Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Chùa Bút Tháp



TỪ BIA ĐÁ “KIM BẢNG LƯU PHƯƠNG”

TỚI THÁP BÚT “BÁO NGHIÊM”




Vẻ Vang Miền Đất Khoa Bảng


Quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc: Giang sơn tụ khí, với thế đất núi sông hùng vĩ linh thiêng và thơ mộng nổi tiếng văn chương, khoa bảng đã sinh ra nhiều nhân tài cho quê hương đất nước, được ví là vùng đất của “một giỏ ông Đồ, một bồ ông Cống, một đống Tiến sĩ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn”


Nằm giữa Thành phố Bắc Ninh (cách Thủ đô Hà Nội khoảng 30 km về phía Đông Bắc) trải qua hàng trăm năm, Văn Miếu Bắc Ninh vẫn là một di tích lịch sử đặc biệt quan trọng, biểu tượng của tinh thần hiếu học, tôn sư trọng đạo, coi trọng hiền tài của vùng đất Kinh Bắc xưa và Bắc Ninh ngày nay.



Gần nghìn năm khoa bảng phong kiến (1075-1919), Bắc Ninh - Kinh Bắc với nét đặc sắc nổi trội trong số toàn bộ những giá trị còn tồn tại của Văn miếu Bắc Ninh chính là 15 tấm bia đá. Trong đó, 12 bia “Kim bảng lưu phương” được dựng năm 1889, lưu danh 677 vị đại khoa quê hương Kinh Bắc là những người làm rạng rỡ truyền thống khoa bảng và có công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, phát triển nền văn hóa Việt Nam.

Bắc Ninh- một địa phương đứng đầu cả nước về số người đỗ đại khoa thời phong kiến (chiếm gần một phần tư tổng số tiến sĩ cả nước), với nhiều đặc điểm tiêu biểu như: Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh; 1 làng đoạt đủ Tam khôi (làng Tam Sơn); Tiến sĩ Nguyễn Nhân Thiếp trẻ nhất nước 15 tuổi; 2 cha con cùng đỗ một khoa; 2 anh em ruột cùng đỗ một khoa; 5 anh em ruột cùng đỗ Tiến sĩ; 13 đời liên tục đỗ Tiến sĩ; 9 Tiến sĩ trong một họ và 8 cha con cùng đỗ đạt làm quan đồng triều. Làng Phù Khê có tiến sĩ Nguyễn Quỳnh Cư lúc 7 tuổi đã thuộc nhiều văn sách và biết làm câu đối, được người bấy giờ gọi là thần đồng; lại có gương hiếu học hiếm có như cụ Quách Đồng Dần ra làm quan vẫn theo học và đỗ tiến sĩ năm 68 tuổi.

Kinh Bắc xưa có tới 102 vị đại khoa làm sứ thần (cả nước có 307 vị). Nhiều vị trở thành các nhà văn hoá, các tác giả tên tuổi. Có nhiều người thầy dạy dỗ con em dân thường trở thành văn nhân, nhà khoa học nổi tiếng, và cũng từng có thầy dạy vua và thái tử. Hàng chục tiến sĩ, trạng nguyên người Kinh Bắc đã làm tế tửu Quốc Tử Giám (tương đương hiệu trưởng trường đại học hiện nay) vv…và 10 vị đỗ ở khoa thi Minh kinh bác học đầu tiên ở nước ta mà người đứng đầu danh sách là thí sinh Lê Văn Thịnh- người Đông Cứu- Gia Bình, sau đó là vị thái sư danh tiếng bị hàm oan suốt 900 năm!

Nói về thi cử và khoa bảng vùng Kinh Bắc, người ta không thể không nhắc tới "tứ gia vọng tộc" với gia thế lẫy lừng có nhiều người đỗ đạt cao làm nên sự nghiệp vẻ vang cho dòng họ, rạng rỡ quê hương đất nước.


Đấy là dòng họ Nguyễn Đăng làng Bịu (nay thuộc xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) là một dòng họ nổi tiếng về khoa bảng của vùng Kinh Bắc xưa. Dòng họ này có mấy đời ông cha, bác cháu, anh em đều đỗ đạt và làm quan vào hàng quyền cao chức trọng trong triều.   Theo gia phả dòng họ Nguyễn Đăng ghi chép từ năm 1443 đến năm 1918 (tức là trong khoảng 475 năm), dòng họ có 91 người đỗ đạt. Trong đó có một trạng nguyên, một thám hoa, sáu tiến sĩ, bảy giám sinh, hai mươi lăm hiệu sinh, hai tú tài, năm thiếu khanh, tổng giáo và huyện thừa. Đây là con số không phải dòng họ nào cũng có thể làm được. Dân gian thì lưu truyền nhiều giai thoại về ông Nguyễn Đăng Cảo- Trạng Bịu. Sách “Kinh Bắc phong thổ kí, diễn  quốc sự” viết:


Làng Bịu có đấng thám hoa
Tiếng bay thượng quốc gần xa biết tài
”.


Đấy là dòng họ Nguyễn ở Vĩnh Kiều (làng Viềng) qua 7 đời có đến 10 người đỗ tiến sỹ. Nguyễn Nhân Nguyên đỗ hương cống (cử nhân) năm 27 tuổi, ông sinh được 7 con trai trong đó có 3 con đỗ tiến sỹ, bốn người con trai khác đều đỗ hương cống. Cả tám cha con cùng đỗ đạt làm quan đồng triều thật là hiếm thấy! Dòng họ Nguyễn Vĩnh Kiều đã đóng góp cho nước Đại Việt nhiều danh nhân, khoa bảng. Người khai mở con đường khoa cử làng Viềng là Nguyễn Văn Huy. Năm Kỷ sửu 1529 ông đậu Thám hoa, giữ chức Lễ bộ Thượng thư kiêm Đông các Đại học sỹ. Nguyễn Văn Huy được xem là ông Tổ của 100 tiến sỹ, cử nhân và tú tài của họ Nguyễn làng Viềng trong vòng hơn 300 năm, từ giữa thế kỷ thứ 16 đến cuối thế kỷ 19. Sách "Kinh Bắc phong thổ ký, diễn  quốc sự" cũng ghi đầy đủ tên tuổi các vị tiến sỹ dòng họ Nguyễn làng Vĩnh Kiều với 2 câu mở đầu:
  “Vĩnh Kiều ấy bảng vàng rỡ rỡ / Mười hai tên, ngựa ngựa, xe xe”

Đấy là làng Kim Đôi bên dòng sông Cầu thuộc TP.Bắc Ninh. Làng Kim Đôi có 25 tiến sĩ trong đó họ Nguyễn chiếm ưu thế với 18 tiến sĩ, 7 tiến sĩ còn lại thuộc họ Phạm. Vào thời Lê làng Kim Đôi được phong danh hiệu “Làng tiến sĩ”. Họ Nguyễn làng Kim Đôi là dòng họ duy nhất có gia đình có 5 anh em ruột cùng đỗ tiến sĩ, mang về cho quê hương 8 chữ vàng “Kim Đôi gia thế, chu tử mãn triều”(họ Nguyễn-Kim Đôi áo đỏ áo tím đầy triều) do vua Lê Thánh Tông ban tặng. Tấm bia hiện còn trong Từ đường họ Nguyễn đã ghi “Thanh tiền trúng tuyển nhân gian thiểu/ Hoàng bảng thư danh bản tộc ta”, có nghĩa là “Ngày xưa nhà nghèo chỉ có tiền kẽm rỉ xanh mà đi thi đỗ đạt cao thật hiếm có trong nhân gian, nhưng được ghi tên bảng vàng thì họ ta có rất nhiều”.

Trong số "tứ gia vọng tộc" đất Kinh Bắc xưa, dòng họ Nguyễn làng Tam Sơn không phát triển một chiều như những dòng họ khác. Con đường khoa cử của dòng họ này trải qua những thử thách và chặng đường khá phức tạp. “Tam Sơn là đất ba gò/Của trời vô tận, một kho nhân tài”. Từ ngàn xưa, Tam Sơn nổi tiếng là đất khoa bảng, nơi sản sinh ra nhiều nhân tài của làng quê xứ Kinh Bắc. Chỉ riêng hàng Đại khoa (Tiến sỹ), xã Tam Sơn đã có 22 người, trong đó có 2 Trạng nguyên, 1 Bảng nhãn, 1 Thám hoa, 5 nhị giáp tiến sỹ, 12 Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân và 1 Phó bảng. Số người này tập trung ở 2 làng: Tam Sơn (17 vị) và Dương Sơn (5 vị). Điều đặc biệt, làng Tam Sơn là làng duy nhất trong cả nước có đủ “Tam khôi” (Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa). Đáng tự hào hơn, Nguyễn Quán Quang (đỗ năm 1246) là vị Trạng nguyên đầu tiên của nước nhà.


Ông Tổ” Của Nghề Dạy Học


Nói tới việc học của đất Bắc Ninh- Kinh Bắc xưa không thể không nhắc tới Sĩ Nhiếp (137 - 226). Ông là người gốc Trung Quốc, tổ tiên đã sang ta được 7 đời nên ông đã được xem như người Việt. Trong thời gian làm thái thú đất Giao Chỉ vào thời Bắc thuộc 40 năm (187-226), hai lần được phong tước: Long Bộ Đình Hầu (triều Đông Hán) và Long Biên Hầu (triều Ngô),đóng đô tại thành Luy Lâu Khi ấy, dù cả nước Hán loạn lạc liên miên nhưng vùng đất của ông quản vẫn thái bình thịnh trị.

Sĩ Nhiếp là một vị quan cai trị có tài, có công phát triển văn hoá cho người Việt, mở đường cho Nho giáo ở Việt Nam, Ông đã cho xây dựng Luy Lâu thành trụ sở và trung tâm kinh tế, văn hóa, nơi truyền bá kinh Phật đầu tiên ở Giao Châu, mở rộng với quy mô to lớn, trở thành công trình phòng vệ kiên cố và căn cứ quân sự lợi hại. Ông lập trường dạy chữ Hán đầu tiên để truyền bá Nho học tại Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh hiện nay), thu hút rất đông sĩ tử, và được giới Nho học phong kiến Việt Nam suy tôn ông là người đặt nền móng cho nền văn minh Đại Việt.

Đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á là một di tích cực kỳ quan trọng. Chúng ta không phải thờ Sĩ Nhiếp trong vai một thái thú mà với vai trò là một ông tổ của nghề dạy học. Tam quan đền thờ Sĩ Nhiếp, phía ngoài hướng vào nhìn chếch lên bên trên có bốn chữ Nho với nét bút lẫn cả lối chân lối khải. Bốn chữ là Nam Giao Học Tổ (ông tổ việc học đất phương Nam), đó là danh hiệu mà các vua nước ta ban cho Sĩ Nhiếp qua 33 đạo sắc phong đến nay vẫn còn đủ cả.

Là ông tổ của nghề dạy học nên chính Sĩ Nhiếp đã tự mình dạy dân ta chữ Hán. Nhờ vậy trên vùng quê xứ Bắc, tầng lớp nho sĩ người Việt được hình thành khá sớm và ngày càng đông đảo, tiếp xúc, thâu nhận các tinh hoa văn hoá Trung Hoa cổ đại, góp phần tích cực vào công cuộc bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc, hình thành và phát triển văn hoá Bắc ninh- Kinh Bắc sau này.

Sĩ Nhiếp trở thành một người thầy lớn- một ông "đốc học", còn có công lao lập ra hàng chục làng nghề liên quan đến chữ nghĩa văn chương. Chẳng đâu xa, ngay gần thành Luy Lâu ngày nay, các làng ấy như làng đúc đồng, canh cửi, làng chuyên chế ra thứ mực viết, làng giấy, làng tranh, làng hát cô đầu, những chùa Bình (Sĩ Nhiếp dựng để bình văn), Chùa Định (dựng để định giá cao thấp) những Gò Nghiên, Gò Bút vv... 

Lợi dụng nhà Hán suy yếu, Ông đã biến Dâu thành trung tâm phật giáo lớn và cổ xưa nhất nước ta. Các tăng sĩ Ấn Độ trực tiếp đến truyền giáo. Hệ thống chùa tháp được xây dựng dày đặc trong vùng. Chính Sĩ Nhiếp đã khéo kết hợp tín ngưỡng bản địa với Phật giáo để điển lệ hoá thành lễ hội Tứ Pháp duy trì đến tận ngày nay và nó còn lan toả sang nhiều vùng quê khác ở đồng bằng Bắc bộ.

Sử gia Ngô Sĩ Liên trong “Đại Việt sử ký toàn thư” đánh giá: "Nước ta thông Thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao?”


Tháp Bút- Biểu Trưng Của Đất Học Kinh Bắc


Chùa Bút Tháp nằm trên một dải đất có lịch sử lâu đời đặc biệt là nằm trong không gian văn hóa Luy Lâu - trung tâm của Phật giáo trong nhiều thế kỉ. Toàn bộ kiến trúc của chùa quay theo hướng Nam, một hướng truyền thống của người Việt. Đối với đạo phật, hướng Nam là hướng của trí tuệ, hướng của bát nhã, nhờ có trí tuệ chúng sinh mới đáo bỉ ngạn (đến bến bờ giải thoát- niết bàn).

Đến chùa ta được chiêm ngưỡng nhiều tác phẩm nghệ thuật độc đáo với các hoạ tiết trang trí được làm bằng các chất liệu phong phú và đa dạng .

Đó là tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay nổi tiếng do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656 . Đây được coi là một kiệt tác độc nhất vô nhị về tượng Phật và nghệ thuật tạc tượng. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay như những vòng hào quang toả ra từ tâm điểm, làm nổi bật triết lý nhà Phật bằng thứ ngôn ngữ tạo hình hàm súc…

Đó là tòa Cửu phẩm liên hoa (còn có tên gọi “cối kinh”) đẹp nhất Việt Nam. Tháp được làm bằng gỗ, hình bát giác cao 7,8m, kiến trúc 9 tầng thành chín đài sen tượng trưng cho 9 cấp tu hành chính quả của Phật giáo, nhằm quảng bá tinh thần bác ái của Phật giáo đến quảng đại quần chúng nhân dân…

Điều đặc biệt hơn cả là chùa có tháp Báo Nghiêm, đỉnh tháp là ngọn bút, trông giống như cây bút khổng lồ vươn thẳng tới trời cao xanh. Tháp cao 13,05 mét, năm tầng với một phần đỉnh xây bằng đá xanh; ngoài tầng đáy rộng hơn với mái hiên nhô ra; bốn tầng trên gần giống nhau. Vua Tự Đức, năm 1876, trong một lần đi qua đây vua thấy có một cây tháp hình ngọn bút khổng lồ liền gọi tên là Bút Tháp, nhưng trên đỉnh vẫn ghi là tháp Báo Nghiêm.

  Tương truyền xưa, tháp dựng xong, thường có nhiều đàn chim nhạn hay về đậu trên đỉnh tháp. Đó là điềm lành nên chùa còn được gọi Nhạn Tháp là như vậy.Việc chọn đặt Tháp Bút ở giữa một vùng văn hiến lâu đời, hẳn Thiền sư Minh Hành thời đó, phải xem phong thủy, mạch đất, thế đất kỹ lắm! (Nghe nói những năm 1960, tháp nghiêng, dầm đỡ mái tháp bằng gỗ bị gẫy, khi tu chỉnh lại, người ta cho thay bằng bê tông cốt thép, sau đó ít ngày bị sét đánh gẫy, buộc phải thay lại bằng gỗ lim như cũ, ngọn bút mới được ổn định và đứng vững như bây giờ).

Bên bờ sông Thiên Đức thiêng liêng đất Siêu Loại ngàn năm văn hiến, Tháp Bút được dựng lên như muốn viết lên trời xanh bài thơ bất tận của văn hóa Bắc Ninh- Kinh Bắc. Tháp Bút- biểu trưng văn hóa với triết lý cao siêu, hướng thiện quả là một công trình vô giá trong quần thể chùa Bút Tháp, đất Siêu Loại- Kinh Bắc

Đã hàng trăm năm sừng sững giữa trời, giờ đây Tháp Bút đã trở thành một biểu tượng sinh động trong lòng người Kinh Bắc hiếu học với nhiều cảm xúc thân thương, tạo thành biểu tượng của văn chương, học hành, khoa cử.


Bắc Ninh Hướng Đến Một “Xã Hội Học Tập”


Có thể khẳng định: các nhà khoa bảng Bắc Ninh - Kinh Bắc ngày xưa, các nhà văn hoá của Bắc ninh ngày nay vẫn luôn là rường cột của nước nhà trên mọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục, ngoại giao… làm rạng rỡ những trang sử dân tộc bằng tài năng, đức độ và lòng yêu nước. Đó chính là Nhân kiệt của quê hương Bắc Ninh - Kinh Bắc ta.

Bắc Ninh đã từng có rất nhiều nhà trí thức được tôn vinh. Có nhà cả hai anh em đều nhận giải thưởng Hồ Chí Minh (họa sĩ Hoàng Tích Chù, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ - ở Phù Lưu). Một nhà có hai chị em ruột thì chị là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, còn em là Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Phó Giáo sư- Hoạ sĩ Vũ Giáng Hương và Giáo sư- Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng- ở Gia Bình)…

Dân làng Phù Lưu đến nay vẫn tự hào về những bậc tri thức tài danh ở quê mình. Đó là các bậc đại khoa như cụ Chu Tam Dị, Hoàng Văn Hòe… Đó là dòng tộc họ Hoàng có con trai là Hoàng Thụy Ba - bác sĩ y khoa đầu tiên ở bán đảo Đông Dương. Đó là gia đình Tri phủ Hoàng Tích Phụng có những người con ưu tú như: Nhà báo Hoàng Tích Chu - người mở đầu cách tân báo chí Việt Nam; họa sĩ Hoàng Tích Chù, nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ…Và còn nhiều văn nghệ sĩ, trí thức nổi tiếng khác như: Nhà văn Kim Lân, Nguyễn Địch Dũng, nhà quay phim, NSND Nguyễn Đăng Bẩy, nhạc sĩ Hồ Bắc, dịch giả Hoàng Thúy Toàn, họa sĩ Nguyễn Thành Chương; Trung tướng Chu Duy Kính - nguyên Tư lệnh Quân khu Thủ đô. Nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính - Chu Tam Thức; nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trợ lý Tổng Bí thư- Hồ Tiến Nghị; Giáo sư sử học Phạm Xuân Nam, Giáo sư Ngữ văn Chu Xuân Diên; Giáo sư Toán học Hồ Bá Thuần vv...Đến nay, dân làng Phù Lưu vẫn còn mãi lời nhắc nhở con cháu trong đôi câu đối ở cổng làng:


Dĩ nhân tâm vi bản
Đạt tri thức do văn”.


Ngày nay những địa danh đang trở thành biểu tượng của lòng hiếu học cảm động đất Kinh Bắc: Đại Mão, Song Hồ, Kim Đôi, Vọng Nguyệt, Tam Sơn… và tiêu biểu từ nhiều năm nay, Mão Điền luôn là một trong những địa phương có tỉ lệ thi đỗ đại học cao nhất (trên 100 em mỗi năm), xứng đáng với danh hiệu “làng đại học”. Được như vậy, suy cho cùng là truyền thống của một vùng đất do chính con người nơi ấy tạo dựng nên qua nhiều thế hệ mà các địa phương của vùng đất Bắc Ninh- Kinh Bắc này đã và đang làm tốt điều đó.

Tại kỳ thi tuyển sinh ĐH 2014, Bắc Ninh xếp thứ 5/63 tỉnh, thành phố về điểm bình quân 3 môn thi ĐH, trong đó có 23 thủ khoa và 21 á khoa. Với 1 tỉnh giàu truyền thống hiếu học, Bắc Ninh luôn đi đầu trong các phong trào xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, xây dựng quỹ khuyến học phát thưởng học sinh nghèo vượt khó. Hiện nay, UBND tỉnh Bắc Ninh đang xây dựng kế hoạch thực hiện Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2020”. Bắc Ninh vẫn luôn coi “giáo dục đào tạo” là vườn ươm hạt giống để hình thành “xã hội học tập” và đó chính là mảnh đất màu mỡ cho kinh tế tri thức phát triển .

  Với nhận thức đó, Bắc Ninh đang ra sức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong đó tập trung các giải pháp cho việc nâng cao trình độ thực chất về tin học, ngoại ngữ trong cán bộ, học sinh. Khuyến khích học tập chuyên sâu nhất là các ngành nghề phục vụ CNH-HĐH. Tiếp tục nâng tầm tư duy để chủ động tiếp cận với mô hình tỉnh Bắc Ninh công nghiệp và đô thị hiện đại. Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong các tầng lớp, trước mắt là trong đội ngũ trí thức tham gia giải quyết những vấn đề thực tế đặt ra như: xây dựng văn hoá, tác phong công nghiệp, bảo tồn phát huy các giá trị văn hoá nghệ thuật ... Xây dựng cơ chế khuyến học, khuyến tài, xã hội hóa học tập và giáo dục.

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, Bắc Ninh từ xưa tới nay luôn trân trọng những cống hiến trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của các nhà khoa học, trí thức. Để đạt được các mục tiêu chiến lược, với truyền thống của vùng đất hiếu học, trọng nhân nghĩa và ý chí kiên cường, các thế hệ tri thức của Bắc Ninh đang đứng trước nhiều vận hội tốt để tạo ra sức bật mới trong tương lai, sẽ không ngừng phấn đấu, vươn lên, cống hiến hết mình cho sự nghiệp phát triển của quê hương, đất nước./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ BắcNinh ngày 20.5.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn