở như một đặc trưng ẩm thực Hà Thành, có lịch sử từ cuộc giao duyên Việt-Pháp đầu thế kỷ 20.

Phở bắt nguồn từ miền Bắc Việt Nam, xâm nhập vào miền Trung và miền Nam giữa thập niên 1950, sau sự thất bại của Pháp ở Đông Dương và Việt Nam bị chia thành hai miền. Người Việt Nam ở phía bắc di cư vào miền Nam năm 1954 mang theo món phở và phở đã bắt đầu có những sự khác biệt. Từ lúc này, những ý kiến trái ngược nhau về nguồn gốc của phở đã xuất hiện. Sự có mặt của Pháp ở Việt Nam có lẽ củng cố luận điểm này, nhưng việc phở có nhiều gia vị và rau mùi nguồn gốc từ châu Á, đặc biệt là Việt Nam, đã bác bỏ chúng.

Sự xuất ngoại của những người Việt Nam trong thời kỳ hậu Chiến tranh Việt Nam đã làm cho phở được biết đến ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây. Đã có nhiều nhà hàng phở ở Mỹ, Pháp, Úc và Canada. Những người Việt Nam cũng mang phở đến những nước thuộc khối Xô Viết, bao gồm Nga, Ba Lan và Cộng hòa Séc.

Ngày nay, phở đã có những phương pháp chế biến và hương vị khác nhau. Tại Việt Nam, có những tên gọi để phân biệt chúng là: Phở Bắc (ở miền Bắc), phở Huế (ở miền Trung) và phở Sài Gòn (ở miền Nam). Thông thường thì phở miền Bắc đặc trưng bởi vị mặn còn miền Nam thì ngọt và nhiều rau. Bánh phở ở miền Nam nhỏ hơn ở miền Bắc.

Trước đây, chỉ có phở bò chín với đầy đủ "chín-bắp-nạm-gầu", về sau, thực khách chấp nhận cả phở tái, phở gà. Đi xa hơn, có nhà hàng thử nghiệm với cả thịt vịt, ngan nhưng không mấy thành công. Ngoài ra còn một số món ẩm thực từ nguyên liệu bánh phở truyền thống như phở cuốn, loại phở xuất hiện vào thập niên 1970 là phở xào, của thập niên 1980 là phở rán...

Phở Hà Nội

Nhà văn Thạch Lam viết trong cuốn Hà Nội băm sáu phố phường:

"Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon". Phở ngon phải là phở "cổ điển", nấu bằng thịt bò,"nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả", "rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ". Vào thời những năm 1940, phở đã rất phổ biến ở Hà Nội: "Đó là thứ quà ăn suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối...."

- Hà Nội: Phở là một món ăn đặc biệt của người Hà Nội không biết đã có từ bao giờ. Phở được dùng riêng như là một món quà sáng hoặc trưa và tối, không ăn cùng các món ăn khác. Nước dùng của phở được làm từ nước ninh của xương bò: xương cục, xương ống và xương vè. Thịt dùng cho món phở có thể là bò, hoặc gà. Bánh phở phải mỏng và dai mềm, gia vị của phở là hành lá, hạt tiêu, giấm ớt, lát chanh thái.

-Phở bò Nam Định: cũng có những đặc điểm chung như phở của các vùng khác là gồm bánh phở, nước phở, thịt bò hoặc thịt gà, và một số gia vị kèm theo, nhưng lại mang cái khác toàn diện mà khó có thể nhầm lẫn được. Bánh phở Nam Định là loại đặc biệt có sợi nhỏ ngon và mềm, khác với sợi bánh của vùng khác. Thịt bò được thái mỏng đập dập, nhúng và vớt trong khoảng thời gian phù hợp nên ăn mềm mà vẫn giữ được độ tươi ngon và dinh dưỡng của thịt... Và nếu nói đến nước thì thường mang tính "gia truyền" những người thợ làm phở thường giấu kín bí quyết pha chế nước phở của mình và chỉ truyền cho thế hệ sau trong gia đình mà thôi.

Phở Sài Gòn

Gia vị ăn với phở

Người Việt Nam ở phía Bắc di cư vào miền Nam năm 1954 sau hiệp định Geneva mang theo món phở và phở đã bắt đầu có những sự khác biệt. Tại miền Nam, nhất là tại Sài Gòn, thịt bò trong phở thường được bán theo 5 kiểu: chín, tái, nạm, gầu, gân tùy theo ý thích của khách, ngoài ra còn một chén nước béo (nước mỡ của xương bò) để riêng nếu khách muốn. Phở tại miền Nam thường phải bán đi kèm với tương ngọt, tương ớt đỏ và chanh, ớt tươi, ngò gai, húng quế, giá, hành tây cắt lát mỏng (có thể ngâm với dấm), đó là những loại rau bắt buộc phải có, thường là để riêng trong một dĩa hay rổ bán kèm theo từng tô phở, khách thích thứ nào thì lấy bỏ vào tô của mình. Sau này, nhiều quán còn thêm vào đĩa rau đó: ngò ôm, húng Láng,hành lá dài, các loại rau thơm khác.... Nước phở thường không được bỏ bột ngọt(mì chính) như ở Hà Nội và có màu hơi đục, không trong như phở Bắc, đôi khi ngọt hơn, béo hơn và nấu bằng xương gà, thêm con khô mực hoặc củ hành nướng và gừng nướng.

Có khá nhiều quán phở nổi danh ở Sài Gòn trước năm 1975: phở Công Lý, phở Tàu Bay, phở Tàu Thủy, phở Bà Dậu, phố phở Pasteur (với rất nhiều quán phở chuyên bán phở bò), phố phở Hiền Vương (chuyên bán phở gà). Hầu hết các quán phở này nay vẫn còn, truyền đến đời cháu nhưng "không còn cái hương mãnh liệt" và "không còn xuân sắc như thuở trước 75". Hiện nay, nổi tiếng có các hệ thống Phở 24, Phở 5 sao, Phở Quyền, Phở 2000, Phở Hòa...

Phở gà trống thiến

Ngay cả Hà Nội – quê hương của phở – từ trước đến nay cũng chưa bao giờ có phở Gà trống thiến. Phở này xuất hiện ở Saigon vào những năm 1960, ở phía chợ Vườn Chuối – tuy chưa được liệt vào loại tuyệt phở, nhưng cũng được khách ẩm thực đặc biệt chiếu cố. Phở ngon là một lẽ: thịt gà trống thiến thơm và mềm như gà mái tơ, nước phở trong hợp với khẩu vị của những người kén ăn, nhưng cũng còn một lẽ khác: người ta vừa ăn, vừa ngắm cái vẻ thướt tha yêu kiều của con gái ông chủ tiệm, thỉnh thoảng đi ra đi vô, mỉm cười với người này, gật đầu chào người kia, giơ tay ‘bông rua’ người nọ, tự nhiên như một cô đầm non.

…Phở ngầu pín

Dạo ấy, cả Saigon chỉ có độc một tiệm của chú Woòng ở đường Lý Thái Tổ bán phở ngầu pín. Chú là người Quảng Đông, trước khi di chuyển vào Nam đã mở tiệm phở ở phố Huế, Hà Nội. Vào đầu thập niên 50, phở ngầu pín đối với dân thủ đô, thật hoàn toàn xa lạ. Có mà nhử thính các tiểu thư cũng không dám tới ăn. Phở ngầu pín vào tới Saigon cũng chả khấm gì.

Quán Phở Thăng Long (năm 1948)

Không có ai tới Chợ Đại-Cống Thần (một cái chợ trời rất lớn mọc lên ở làng Thịnh Đại, gần bến Đồng Quan thuộc tỉnh Hà Đông), mà không ghé tới Quán Phở kiêm Cà phê Thăng Long. Quán này là của ông bà Phạm Đình Phụng, rất đông khách vì chủ nhân là người rất văn nghệ.
Ở đây có đủ ba món PHỞ: phở sào, phở áp chảo, phở nước, có cà phê ngon. Văn nghệ sĩ nào tới Quán Thăng Long thì cũng đều được đón tiếp rất niềm nở. Không có sự cách biệt giữa chủ và khách. Có anh nghệ sĩ đã xung phong vào bếp để phụ giúp trong việc thái thịt bò và thái bánh phở. Lễ cưới (như trong ‘Màu tím hoa sim”) của đôi vợ chồng quê (Phạm Duy - Thái Hằng) mới được cử hành dưới sự chủ hôn của Tướng Nguyễn Sơn.

PHỞ phát triển mạnh trên thế giới

  Sau năm 1975 Phở Sài Gòn theo chân người vượt biên tới Mỹ , Úc , Canada . Riêng tại Mỹ, thống kê không chính thức năm 2005 cho biết doanh thu các cửa hàng phở Việt Nam trên toàn nước Mỹ lên tới khoảng 500 triệu USD một năm.

"Chơi chữ” với các hàng PHỞ Việt trên đất Mỹ

Người viết cùng gia đình ở Mỹ tháng 11/2011, đã đi thăm thủ đô Washington và vào một siêu thị ăn Phở thì bị tính tiền 15 đô một tô (về sau mới biết chỉ duy nhất siêu thị này có bán Phở, chứ nếu ở Quận Cam Cali thì giá chỉ dưới 10 đô thôi). Khi đến Mỹ, đặc biệt là California, du khách có thể sẽ bất ngờ khi tìm được những quán phở với tên biến tấu nghe lạ tai:

- Những biến tấu từ phở Việt   

Tại Mỹ, phở là đại diện tiêu biểu cho đặc trưng ẩm thực Việt Nam.Tính đa dạng của nó không chỉ ở thành phần món ăn mà còn từ chính têncác nhà hàng. Dưới đây là một số biển hiệu sẽ khiến thực khách phải nhớ mãi:

-Simply Phở You (Los Angeles, California) nếu đọc trại theo âm tiếng Anh sẽ là "Simply for you" - "Đơn giản là dành cho bạn". Quán nằm ở địa chỉ 698 S Vermont Ave, thành phố LA.

Tương tự, quán Phơ-Nomenon sẽ thành "phenomenon", được hiểu là "hiện tượng" có thể khiến người khác kinh ngạc. Quán nằm ở thành phố Long Beach, bang California.

-Ý của chủ quán lấy tên Phơever (NE 8th St Ste 6, Bellevue) chính là từ "forever" trong tiếng Anh với nghĩa "mãi mãi".

-Phobulous (Los Angeles, California) đồng âm với "fabulous" - một tính từ có ý nghĩa rất hay trong tiếng Anh là "tuyệt vời".

-Cũng nằm ở thành phố Los Angeles, quán Good Phở You có ý nhắn nhủ khách hàng rằng phở là món ăn "tốt cho mọi người". 

-SoPho SoGood cũng khá hay khi có thể hiểu theo nghĩa của cụm "so far so good" (vẫn tốt từ trước đến nay). Quán được Trip Advisor, trang tư vấn du lịch nổi tiếng thế giới, đánh giá cao về chất lượng và tốc độ phục vụ.  |
-Ăn theo tên dòng điện thoại nổi tiếng thế giới Iphone của hãng Apple (Mỹ), nhà hàng này lấy tên là I- pho để tạo ấn tượng với khách hàng. 
(theo Boredpanda)

LỜI KẾT

Khiếp đảm với Phở ở Đất ngàn năm văn vật” nhân 40 năm hòa bình (2015)

Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng Thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.

-Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành,

-Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị...Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Cô phụ trách PR của nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.

-Một bát Phở giá bằng cả tạ thóc:

Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg.

Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.

Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở - món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói…

Thơ và Câu đối về Phở…

Thơ Phở

Những nhà hàng Phở ngon của Saigon thuở ấy nhiều vô số. Nhưng được người ta chiếu cố nhất chỉ có bốn hoặc năm tiệm, trong đó có phở Trần Minh ở hẻm Casino. Phở Minh ngon thiệt là ngon. Người ta chỉ có thể ăn một bát để cho nó thòm thèm rồi mai lại ăn nữa! Có một người nghiện Phở của ông ta, và nghiện luôn cả truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Đó là ông X, chủ một tiệm giày ở đường Lê Thánh Tôn. Và tình bằng hữu giữa ông chủ tiệm giày với ông chủ tiệm Phở đã thắm thiết hơn lên nhờ một bài thơ Phở của ông chủ tiệm giày. Gọi là thơ Phở vì đọc lên nghe thấy… toàn mùi Phở. Tuy nhiên nó được làm theo thể Đường thi, và chữ nghĩa đối nhau chan chát. Rất tiếc, hiện nay người ta chỉ còn nhớ được có bốn câu:


Nổi tiếng gần xa khắp thị thành
Trần Minh
phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề
: tái, chín, gầu, gân, sách
Gia vị:
hành, tiêu, ớt, mắm, chanh

Sau đó, “mông xừ” Trần Minh đã nhờ một người nhái những nét chữ rồng bay phượng múa của Vũ Hoàng Chương để viết bài thơ ấy và treo ở trong tiệm.

Câu Đối Phở

Saigon thuở ấy chỉ có một tiệm duy nhất ở đường Võ Tánh, gần Hồ bơi Chi Lăng, Phú Nhuận, có món tái sách tương gừng và Phở tái sách: tiệm Y. Thịt tái mềm, sách ròn nhai gau gáu, chấm với tương Cự Đà thì tuyệt cú mèo. Người ta bèn đổ xô tới để thưởng thức một món ăn lạ miệng. Và tiệm Y phất lên như diều. Từ ngôi nhà lụp xụp, ông đã sửa sang lại cho khang trang và mua thêm một nhà khác để ở cho thoải mái. Và ít lâu sau ông chủ chết để lại người Vợ góa trẻ đẹp kế tục “sự nghiệp” của ông chồng quá cố. Tiệm Y phát đạt trở lại. Những người bạn văn nghệ của ông Y vẫn lui tới ăn Phở như xưa, nhưng mục đích chính của họ là… ngấp nghé ngôi vị chủ tiệm. Sau mấy năm trời theo đuổi mà chẳng đi tới đâu, một người trong bọn họ, tức cảnh sinh tình, bèn mượn danh nghĩa bà quả phụ để ra một vế câu đối như có ý thách thức thiên hạ rằng: “Nếu ai đối được thì em xin nguyện lấy làm chồng”.

“Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá”

Câu đối sặc sụa mùi Phở, nhưng hắc búa nhất là cụm từ “tái giá”, nó vừa có nghĩa là “đi bước nữa” lại vừa có nghĩa là “phở tái giá”. Cũng như “da trắng vỗ bì bạch” của bà Đoàn Thị Điểm đố Trạng Quỳnh vậy, hơn ba mươi năm trôi qua, câu đối ấy hiện nay vẫn chỉ có một vế…

Sau đó, có văn nhân làm câu đối hơi khiên cưỡng:


Nạc mỡ nữa làm chi, em nghĩ Chín rồi/ Đừng nói với em câu Tái giá/
Muối, tiêu không đáng sợ/ lão còn Gân chán/ Thử vui cùng lão miếng Gầu dai…

Phở VN đã có trên 100 năm, truyền từ thế kỷ đầu 20 sang đến thế kỷ 21. Những món ghi vào từ điển là những món ăn đã nổi tiếng và quen thuộc với dân tộc đó. Cùng với áo dài, nem, bánh chưng, nước mắm, phở VN đã có trong từ điển Anh, Pháp, viết nguyên gốc.

Thương hiệu PHỞ lừng danh của Đất nước Tiên Rồng cũng có cà Thơ và Câu đối về món ăn thuần túy Việt này nữa!


(Tham khảo: Sách báo – Internet)

Phở tại Sài Gòn (có rau, giá)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 20.5.2015.