Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



VĂN HÓA DÂN GIAN TRÊN ĐẤT TRỰC KHANG







1. Vài Nét Về Mảnh Đất Trực Khang.

      Trực Khang, một xã có bề dày lịch sử lưu đậm bản sắc văn hoá vùng đất bồi ven biển phía Nam, tỉnh Nam Định. Trực Khang nơi có cây cầu Đông Thụ bắc qua dòng sông Rõng nước chảy lơ thơ đổ ra biển, nối liền ba huyện Trực Ninh- Nam Trực- Nghĩa Hưng cùng với những con đường 53,55,56 chạy vòng quanh ở phía Nam Nam Định.
      Từ buổi đầu mở đất, những người dân đến đây phải một nắng hai sương gồng mình vật lộn với thiên nhiên để quai đê lấn biển, khoanh vùng tưới, tiêu nước, rửa mặn, thau chua. Biết bao công sức đã đổ ra, thậm chí cả máu xương để giành giật từng mảnh đât để nuôi sống con người. Người vì đất, đất chẳng phụ công người, đất đai vùng này tương đối bằng phẳng màu mỡ phì nhiêu, nên dần dân các cư dân các nơi về đây cùng tụ tập lên những xóm làng ngày càng trù phú đông vui.
      Đặc biệt việc lập làng xóm ở Trực Khang lại được chia thành từng dong, từng dãy nhà. Cứ trước mặt một dãy nhà là một dãy ao, người ta đào ao để vượt thổ, Trước ao là đường dong ngõ xóm bây giờ đã được đổ đường bê tông rộng đến ba mét mặt. Mỗi làng lại cách nhau một trực đường dọc chạy dọc xã để nối với đường liên huyện, liên tỉnh. Một đặc điểm khác với các xã trong huyện là ở xóm thì trên đường dưới ao, ở làng thì trên đường dưới sông, đường liên huyện cũng trên đường dưới sông tạo nên thế giao thông thủy bộ thuận lợi cho cả nhân dân trong vùng đến với Trực Khang.
     Ngược dòng lịch sử mảnh đất Trực Khang ngày nay chính là bãi biển do phù sa bồi đắp mà thành. Từ xa xưa nơi đây vẫn còn hoang vu. Đầu thế kỷ XVI mới có người ở các nơi khác đến khai phá.
      Cuộc sống cam do, quá trình mở đất lập nghiệp kéo dài hàng trăm năm, đã hun đúc lên tinh thần tương thân tương ái, cần cù sáng tạo, dũng cảm trong lao động sản xuất, kiên cường bất khuất trong đấu tranh, thiên nhiên cũng như cường quyền áp bức và giặc ngoại xâm. Truyền thống đó là tinh thần yêu làng, yêu nước, bồi đắp trí tuệ cho người dân Trực Khang trong quá khứ và hiện tại.
      Truyền thống đó lại được nhân lên gấp bội từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam ra đời lãnh đạo toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sống trong đêm trường nô lệ, chịu áp bức của thực dân phong kiến, nhân dân Trực Khang phải chịu bao nỗi thống khổ của phu phen tạp dịch, sưu cao thuế nặng. Đặc biệt khi phát xít Nhật nhảy vào xâm chiếm đông dương, với ách cai trị một cổ ba tròng, người dân Trực Khang cũng như người dân cả nước bị đẩy vào con đường cùng không có lối thoát. Căm thù chế độ thực dân, phát xít, phong kiến sục sôi đã nuôi ý chí sẵn sàng vùng lên đập tan ách áp bức bất công, vì vậy khi cơn lốc cách mạng tháng 8 tràn về, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của mặt trận Việt Minh, nhân dân Trực Khang đã nhất tề vùng lên, lật đổ chính quyền thực dân phong kiến, giành cuộc sống độc lập, tự do.
      Ngay sau khi giành được độc lập không lâu, với dã tâm xâm lược một lần nữa, thực dân Pháp núp sau quân đồng minh, từng bước gây hấn trở lại xâm lược nước ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền nhân dân Trực Khang ra sức xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, trực tiếp chiến đấu anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược. Chín năm kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là thời kỳ 2 năm 4 tháng Trực Khang nằm sâu trong vùng tạm chiếm, bốn góc xung quanh đều là bốt giặc (như bốt Quỹ Trung, Chợ Đền, Thạch Bi và bốt Liễu Đề). Nhân dân Trực Khang phải sống những ngày tháng rên xiết dưới gót giày xâm lược, dưới họng súng lưỡi lê đậm máu và sự tàn sát của kẻ thù. Nhưng chính những năm tháng máu lửa chiến tranh đó, Đảng bộ, quân, dân Trực Khang đã thể hiện rõ bản chất kiên cường, trung dũng chiến đấu, hy sinh xứng đáng với truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương. Điển hình là liệt sỹ Hà Sỹ Hùng đã thà chết chứ nhất định không chịu rơi vào tay giặc. Đồng chí đã đốt tài liệu và tung lựu đạn hy sinh. Liệt sỹ Nguyễn Tất Đạt người quê hương là bộ đội huyện về xã công tác bị giặc bắt, đồng chí đã bỏ tài liệu vào mồm nhai nuốt và đập cằm xuống bàn cho đứt lưỡi để hy sinh trước mặt quân thù lúc chúng đang dụ dỗ.Học tập gương anh hùng của các liệt sỹ, Đảng bộ và nhân dân Trực Khang kiên quyết trụ vững để chiến đấu bảo vệ quê hương với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Trong những năm tháng trực tiếp chiến đấu chống thực dân pháp và bọn tay sai, thực hiện nghiêm túc đường lối kháng chiến trường kỳ, toàn dân toàn diện của Trung ương Đảng.
Đảng bộ, quân, dân Trực Khang kiên cường bán đất xây dựng chiến trận chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng du kích, lực lượng chính trị, cơ sở cách mạng trong nhân dân vững chắc, thể hiện phối hợp đấu tranh quân sự, chính trị và địch vận chống lại có hiệu quả chiến tranh tổng lực của kẻ thù. Suốt thời gian địch chiếm đóng xung quanh xã, nhân dân Trực Khang vừa chiến đấu vừa kiến quốc, anh dũng chiến đấu, chống trả nhiều cuộc hành quân, tấn công đồn bốt địch, diệt hàng trăm tên địch. Kiên quyết phá Tề trừ gian.Quá trình đó Đảng bộ và nhân dân Trực Khang đã hy sinh biết bao xương máu để giữ gìn quê hương, góp phần cùng quân dân cả nước đánh bại cuộc chiến tranh dã man, tàn bạo của thực dân Pháp xâm lược. Xứng đáng là một xã được Nhà nước phong tặng “ Danh hiệu anh hùng”. Kháng chiến 3 ngàn ngày không nghỉ, đã đem lại cuộc sống hoà bình cho Miền Bắc. Từ năm 1954 nhân dân phấn khởi hân hoan ra sức xây dựng cuộc sống mới. Nhân dân Trực Khang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế văn hoá, Cải tạo XHCN đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể, Hợp tác hoá nông nghiệp. Trực khang đã là lá cờ đầu toàn miền Bắc về phong trào làm phân xanh để sản xuất nông nghiệp. Tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiếm lược, vừa sản xuất xây dựng hậu phương vững mạnh, vừa sẵn sàng chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế Quốc mỹ (từ 1946), chi viện sức người, của cho tiền tuyến lớn miền Nam (1965 - 1975). Với tinh thần “Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang” giành nhiều thắng lợi to lớn. Năm 1973 được thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm vì Trực Khang có thành tích dẫn đầu toàn miền Bắc về phong trào chăn nuôi lợn. Cùng với nhân dân Trực Ninh, Đảng bộ và nhân dân Trực Khang luôn hoàn thành vượt mức nghĩa vụ đóng góp với Nhà nước, đảm bảo “ thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện nâng cao, xóm làng ngày càng khang trang đổi mới, góp phần cùng chiến thắng vĩ đại của mùa xuân 1975 đã đem lại sự thống nhất trọn vẹn cho dân tộc ta, cho đất nước ta.
      Tuy vậy sự kéo dài cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, sự nôn nóng muốn xây dựng CNXH nhanh chóng, không tính hết các quy luật khách quan, sự tập chung chuyên môn hoá trong sản xuất nông nghiệp... đã dẫn đến sa sút đình trệ nghiêm trọng trong sản xuất, thu nhập của nông dân thấp kém. Suốt những năm đầu thập kỷ 80 đời sống nhân dân Trực Khang gặp nhiều khó khăn. Song sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo đã khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực trong nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội, từng bước đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng. Với bản lĩnh cách mạng kiên cường, với tinh thần năng động sáng tạo kịp thời chuyển đổi theo đường lối đổi mới. Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI Đảng bộ và nhân đân Trực Khang đã khẳng định sự phát triển vững chắc của mình. Với sự bung ra trong kinh tế nông nghiệp, từng bước giải phóng và phát huy năng lực sản xuất, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng theo sán xuất hàng hoá. Từ năm 1991 đến nay, nhân dân Trực Khang đã đạt được những thành tựu khả quan. Năng xuất lúa không ngừng nâng cao trên một héc ta gieo trồng, đến năm 2004 đạt 30 -32 triệu đồng/1 năm. Số người giàu tăng lên, không còn hộ đói, hộ nghèo giảm đến năm 2005 còn 8%, kinh tế phát triển năng động phồn thịnh. Sự nghiệp văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ, đời sống nhân dân ngày càng ấm no sung túc. Nông thôn phát triển bắt đầu hiện rõ trên quê hương Trực Khang thân yêu.
      Mặc dù còn không ít khó khăn bởi trải qua thăng tràm trong quá trình xây dựng quê hương. Song phải khẳng định rằng những thành tựu mà Đảng bộ nhân dân Trực Khang vững vàng đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá nông thôn theo đường lói nghị quyết Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ X đề ra. Từ thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Đảng bộ Trực Khang đã đực kết được những kinh nghiệm lịch sử quý báu trong lãnh đạo, chỉ đạo sự nghiệp cách mạng. Những kinh nghiệm đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Đất nước đang tiếp tục đổi mới đi lên, sẽ còn gặp không ít khó khăn, song chúng ta tin tưởng rằng đã từng trải qua những bước thăng trầm của lịch sử nên nhân dân Trực Khang sẵn có kinh nghiệm và sáng tạo để vượt qua. Đảng ta sẽ có đủ trí tuệ, tài năng để lái con thuyền cách mạng, Trực Khang mãi mãi vững vàng bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của ấm no hạnh phúc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Trực Khang đã thực hiện trọn vẹn chặng đường 80 năm chiến đấu và xây dựng để tồn tại và phát triển thư ngày nay. Cuộc sống ngày càng thay đổi, vấn đề nông thôn, nông nghiệp và nông dân ở Trực Khang còn phải đấu tranh không ngừng, càng thích nghi, tiếp cận và tiếp thu với nhiều điều của công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng. Có Đảng lãnh đạo chắc chắn mọi cản trở, mọi tập tục lạc hậu, mọi lãng phí, tiêu cực, tham nhũng, quan liêu ra đời quần chúng sẽ bị đẩy lùi để mở đường cho sản xuất phát triển, thực hiện “ Dân giàu – nước mạnh- xã hội công bằng – dân chủ - văn minh”
      Trách nhiệm lịch sử giao cho Đảng bộ lãnh đạo nhân dân, cùng nhân dân tạo dựng cơ hội phát huy nội lực, tiềm năng ẩn chứa trong mỗi con người sinh ra từ quê hương để xây dựng Trực Khang ngày một giàu đẹp. Vinh dự, tự hào quê hương anh hùng. Mỗi con người Trực Khang càng phải phát huy truyền thống sống theo lý tưởng của Đảng để viết tiếp những trang sử vàng cho quê hương thân yêu vẻ vang hơn nữa.

      2. Những thay đổi địa danh hành chính của Trực Khang.

      Thời Lê Trung Hưng do các thế lực phong kiến tranh giành quyền lợi đem quân đánh chiếm lẫn nhau gây nên cảnh “Nồi da nấu thịt” trăm họ lầm than phiêu bạt mọi nơi. Một bộ phận nhân dân xứ Hải Dương chạy về đây lánh nạn, đứng đầu là các cụ Hà Huống, Vũ Hội, Phan Bội, Đồng Hoành, Nguyễn Huyên, Nguyễn Thái Liễu,
      Nguyễn Kình, Nguyễn Sơn Minh thượng hạ đoạn, Hoàng Liên, Loại Cảnh Tiên, Tống Thế Nghị, Đoàn Quang Chiếu đại diện cho 12 dòng họ khai sáng ra đất Duyên Bình ngày xưa nay là Trực Khang.
      Hiện vẫn còn đôi câu đối thờ các cụ khai sáng ở đền làng:

                               Duyên giang tiên thiệu bình cơ phàm thập nhị công xưng thủ
                                Lạc địa trường lưu chính khí ức thiên vạn cổ kỳ thần.


      Buổi đầu đi mở đất, những người dân tới đây phải vật lộn với thiên nhiên, quai đê lấn biển khoanh vùng tiêu nước rửa mặn, thau chua, đã đổ ra không biết bao nhiêu công sức, thậm chí cả máu xương để giành giật từng mảnh đất nuôi sống con người. Người vì đất, đất chẳng phụ công người, dần dần các cư dân trong huyện, ngoài tỉnh về đây quần tụ ngày càng đông lập lên xóm lên làng.Quá trình sinh cơ lập nghiệp ở Trực Khang kéo dài hàng thế kỷ đã hun đúc lên truyền thống trong một cộng đồng làng xã. Từ buổi đầu 12 dòng họ khai sáng mở đất các cụ đều được mang tên mình ở những cánh đồng mà mình đã mở mang khai khẩn như cánh đồng Hà Huống là của cụ Hà Huống mở, cánh đồng Hoàng Niên là của cụ Hoàng Niên mở, còn cụ Đồng Hoành chuyên về dạy học thì được các cụ biếu cho khu đất cao nhất gọi là cánh thượng đồng để tôn sư trọng đạo người đã dạy chữ cho con em mình. Đến nay toàn xã đã có 22 dòng họ nhưng đều yêu thương đùm bọc lẫn nhau như anh em một nhà. Nhớ công sinh thành dưỡng dục của tổ tiên, hiện nay các dòng họ đều xây được từ đường thờ tiên tổ. Họ Đồng đã xây dựng được từ đường cách đây gần 150 năm và đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá.
      Trực Khang là đất hiếu học, nhiều người đỗ đạt cao trở thành tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Qua các triều đại phong kiến hàng chục cụ có học vị cử nhân tú tài, có cụ đỗ đến tiến sĩ được tôn vinh là ông Nghè Nguyễn Đình Nghi, có người làm quan trong triều và nhiều người khác được triều đình phong chức tước.
      Trải qua các thời kỳ lịch sử, Trực Khang ngày nay được thay tên đổi địa danh nhiều lần. Buổi đầu là xã Duyên Bình thuộc Tổng Duyên Hưng Hạ huyện Nam Chân phủ Thiên Trường. Năm Minh Mạng thứ 16 (1836) huyện Nam Chân chia làm hai huyện là Chân Ninh và Nam Chân. Năm Thành Thái thứ 29 (1881) huyện Chân Ninh đổi là Trực Ninh.
      Xã Duyên Bình và Quỹ Đê tổng Duyên Hưng Hạ, huyện Trực Ninh xưa kia (tức trước 1945) có 6 làng (tên là do các cụ khẩn đất đặt ra) đó là Lạc Chính, Nam Trực, Thái Bình, Cổ Nông, Hưng Lễ, Cựu Phú nay là đất các xã: Trực Khang, Trực Hùng và Trực Mỹ, thời phong kiến làng thôn thứ tự anh em xếp theo vần điệu sau:

                               Lạc Chính, Thái Bình, Hưng Lễ nghĩa
                               Nam Chân, Cựu Phú, Cổ Nông thôn

Đây là địa danh hình thành do lấn biển cho nên các làng đều thờ các vị Thần có liên quan đến biển như Tống Thái Hậu (hoàng hậu nhà ông chết ở cửa Cờn Nghệ An),
"Thế kỉ 13 nhân loại chứng kiến gần như cả thế giới cùng chung chiến hào đánh quân Mông Cổ. Năm 1274 vua Tống Độ Tông mất, triều đình đưa con là Cung Tông lên ngôi, do thế lực quân Mông Cổ quá mạnh, nhà Tông thất thủ, triều đình lui về Phúc Châu, Quảng Đông, phong Ích Vương lên ngôi vua, tôn Dương Thái Hậu làm Hoàng Thái Hậu và ban hịch kêu gọi cả nước kháng chiến chống giặc Mông Cổ.
      Năm Tường Hưng II (1279) Mông – Nguyên đem quân từ cảng Triều Dương (Quảng Đông) theo đường biển tiến đến Nhai Sơn đánh Tống. Thế giặc mạnh, nhà Tống bại trận, hàng trăm chiến thuyền bị vỡ. Riêng Hoàng Thái Hậu, Hoàng hậu và hai công chúa bám vào được mảnh ván thuyền (có tài liệu nói là bám vào cột buồm) trôi dạt đến Cửa Cần (còn gọi là Cần Hải) thuộc xã Hương Cần, huyện Quỳnh Lưu, phủ Diễn Châu và được vị sư già ở chùa Qui Sơn cứu vớt. Nhà sư chùa Qui Sơn đã chăm sóc thuốc men, ăn uống cho Thái Hậu và công chúa tận tình. Nhưng nghĩ đến cảnh nước nhà bị thôn tính, vua quan triều đình bị giết, nạn chiến tranh chết chóc thảm thương, đồng thời lo đến việc truy lùng của nhà Nguyên nên Thái Hậu đã gieo mình xuống biển tuẫn tiết. Thấy vậy hai công chúa là Triệu Nguyệt Khiêu và Triệu Nguyệt Hương cùng sinh ngày 15/08, hoàng hậu là Quách Thị sinh ngày 12/12 cũng nhảy xuống biển chết theo. Xác bốn mẹ con Thái hậu trôi dạt vào bãi biển Cần và được người dân địa phương vớt lên mai táng chu đáo. Tương truyền, cảm động trước.

                               “Khí tiết lăng thiên nhật nguyệt,
                               Anh phong lẫm lẫm địa sơn hà”


      Thượng đế đã phong cho Thái Hậu là Hải Thần coi giữ 12 cửa bể cho Đại Việt. Nhân dân làng Cần Hải đã lập đền thờ bà. Đền thờ linh thiêng được ứng nghiệm rõ rệt, mỗi khi ngư dân ra biển, qua đền bà thắp hương khấn bái. “Đại Việt sử kí toàn thư” còn chép: Năm Hưng Long 19(1311) vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, đến cửa biển Cần Hải (nay là cửa Cần, xã Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đóng quân tại đây, đêm chiêm bao thấy nữ thần khóc và nói: “Thiếp là cung phi Triệu Tống, bị giặc bức bách trôi dạt đến đây, Thượng đế phong cho làm thần biển ở đây đã lâu, nay thấy bệ hạ đem quân đi, thiếp xin giúp đỡ lập công”. Khi thức dạy vua cho gọi các cố lão ở đấy hỏi sự thực rồi cho quan vào tế lễ, sau đó mới kéo quân đi. Trên đường đi nhờ biển lặng, gió yên nên quân Trần đã tiến thẳng đến Trà Bàn, nhờ có Đoàn Nhữ hải lập kế nội ứng nên đã bắt được vua Chiêm mang về. Tưởng sự việc ứng nghiệm, vua bèn cho Hữu Ty lập đền thờ tại Cửa Càn hàng năm cúng tế. Truyền thuyết địa phương và các thư tịch khác còn ghi: việc Trần Anh Tông phong sắc cho nữ thần đền Cần là: “Đại Càn quốc gia Nam Hải Thánh mẫu thượng đẳng thần” đồng thời ban nhiều vàng bạc cho dân địa phương tu chỉnh tôn tạo đền thờ. Sử cũ và ngọc phả còn ghi việc Bình Định Vương Lê Lợi trong khi tổ chức kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418 – 1428) đã cho tướng về đền Cần làm lễ cầu sự âm phù dẹp giặc. Và khi kháng chiến thắng lợi vua đã nghĩ đến Thánh mẫu đền Cần gia phong thêm Mỹ Tự ca ngợi tôn vinh công lao đức độ của Thánh Mẫu. Dưới triều Thánh Tông hoàng đế niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470). Lần này vua Lê huy động một lực lượng to lớn rất hiếm thấy trong lich sử bình Chiêm của dân tộc. Đội quân gồm 5000 chiến thuyền và 25 vạn quân đã dừng chân ở cửa Cần để chấn chỉnh. Thời gian lưu trú tại cửa Cần, vua Lê Thánh Tông thân chinh vào đền thánh Mẫu làm lễ cầu nguyện Thánh Mẫu âm phù cho cuộc chinh phạt thắng lợi, sau đó đoàn quân ra đi trong điều kiện thiên nhiên sóng yên bể lặng và nhanh chóng đến chiến trường khiến vua Chiêm Thành lo sợ xin được qui hàng không dám quấy nhiễu. Trên đường vua tôi trở lại kinh đô, đoàn thuyền đã vượt quá cửa Cần hơn muời dặm, bỗng gió dông nổi lên làm đoàn thuyền lật buồm quay trở lại. Nơi quay thuyền có danh là Đông Hồi thuộc xã Quỳnh Lập ngày nay. Hiện tượng này khiến nhà vua nhớ đến chuyện cầu đảo ở Đền Cần nên cho thuyền ngược lại Đền Cần mua sắm lễ vật lên đền tạ ơn, sau đó mới về về kinh đô.
      Chỉ ở của Cần mà nhân dân ven biển từ nam chí bắc còn lập nhiều đền để thờ Tống Thái Hậu. Đặc biệt ở đền Mẫu thị xã Hưng Yên gần bờ sông Hông, xa đây cũng là cửa biển và theo truyền thuyết địa phương cửa biển này cũng gọi là là Càn Môn. Ngọc phả còn có tình tiết sau: Bà cùng ba con bị chết đuối trôi dạt sang cửa Cần Hải, Quỳnh Phương, Quỳnh Lưu, Nghệ An rồi xác của Mẫu lại trôi ngược dòng đến Càn Môn, Hưng Yên. Nhân dân vớt lên và mối đùn thành mộ. Sau dân lập đền thờ và chính tẩm của đền che phủ cho phần mộ của Mẫu.
      Đền Đại Lộ xã Ninh Sở, Thường Tín, Hà Nội là ngôi đền lớn, nằm sát bờ sông Hông, tiếp cận huyện Thanh Trì. Truyền thuyết địa phương kể lại câu chuyện bốn chiếc nón trôi về khu vực này, lẩn quẩn mãi không đi. Năm ấy đê sông Hồng bị vỡ, nhà vua lo lắng bèn khấn thần biển Đại Càn phù hộ. Sau đó hai con rắn (lốt) xuất hiện rồi cắn đuôi nhau nằm trên đê vỡ chắn ngang dòng nước thành đôi rắn khổng lồ khiến dòng nước ngừng chảy, giúp nhân dân có thời cơ cứu vãn vỡ đê.
      “Như vậy ở Đại Càn Thánh Mẫu, hoặc các vị mẫu khác dân gian ước nguyện có được sự cứu độ để giải toả mọi ức chế, xua đi những nỗi lo âu, những tai ương bởi hoạ người và thiên nhiên chưa giải thích được. Sự vô hình của các thánh mẫu sẽ làm cho tâm ta thiện hơn, trong trẻo hơn, hướng về bản chất dân tộc chân, thiện, mĩ. Lẽ tất nhiên trong sự vô hình mà tác động đến đời sống tâm linh, đến đời sống đời thường thì khó vận dụng lí lẽ khoa học để phân tích. Phân tích một tín ngưỡng dân gian có thể coi như một hiện tượng văn hoá bản địa lâu đời mà nhân dân, dân tộc đã kính thờ, đã tổ chức lễ hội như một chương “Diễn xướng sử thi” để từ đó nảy sinh niềm tin, tăng thêm tình yêu quê hương đất nước và làm cho cuộc sống được hạnh phúc và thi vị hơn.”( Theo Hồ Đức Thọ) Sách “Ô châu cận lục” viết thế kỉ 15 còn cho Đại Càn Thánh Lương vương là Vương Hậu thời Hùng Vương thứ 13. Có nơi vùng trung du như Phú Thọ còn ghép tứ vị Thánh nương bộ tướng của Trưng Nữ Vương thế kỉ I. Cũng có nơi ở đồng bằng Bắc Bộ cho đại càn tứ vị là mẫu thoải thuộc hệ tam toà Thánh Mẫu Phủ Giầy… Và tất nhiên bởi sự dung hợp nên Duệ Hiệu cũng thật phong phú. Đơn cử một số Duệ Hiệu thường thấy ở các đền như sau:
     - Đại Càn quốc gia Nam Hải Thánh Mẫu Thượng đẳng thần.
     - Nam Việt Tống triều quốc mẫu tứ vị hồng nương phu nhân.
     - Đại càn quốc gia Nam Hải thần chiếu ninh ứng tự vị thánh nương Thượng đẳng thần.
     - Càn Hải môn hiển thánh Tống Thái Hậu nam Hải tối linh Tứ vị thánh nương Đại vương.
      Nhìn chung tương tự như nhau, có theo màu sắc dân gian từng địa phương nhưng không chênh lệch nhiều. Chỉ tính riêng sắc phong ở đền Cần đã có tới 300 chiếc. Có ngày đền được phong 8 đạo sắc. Sắc phong ở đền Cần và hàng trăm đền thờ khác đều là tài sản quí cần được bảo quản và giữ gìn nguyên bản.
      Trong khi hiện nay không thiếu gì cò mồi lùng sục với giá có khi lên tới ba trăm triệu một đạo sắc. Trong tín ngưỡng dân gian có sự ngưỡng vọng nghĩa là phù hợp với bản chất dân tộc thì nhân dân lại lập đền thờ ở khắp mọi nơi và nó trở thành một phương thức sinh hoạt văn hoá của cộng đồng làng xã. Nó như nhu cầu cuộc sống, là sự tồn vinh của mảnh đất con người, là niềm hạnh phúc, lòng tin để nhà nhà bách tính được nhân khang vật thịnh, quốc thái dân an.
      Và huyền thoại Đại Càn Thánh Mẫu được hoà nhập, Việt hoá từ xa xưa, không phân biệt người Việt hay người Hoa, giống như Đức Phật ở Ấn Độ là vậy. Cũng vì lẽ đó mà đền thờ Đại càn tứ vị trở nên đa dạng, khó bề giải thích. Và từ một càn miếu phát triển đến hàng trăm đền thờ, đình thờ. Theo sách di tích lịch sử đền Cần do Phan Đình Phương biên soạn thì nơi thờ thần đền Cần được ghi trong “Bách Thần Ký”, số miếu, đền có tới 1057 chiếc. Đặc biệt thần tích đền tứ vị ở Hàm Thuỷ và trại Ninh Mật (Ninh Bình) lưu ở thư viện Hán Nôm số đền thờ thần ở Đền Cần lên đến 1964 chiếc.
      Trong thực tế số đền thờ thần đền Cần không còn nhiều. Nhưng nhiều nơi đã và đang tu sửa, phục hồi để thành tích có qui mô thu hút đông đảo khách hành hương. Đó là đền Cần, đến Hữu lập, đền Phú Đa, Phú Nghĩa ở Quỳnh Lưu; đền Vo Trung – Gia Lâm; đền Cơ Xá - quận Ba Đình; đền Nghĩa Dũng sau chuyển vào đường Thanh Niên – Hồ Tây; đền Hàng Than – quận Hoàn Kiếm… Nam Định có hàng chục đền thờ, đó là đền Ninh Cường, đền Hạ Lạc Chính - Trực Khang; đền Quần Anh - Hải Hậu… Ngoài ra các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên… hiện tại vẫn có các đền thờ Đại Càn Thánh Mẫu.
Thật là:
                               Hà sứ phong đào thiên địa bạch
                               Thử gian miếu vũ nhật tinh hồng.

     (Đâu có sóng gió tung trắng trong trời đất thì có miếu đền sáng rực như sao và như mặt trời hồng).

      Cũng nhờ có giấc mộng vua Trần mà đền Cần thờ Thánh mẫu được xây dựng to đẹp, xin trích một câu có tính ôn lại lịch sử:

                               “Phong ba hoán tỉnh Anh Tôn mộng
                               Hương hoả do lưu Thánh mẫu từ.

      Thật là:
                               Nam Độ dĩ lai phong phạm cựu
                               Đông A nhi hậu cổn trường tân.

            (Từ khi vượt sang cõi Nam phong độ của Mẫu vẫn như cũ, từ thời Trần về sau luôn được sắc tặng biểu dương.)
      Sau này hải Thượng Lãn Ông trên đường thượng kinh chữa bệnh cho Trịnh Cán khi qua đền Cần cũng đề:
                               Đại Tống cơ đồ thiên cổ hận
                               Nam Thiên vũ trụ tứ thời xuân.

      Tạm dịch là:
                               Đồ Đại Tống hờn nghìn thủa
                               Vũ trụ trời nam xuân bốn mùa.

Tục thờ mẫu tại xã Ninh C­ường huyện Trùc Ninh đã có từ xưa, sau này mới có tại Trực Khang.

Tương truyền trẻ trâu xã Duyên Bình xưa, nay là Trực Khang chăn trâu cắt cỏ ở bãi sông Ninh Cơ nô nghịch bơi qua sông sang đền thờ Tống Thái Hậu ở Ninh Cường nhổ chân hương đem về lập ụ đất thờ ở bãi cỏ ven song. Thế rồi hàng ngày phân công nhau đứa củ khoai, đứa quả chuối, quả cam, có gì góp lấy đưa ra tháp hương khấn vái khi chăn trâu cắt cỏ với nhau rồi liên hoan. Tuần tuyết mồng một, tư rằm hàng tháng có khi còn góp cả gạo nếp để thổi cơm cúng thánh. Thế rồi động về làng, trâu bò cứ lăn ra chết hàng loạt chẳng hiểu làm sao. Hào Lý trong làng điều tra nguyên nhân rồi cho lập đền thờ Thái hậu. lúc đầu đền làm trên đất thôn Phụ Nghiêm, đến năm 1879 chuyển về xây tại thôn Lạc Chính to đẹp hơn. Đền gồm ba cung là Hậu cung, trung đường và tiền đường kèo cột toàn bằng gỗ lim, cánh cửa ô, ngưỡng cửa bằng đá. Trong đền ở cung chính điện có tượng Dương Thái Hậu ngồi trên ngai vàng đặt ở cung cấm không mấy khi cửa được mở trừ ngày chính kị vào mồng 7 tháng giêng. Xưa kia cứ vào tối ngày mồng 6 tháng giêng thì làng tổ chức rước Mục đồng (trẻ trâu) để ôn lại tích xưa đền thờ là do trẻ trâu lập lên. Cứ mỗi con Trâu trong làng đóng một quan gạo nếp để làm xôi tế cáo thánh vào chiều ngày mồng 6. Tế cáo xong làng tổ chức hội trâu, thi trâu khỏe đẹp rồi mỗi trẻ trâu cầm một bó đuốc rước quanh làng, đi trước là hai hang cờ thánh, chấp kích, bát biểu các đoàn tế nam quan, nữ quan, đoàn các phật tử trong làng ngoài xã cùng các đội phường động, múa lân trống phách láo nhiệt vào những ngày đầu xuân năm mới. Những năm cả nước có chiến tranh làng không tổ chức rước nhưng hiện nay hang năm vào chiều mồng 6 tháng giêng làng đã khôi phục lại tích xưa nhưng không có trâu vì trâu đã được thay bằng máy.
      Ngoài đền thờ Tống Thái Hậu làng còn có đền thờ Triệu Quang Phục (tuần tiết ở cửa biển Đại Nha). Các thôn trong xã Duyên Bình xưa chỉ có Làng Lạc Chính là được thờ Triệu Quang Phục. Người ta quan niệm làng to ( anh cả thờ cha) còn lại các làng khác đều thờ Trần Hưng Đạo. Từ đền thờ Dương Hậu và chùa đi qua hang cây gạo rực đỏ đường làng qua gốc đa gù đến hang chục người ôm không xuể đến đền thờ Triệu Quang Phục của thôn Lạc Chính, sang đền thờ Trần Hưng Đạo và chùa Nam Trực có cây đa con ngựa to cao hàng chục mét xuống đền thờ thánh Tứ và chùa Bình Quang Tự, lên đền thờ Trần Hưng Đạo của thôn Thái Bình tạo thành vòng khép kín cho đoàn rước kiệu thánh vòng quanh xã vào những ngày kỵ đức thánh Triệu trong những ngày tháng tám giỗ cha vòng quanh xã.
      Tương truyền thời kỳ mở đất dân xã Duyên Bình có đánh nhau với dân huyên Nam Chân làm chết người. Dân làng Lạc Chính có người bị chết, người Lạc Chính của huyện nam Chân để lại xác chết ăn vạ. Theo gió mây bay mùi người chết đến đâu thì đất đai của họ đến đó. Dân Duyên Bình có người làm quan không chịu mất đất, nhưng đã để đất mang tên Lạc Chính cho dĩ hoà vi quý với Nam Chân.
      Làng xã trước đây khoanh vùng theo đất đai do dân làng khai khẩn được, cho nên ranh giới giữa các làng thường theo hình da báo, một ít dân làng này ở nộn với dân làng khác. Ở xôi đỗ nên thường không chấp hành lệ làng, hương ước của nhau, Vì thế đã nảy sinh mâu thuẫn, đánh chửi nhau, kéo bè kéo cánh nên đã có câu quá lời:
                               ........................................
                               Ai chơi với nó cởi trần mà ra


      Bởi đã có một vài hộ dân như của làng Đông Thụ (người xã khác) lại vượt qua sống ở tròi vời người Lạc Chính nên với sinh ra mâu thuẫn là vậy
     Sau cách mạng tháng Tám 1945 thành công, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, ngày 21/5/1947, Duyên Bình và Quĩ Đê là hai xã có đền thờ Triệu Quang Phục và Trần Hưng Đạo sáp nhập với nhau thành một xã đặt tên là Quang Hưng (lý do lấy tên Quang Hưng bởi Quang là Quang Phục, Còn Hưng là Hưng Đạo). Đến thời kỳ địch hậu, để tiện cho việc chỉ đạo kháng chiến, vùng đất Trực Khang ngày nay nhập về với xã Minh Tân (vì giặc đóng bốt ở chợ đền) chia cắt, nên sự chỉ đạo của xã Quang Hưng với vùng dân cư (nay là Trực Khang) vô cùng khó khăn, nên vùng đất ấy được tách khỏi Minh Tân về xã Quang Hưng như cũ. Đến tháng 6 – 1956, cải cách ruộng đất thì Quang Hưng đước tách làm 3 xã là Trực Khang, Trực Hưng và Trực Mĩ đồng thời chuyển các thôn Nội về Trực Thuận, trại A, B, C về Trực Nội, trại Duyên Thọ về Trực Đạo, trại 50 về Nam Thái, trại Phú Ngọc về Nam Hải. Năm 1965, xóm Khang Cù của Trực Khang được chuyển về Nghĩa Hiệp và xóm Hoàng Niên về Trực Thuận. Từ đấy Trực Khang chỉ còn có 3 thon là Lạc Chính, Nam Trực, Thái Bình và xóm Phụ Nghiêm tạo thành xã Trực Khang. Mảnh đất đã sinh ra những con người. Họ đã lăn lộn trên mảnh đất này vượt qua bão tháng bảy, mưa tháng ba, cần cù cải tạo đào xới vun trồng biến đất này thành hạt gạo, củ khoai như dòng sữa mẹ nuôi con người khôn lớn trưởng thành.
      Hoà Bình lập lại làng xã xóm thôn được tổ chức lại theo mô hình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp. Các làng xã thường lấy đường quốc lộ làm ranh giới với nhau.Từ đường làng đến những cánh đồng, bến nước, nhánh sông được sử dụng trong việc điều chỉnh địa giới hành chính để hình thành ra 14 xóm đặt như hiệnnay. Địa giới hành chính xã Trực Khang được hình thành và ổn định từ đây (1965) cho tới hôm nay.


... còn tiếp ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NamĐịnh ngày 20.5.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn