Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ

CUỘC ĐỜI CỤ PHAN BỘI CHÂU





C uộc đời cụ Phan Bội Châu là một cuộc đời chiến đấu cho quốc gia dân tộc, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Trong quãng đời ấy có nhiều chuyện chua cay, đau xót, nhưng cũng có những chuyện thú vị mà thường khi người ta không đưa vào tiểu sử của cụ. Thiết tưởng đọc những chuyện ấy để hiểu rõ cụ hơn cũng là một điều hữu ích và thích thú.

CỤ BÀ PHAN BỘI CHÂU


Viết về cụ Phan mà không nói gì về cụ bà thì thật là thiếu sót vì chính cụ bà là người khuyến khích, tài bồi nên công cuộc cách mạng trong đời chồng. Trong một lá thư gửi cho con, chính cụ Phan đã viết:“Con nên biết, nếu không có mẹ con thì chí của cha con đã hư hỏng từ những bao giờ rồi”.

Ngày 8-2-1926, trong lúc bị an trí, cụ Phan được về thăm quê hương xứ Nghệ. Được tin, Phan phu nhân, con và dâu đến thăm cụ. Phan phu nhân đã thốt lời khảng khái:

Thưa thầy, vợ chồng xa cách nhau đến nay đã hai mươi năm lẻ, thầy còn sống mà về đến xứ sở, thế là tôi lấy làm mãn nguyện lắm rồi. Thầy đã đem thân ra làm việc cho nước, cho dân thì làm cho hết nghĩa vụ, cho bằng lòng quốc dân, chớ có tưởng chi việc vợ con nghèo túng, miễn giữ cho tròn danh tiết là hơn. Đó là nguyện vọng của tôi bấy lâu nay. Còn việc gia đình đã có tôi lo liệu”.

Cụ Phan cảm động đáp rằng :“Mấy lời bà nói rất chính đáng. Tôi lấy làm cảm ơn”.

Thế rồi từ đó hai người vẫn xa nhau.

Trong một bức thư gửi cho con (*), cụ viết:


“Từ năm ta 36 tuổi cho tới ngày xuất dương, những công cuộc kinh dinh việc nước của ta, mẹ con ngầm biết hết nhưng chưa từng hé răng một lời. Duy có một ngày kia, ta tình cờ ngồi một mình, mẹ con ngồi dựa cột kế bên ta mà nói :“Thầy chắc toan bắt mèo đó mà. Mèo chưa thấy bắt mà người ta đã biết nhiều. Sao thế?”. Tuy mẹ con có câu nói ấy mà lúc đó ta làm ngơ, ta thiệt dở quá!

Hỡi ôi! Câu nói của mẹ con lúc gặp ta ở tỉnh Nghệ bây giờ vẫn còn phảng phất bên tai, té ra đã ủ dài năm tháng, chốc đã chẵn mười năm. Mẹ con thật chẳng phụ ta, ta phụ mẹ con rồi!

Bây giờ nhắc lại trước khi ta xuất dương khoảng hơn mười năm, nghèo đói mà bạn bè nhiều, cùng khốn mà chí khí vững, thiệt một phần là nhờ ơn của mẹ con”.


NGỦ MỘT MÌNH GIỮA CÁNH ĐỒNG TUYẾT


Lần đi về Hàng Châu – Vân Nam hết năm tháng trời, từ tháng tám năm Tỵ đến tháng giêng năm Ngọ, gặp mùa lạnh, cụ Phan chỉ mang theo một tấm chăn lông và chiếc áo cầu, còn hành lý thì giao cho người đệ tử mang đi phía trước.

Một ngày kia, khi đi qua một cánh đồng mênh mông ở Viêm châu, trời sắp tối mà tuyết sa trắng xóa cả trời. Phần vì mỏi mệt, phần vì tuyết che lấp không thấy đường đi, cụ nằm ỳ ra, gối đầu trên tảng đá, quấn chăn nằm ngủ vùi tại đấy một đêm, mặc cho tuyết bao phủ.khắp người. Đến sáng ngày, mặt trời lên, tuyết rã, cụ nhìn tư bề chỉ thấy một mình trơ trọi, bèn ôm chăn chạy độ một giờ mới gặp người đệ tử đã lạc nhau. Thầy trò mừng rỡ. Cụ ngậm ngùi cảm tác:


Nhất dạ sơn trung tuyết trảo thân,

Thạch vi trường chẩm, thảo vi nhân.

Minh triêu tàn nguyệt phi chiên tẩu,

Tứ cố thương mang ngã nhất nhân.


Cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch:


Núi vắng, đêm dài, tuyết bốn bên,

Đá dài làm gối, cỏ làm mền.

Sáng ra trăng xế, ôm chăn chạy,

Trời đất mênh mông chỉ một mình!


Vất vả như thế mà cụ vẫn kiên gan bền chí. Có ngày cụ chỉ ăn cơm lạt, uống nước lã, bụng không đủ no mà ý chí vẫn kiên cường.


CÔ ẤU TRIỆU


Tại căn lều ở Bến Ngự, cụ Phan có dựng bia cho một nữ đồng chí thân thiết của mình là Ấu Triệu liệt nữ. Cô tên là Lê Thị Đang (hay Đàn), bí danh là Ấu Triệu (lấy hiệu như vậy vì cô tự xem mình là bà Triệu bé), người làng Thế Lại thượng, tỉnh Thừa Thiên.

Trong một quán rượu ở An Hòa mà cụ Phan thường ghé, có một cô gái khoảng 17-18 tuổi, rất xinh đẹp, ăn nói lưu loát có duyên gây được cảm tình với khách.

Sau nhiều lần dò hỏi và thử thách, cụ Phan biết cô không phải tầm thường, bèn ngỏ lời nhờ cô giúp phong trào yêu nước. Cô vui vẻ nhận lời. Từ đó, khi cụ Phan bôn ba vận động cách mạng ở hải ngoại, mua khí giới và lo liệu cho thanh niên Đông du thì trong nước, cô Ấu Triệu làm hộp thư bí mật, làm sợi dây liên lạc giữa các nhà yêu nước trao đổi tin tức với hải ngoại và xếp đặt cho anh em học sinh xuất dương. Phàm là các việc quan hệ từ Thừa Thiên trở vào, từ Nam Ngãi trở ra, cô đều thông thuộc cho tới chi tiết.

Năm 1908, các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi nổi lên phong trào kháng thuế rất sôi nổi, cô cũng đóng một vai trò quan trọng. Chẳng bao lâu, mọi hoạt động của cô bị phát giác. Đầu năm Canh Tuất (1910) cô Ấu Triệu bị nhà đương cuộc Pháp bắt giam. Người Pháp dùng mọi cách tra tấn rất dã man, nhưng cô kiên gan, nhất định cắn răng không khai báo một lời nào có hại cho tổ chức.

Ngày mồng 6 tháng 3 năm 1910 cô Ấu Triệu dùng dây lưng thắt cổ tự tử trong ngục. Cụ Phan nghe tin rất đau đớn ngậm ngùi. Để tỏ lòng tưởng nhớ người liệt nữ, cụ dựng nhà bia ở góc vườn. Trên cột nhà bia, cụ có đề đôi câu đối hùng hồn bi tráng:


Tấm thân trót gởi giang san Việt,

Tấc dạ soi chung nhật nguyệt Trời.


Và:


Tơ nhân sợi nghĩa dây lưng trắng,

Dạ sắt lòng son nét máu hồng.


ÔNG LÃO RÂU RÌA BÁN SÁCH VÀ VIẾT BÁO


Trong những năm sống ở Trung Hoa, cụ Phan nhiều lúc túng bấn lắm nên chuyện nhịn đói hay ăn cơm lạt không phải là chuyện hiếm hoi gì.

Khoảng cuối xuân đầu hạ năm Canh Tuất (1910) cụ Phan túng lắm. Bấy giờ cụ đang ẩn mình tại tỉnh Quảng Đông, ngày ngày lân la đến hãng tàu Hương Cảng, Áo Môn, đem các sách còn lại của cụ ra bán. Nhiều người Trung Hoa thấy ông lão râu rìa rất tốt tướng bán sách nên có cảm tình và bỏ tiền ra mua giúp, chẳng cần biết sách ấy viết gì.

Nhiều hôm sáng đi chiều về bán được vài ba đồng, cảnh sống cũng phong lưu, được bao nhiêu tiền đều đánh chén.

Một lần ông Lương Lập Nham cũng là bạn chiến đấu của cụ ghé thăm. Cụ Phan đãi rượu. Uống nửa chừng đang hứng thì hết rượu. Ông Lương yêu cầu nhưng cụ Phan không chịu mua nữa. Ông Lương bèn đè cụ xuống, móc lưng cụ lấy tiền mua rượu rồi bảo :“Cái lão này đáng trị tội, nỡ keo kiệt với ta một vài chén rượu”.

Thực ra cụ Phan không phải là người keo kiệt. Lúc còn ở quê, nhà nghèo túng, thế mà có hôm cụ dẫn về mươi, mười hai người bạn, cụ bà vẫn lo cơm rượu đầy đủ. Thế mới biết cái tài xoay xở của cụ bà.

Khoảng năm Canh Thân và Tân Dậu (1920-1921), cụ Phan thường qua lại Hàng Châu, Bắc Kinh, Quảng Đông, cũng có khi đi qua Đông Tam Tỉnh, thuận đường vào Triều Tiên rồi sang Nhật ghé thăm ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, chỉ là đi du lịch chứ không có công tác cách mạng gì. Tiền lữ hành không có thì lại dùng cách bán chữ để sống qua ngày. Cụ thường hay viết cho các báo Trung Hoa như Đông Á Tân Văn, Quân Sự tạp chí…

Lúc cụ Phan đang ở Bắc Kinh, bạn thân của cụ là Lâm Tương Sanh đang giữ chức Tổng lý tạp chí Quân Sự Hàng Châu, viết thư mời cụ đến Hàng Châu làm biên tập viên tạp chí ấy. Cụ Phan viết những bài xã luận, phê bình và cả tiểu thuyết nữa. Thế là cụ nghiễm nhiên trở thành tiểu thuyết gia.

Trên ba năm viết cho tạp chí ấy, cụ Phan có tiền giúp vài ba thiếu niên Việt Nam ăn học tại Trung Hoa và giúp các đồng chí đang túng bấn ngặt nghèo.


XIN CHẾT THẾ CỤ PHAN


Trong phiên xét xử cụ Phan của Hội đồng Đề hình, phòng xử án chật ních những người quan tâm đến vụ án. Lính sen đầm canh gác đều lo lắng ra mặt.

Tòa đọc bản án. Cụ Phan nhiệt liệt biện bác để gỡ tội cho mình. Luật sư hùng hồn cãi lý. Đến lúc viên Biện lý đứng lên buộc tội cụ Phan và đề nghị bản án tử hình, công chúng xôn xao náo động.

Trong khi Tòa chưa quyết, bỗng một người từ trong đám đông len lỏi qua rừng người đến trước vành móng ngựa. Đó là một ông nhà nho nhỏ thó nhưng vẻ mặt rất gân guốc.

Cả tòa kinh ngạc. Lính sen đầm nắm giữ người ấy lại. Với giọng điệu rất cương quyết, người ấy khai tên là Nguyễn Khắc Doanh, tục gọi là Tú Khắc, người Nam Trực, tỉnh Nam Định, nộp đơn xin chết thế cụ Phan.

Người Pháp lại một phen phải sợ cái tinh thần dũng mãnh và lòng yêu nước của người dân Việt quyết hy sinh cho công cuộc giải phóng quốc gia.


CỤ PHAN BỊ NGHI THÂN NHẬT


Khoảng năm 1938, trong thời gian bị an trí ở Huế, một hôm cụ Phan nằm trong đò đậu dưới bóng một cây sung ở Bến Ngự, chợt nghe bọn chèo thuyền qua lại hát bài “Nằm gốc cây sung”:


Ăn sung nằm gốc cây sung,

Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.


Nghe câu hát đúng với hoàn cảnh của mình bấy giờ (nằm gốc cây sung), cụ xúc động làm bài thơ có nhan đề như trên:


Thời thế xui nên giả vợ chồng,

Lấy anh chưa dễ đã nằm chung.

Ừ chơi cho nó toi đồng bạc,

Thiệt chẳng cho ai nếm má hồng.

Cười gượng lắm khi che nửa mặt,

Khóc thầm một nỗi khác hai lòng.

Bao giờ duyên cũ thay duyên mới,

Thỏa thuận cùng nhau tát bể Đông.


Câu cuối mượn ý từ câu tục ngữ “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn".

Thế mà có báo cho rằng cụ có ý thân Nhật, vì đã có lần cụ tổ chức Đông du, đưa học sinh Việt Nam sang Nhật du học.

Trước sự hiểu lầm đó, cụ Phan Khôi đăng một bài cải chính trên báo Dư Luận ngày 1-8-1938. Báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Huế nối lời cụ Phan Khôi vạch rõ sự hiểu lầm tai hại ấy. Thế là dư luận tắt hẳn.


(*) Cụ Phan có hai người con trai là Phan Nghi Huynh và Phan Nghi Đệ cùng làm ruộng ở quê hương Nam Đàn Nghệ An. Hai ông đã mất vào khoảng năm 1946-1947. Con rể là Vương Thúc Oánh.


(Bài này đã đăng trên tạp chí HỒN VIỆT (Tp HCM) số 91 tháng 4 năm 2015)


Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 07.5.2015 .