Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Tranh vẽ ‘Người Nằm Dưới Lòng Đất / The Man who laid out underground’
của Võ Công Liêm




VẤN ĐỀ Của TỰ-THỨC






    T ự-thức tợ như điều không thể dứt bỏ được, khó giải thích và một thứ hoàn toàn độc nhứt và gần như có phần lôi cuốn. Thế nhưng; việc này như tấm màn mỏng che đậy điều gì bí ẩn bên trong và tự-thức có thể nhận ra được như một hiện tượng tâm lý chung. Nói về tự-thức ‘self-conscious’ là có một chút gì tối thiểu ‘nhận biết / knowledge’ trong đó. Nhưng đây không phải là điều hoàn toàn. Tự-thức liên can đến nhận biết không những thuộc trạng thái tâm lý con người, nhưng; nhận thức ở đây là trạng thái tâm linh của con người hết sức đặc biệt –self-consciousness involves knowledge not just of one’s physical state, but knowledge of one’s mental state specifically. Thêm vào đây; tự-thức liên đới đến một dạng thức khác là ‘phát hiện liên tục / continuously updated’ về nhận biết; sự cớ này làm cho họ thích thú trong tiến trình, cập nhật, thích nghi hoàn cảnh qua tri giác của thế giới vô tận. Tuồng như tự-thức là một diễn trình tư tưởng bắt gặp trong hiện thực của nội thức ‘inner reality’ nội thức hiện thực thuộc về trạng thái của những người mang chứng tâm thần, cho nên chi cảm khoái vô tận đó nằm trong thế giới nhận biết của tự-thức.

Phải thừa nhận rằng vấn đề của tự-thức / the problem of self-consciousness là có những dữ kiện tiếp nối trong ý thức nhận biết của từng cá nhân chớ không đơn phương là thuần tính chất; có thể điều này là một vài ý niệm có hệ thống (thuộc tư duy) hoặc có tính chất liệt kê như biến cố của vô thức cứng nhắc (catalepsy) qua những hình trạng khác biệt, tạng thể này gọi là tâm thần bệnh lý (mental-illness). Không riêng gì người mắt chứng này mà kể người bình thường, tự-thức đến trong một đồng hóa dữ kiện, bởi; tấm màn mỏng chấn ngang cho nên thế giới đó nằm trong qui ước của tự-thức. Thí dụ: Thi nhân sống trong tiềm thức của lý trí, phán xét sự việc bằng cảm thức của vô tận. Để rồi chỉ có thể thừa nhận qua sự thẩm xét mà thôi –only then will recognitional judgment be possible. Như trường hợp thi sĩ ngồi mơ màng bên tách cà phê tức cảnh sinh tình thành thơ do từ cảm thức trổi dậy dưới dạng của tiềm thức hơn là trí năng cho nên giòng thơ hiện ra trong gợi nhớ, gợi hình; hoàn cảnh như thế làm cho thi nhân lâm vào tình trạng của vô thức qua cái gọi là ‘continously updated’dữ kiện này đồn trú trong tiềm thức của tâm sinh lý, nhưng; đứng trên phương diện thẩm định thì vẫn hợp lý cho ‘thơ’. Freud cho đây: là giao động giữa tâm thức và não thức, vì; nạn nhân đang sống trong một thế giới ‘cập nhật’ của hai trạng thái phục hồi giữa thực và ảo. Ngược lại; đứng trên ngữ ngôn triết học thì cho đây: ‘tôi phấn khởi vì rứa tôi tồn lại / I’m elate therefore exist’ hoặc lý giải phân tâm hơn ‘tôi nhớ bạn tôi cho nên bạn tôi ‘đang’sống bên tôi’. Thiết nghĩ đó là điều cho một mực độ khác biệt của tự-thức, từ khi đoán ra được sự cớ của phân biệt đối xử một cách khéo léo thuộc về trạng thái tâm thần được cải thiện và luyện khí để gia tăng kinh nghiệm sống; từ đấy có một ý niệm vững chải hơn không cần qua một thừa nhận xác thực, mà là một sự bày tỏ lớn dần trong một tâm tư ngây ngô (sophistication) và đi tới một sự nhận biết sâu xa (comprehensiveness) làm cho sự tiếp thu có một hiệu năng tốt đẹp; không tơi bời hoa lá cành, không rối ren, gò đống ngổn ngang để hướng về một bản ngã tự tại hồn nhiên cho nhận thức tự nhiên hơn… Một gợi ý xa hơn thực tế về tự-thức có thể do từ những suy tư khác biệt mà biến đổi không hợp nhau từ người này đến người khác tùy vào lối đối xử và ý niệm nhận thức, hầu như đã chế ngự hoàn toàn. Trong những điều đáng kể; nội thức con người là của chính nó, hiện ra một cách đơn giản đến từ nhận thức tri giác của thế giới vô cực. Sự cớ đó có từ bên trong của nội thức hoặc bên ngoài của ngoại thức, là; do từ bản chất sinh ra để trở thành bản tính cố hữu.

Rút lại; tự-thức là đứng trên lăng kính nhận biết, là một chỉ định cho một tri giác: tự-giác / self-perception. Cả hai tự-thức và tự-giác là nhắm vào bản chất nội tại hơn là bản chất ngoại tại. –it is just directed internally rather than externally.Tuy nhiên; tự-thức có mực độ của nó hoặc mực độ của sáng suốt là điều mong muốn được bày tỏ trong cái dạng ‘hư vô chủ nghiã / nihilism / nothingness’ của sáng tạo sự thật. Đưa cái dạng thức này vào đây là mê cung, huyền bí của tự-thức? Không! đó là cái nhìn cục bộ, liên kết vào nhau với một cái nhìn thần thông biến hóa của diễn trình tư tưởng –this view coheres with an evolution view. Ước chừng như con người đã có cái gọi là ‘đấu tranh tư tưởng’ để hướng tới tự-thức trong hai phạm trù:

-một trong dạng não thức thuộc tâm lý (neurophysiological) cho một diễn biến nội tâm.

-dạng khác thuộc về tiến hóa xã hội là ý niệm một mô thức khám phá sự phân biệt đối xử trong cái gọi là khả năng của điều giải thích được và những gì dự đoán ngoài khả năng như lời phán quyết.

Đây là vị trí phi thường mà phải nhận biết một cách thận trọng cho nhiều lý do khác biệt. Thứ nhất: đó là một phần hay nhiều phần trong bản chất cũ và ảnh hưởng tới nguyên lý của hiểu biết, phổ quát như một thứ qui ước thực nghiệm. Thứ hai: xác nhận những gì về sự nhận biết của con người thuộc về cảm thức là thứ cảm thức tối cần mà coi như hợp lý. Nhưng phải hiểu cho rằng người ta nhận thức được nó là ở cái chỗ ‘không môi giới / unmediated’ có nghĩa là tự khởi. Thứ ba: người ta đề xuất về viễn ảnh này là đặt ra sự cớ cho thêm phần ấn tượng của mỹ ngữ. Cả ba phương diện trên là những câu hỏi đưa ra cho một cái nhìn tự-thức; tự-thức của con người hay tự-thức nhận biết; cả hai khía cạnh này vẫn chưa lãnh hội trọn vẹn của mỗi chức năng. Tự-thức một phần nằm trong não bộ mà ra. Sau những gì xẩy ra; não thức là một chọn lọc bởi vì não là một thu nhận, xem xét, gợi ý (conferred) cho một khả năng sinh sôi có lợi ích vào từng cá tính riêng tư, chính sự cớ đó như một chiếm cứ và đưa dẫn tới những dữ kiện khác nhau để nhận ra sự vật; nhận ra cái ăn được và không ăn được, nhận ra an toàn từ chỗ nguy hiểm và đồng giống hoặc khác giống, phân biệt được con đực, con cái…Tóm tắt lại thì não cho ta nhận biết và kiểm soát được cái thế giới bên ngoài đó. Não bộ có lợi ích khác cho việc ‘định hình’ tự nhiên mà chính xác, bởi; đó là điểm nổi bật của não thức. Hiển nhiên; điều gì biết trước và tốt nhất là không qua sự cớ mà qua nhận thức, nhưng; môi trường đó nằm trong dạng mà được gọi là tồn lại (survive) tồn lưu (existence) để tiến tới tồn tồn nhân thế (existentialist). Cái sự ta-bà-thế-giới này là khả năng nhận biết có thể hình thành trong trí để lựa ra như một tình cờ, ngẫu nhiên song hành trong cùng một khả năng hiểu biết chung và sẽ là một chọn lọc đặc biệt nếu sự cố xẩy ra để nới rộng một trong những khả năng của não bộ, để có một sự hiểu biết độc lập bên ngoài sự kiện –The capacity for self-knowledge could conceivably be selected for as the incidental concomitant of the capacity for knowledge generally and it might be selected for specifically if it happened to enhance in the some way the brain’s capacity of external knowledge. Dù có gì đi nữa hay trong cùng một trường hợp thì điều đó có lợi về sau; tăng trưởng thêm sự nhận biết và kiểm soát được những gì bên ngoài sự kiện. Và; chính ở trường hợp này thời không còn có lý do gì gọi là mô phỏng hay dự tưởng cho tự-thức. Có thể là một cơ bản khác biệt từ một tri giác ở cõi ngoài, và; cũng không một lý do gọi chung là dự tưởng mà sự cớ có từ tự-giác (self-perception) mà ra, thì điều này không thể nhầm lẫn được.Nhưng có thể là phương cách đưa tới cái gọi là sai lầm, nhầm lẫn; ngay cả không biết gì về điều này.

Thời có lẽ điều này chúng ta hoàn toàn không nhận thức về những gì đã nói đến một cách rõ ràng, bởi; chúng ta hiểu nó, nhận ra nó chỉ một phần nào trong tấm màn mỏng, sự ẩn núp đó là cơ chế cấu trúc tự động hóa của tư duy về nội quan (mechanisms of introspection) mà ra, cho nên chi vấn đề tự-thức vô hình chung biến thành mỹ ngữ của tu từ học, tuy nhiên việc này có an tâm chăng nữa cũng chỉ đứng một góc cạnh nào đó thôi, huống là chúng ta không nêu rõ vấn đề. Nhưng; trong dữ kiện tâm sinh lý đã ứng dụng vào tự-thức của nội quan và ngoại quan với một cố gắng nhỏ, có thể là những gì xuất hiện trước sau của sự việc mà chúng ta có thể bắt gặp một đôi khi. Suy nghĩ về sự cớ cho là sai lầm nhận định thời giờ đây thẩm định sự phân biệt qua từng cá tính giữa xuất hiện sự kiện và hiện thực sự kiện thời cả hai ngã qụi trong trường hợp của cảm thức từ khi có sự hiểu biết ở chúng ta; là những gì không tức thời bởi mỗi sự cớ có thể là vì mô tả sai vấn đề. Do đó; từ những dữ kiện khác đều phải thẩm định lại, ít ra trong nhiệm vụ này rơi vào tình huống bất dụng, có thể do trường hợp thẩm định vấp phải. Nhầm lẫn của thể thức này là dạng thức được gọi là ‘hiệu năng triển vọng / expectation effects’ và sự cớ đó là hiện tượng chuẩn mực cho tri giác tổng quát. Thực tế của hiệu năng triển vọng cung cấp cho chúng ta một công thức đưa ra như một nhận định, đánh giá cảm thức của từng cá tính mà gần như không giống nhau; dù có hay không có những gì thuộc ngoại quan hay trong trạng thái nội quan. Dữ kiện này nằm trong vùng của tri giác tức xuyên động vào não thức để có một trí-tuệ-mù-tăm hoặc một trí-tuệ-sáng-suốt.Thí dụ: Tâm thức của người nghệ sĩ cũng như tâm thức người mộng du có những khi trùng hợp nhau; nghệ sĩ đi từ nội quan ra ngoại quan là cảm thức khơi dậy từ não bộ để hoàn thành chức năng của sáng tạo giữa tâm thức và tri thức có khi vượt xa hơn cả tư duy. Nhiều nghệ sĩ phát điên không phải mất trí mà cảm thức đi ra khỏi ý thức bình thường; nhưng lại sống trong thực tại bình thường (chẳng hạn như giọng điệu của thơ, văn trở nên siêu tưởng, vô nghĩa không hợp lý do từ tâm thức hỗn loạn xâm nhập vào trí năng để rồi biến thể vào đó mà không hay, đôi khi người nghệ sĩ cần có dược tố cường toan để hòa điệu vào trí năng sống thực). Người mộng du sống dậy trong tiềm thức, kích động vào não bộ hành động làm cho con người ‘mê hoặc’, đông cứng dưới dạng vô thức, chuyển động không phải trí năng mà chuyển động do từ tiềm thức thúc đẩy. Hành động của hai sự kiện là tự thức (self-consciousness) và vô-tự-tức (self-unconsciuosness). Đấy là sự cớ có thể là hiện thực có thể là do dự tưởng như đã nói ở trên.Thành ra loạn thần là một ‘đánh thức’ để trở về hiện thực và mặt khác ‘mê hoặc’ là để sống thực bằng mộng thực. Tất thảy nãy sinh do từ tự-thức mà ra. Ngay cả những trường hợp bình thường; cái sự tự phát, tự khởi, cô đơn biệt lập và lẫn lộn, lãng quên do từ trí nhớ; có phải đó là thực tế sự việc? Rứa thì làm răng để bảo vệ cho những ai bị chứng đó có một cái nhìn thông suốt? Ngoài ra cũng có những trường hợp tợ như nhau đều được để tâm tới. Thí dụ: cho một giả thiết; khi bạn đang mơ thì bỗng dưng sinh ra đau đầu hoặc lúc đó bạn đang bị cơn đau hành hạ tinh thần thể xác. Hay trong giấc mơ đưa tới thảm họa của sự đau đớn? Thì lúc ấy chính mình đột nhiên thức tỉnh. Như vậy sự lý này không thể điều độ mà bắt đầu tìm kiếm giải pháp có thể coi là hợp lý cho vấn đề của tự-thức hay vấn đề khoa luận học cho tâm sinh lý (the epistemological problem) nhưng nó cũng không phải là điều đáng tin cậy mà như có một trạng thái khác của tâm bệnh gần giống như tin tưởng, ham muốn và cảm xúc là những điều thường xẩy ra, là những gì tỏ ra cho một xúc cảm ở cõi ngoài. Tại sao sự cớ đó là không thể sai lầm mà lại đồn trú trong cảm thức; mà lại vừa cảm xúc vừa ham muốn? Dạ thưa; cái sự nhận biết của những gì sau cùng tuồng như không có ở đó một trung gian hòa giải ‘mediated’ sự lý hơn là nhận biết thông thường. Dẫu có lý giải cạn cùng chăng nữa, tự-thức ở nơi chính nó của con người. Tuy nhiên; thẩm định về nội quan là không thể nào sửa chửa được nó. Không những chỉ sai trái một đôi khi chăng nữa, và; lần lược tất cả sẽ là thứ méo mó, ngọng ngẹo chơi cho vui mà thôi. –Therefore ;our introspective judgments are not incorrigible. Not only might they be wrong occasionally, and; one by one they might all be cockeyed! Rứa thì tự-thức là cái chi chi? Nó ở trong ta chớ ở đâu ‘cóc-cờ-ai’! Một cái gì thâm cung bí sử nằm sau bức trướng của tồn lưu, tồn lại, tồn tồn nhân thế. Đó là tự-thức của nhận biết.

Vì vậy; tự-thức vượt qua trí năng là ở chỗ lấy trung gian làm đối tượng mà quên đi hiện hữu của bản thể. Lý do nội thức đã phóng ngoại bằng một dự tưởng của ngoại thức; trạng huống này gần như bệnh lý, một căn bệnh ‘hết thuốc chửa’ bởi duy trì một tự-thức chủ quan hơn là khách quan; tầm nhìn vượt giới hạn của tri thức, đưa quá khứ vào hiện tại để sống thực với hiện thể nhân vật; chứng này tàn tích trong một tiềm thức ‘hóa trị’ nghĩa là nhiễm thể trong não bộ như một lý lẽ vững chắc. Có thể tự-thức đông cứng để vô-tự-thức xâm lược giữa hoàn cảnh mô giới nói về mình.Thí dụ: Nhà thơ hoài niệm là dấu hiệu của tiềm ẩn, trung gian giữa nội thức và ngoại thức làm cho trí tuệ mất lập trường xác định.Thi sĩ mơ cái mơ ngoài dự phóng vì nghĩ rằng mình đang sống thực với nhân vật. Dù nhân vật đã chết từ lâu nhưng não thức cứ đánh động để làm chứng nhân cho một dấu tích, để rồi tức cảnh thành thơ, vẽ hình, vẽ ảnh như một thần phục…Tệ đoan này chính là tệ đoan của vô thức (như giải thích ở trên) khó hóa giải. Sự vụ này cũng do nguyên nhân là ‘cóc-cần-ai’ cho nên lâm và tình trạng bế tắc tư tưởng chỉ còn lại một hoài niệm vô cớ, sinh ra lập ngôn năm này qua tháng nọ mà vẫn không thấy mình trong đó. Không chừng nguyên lý nầy là bệnh chứng của tư duy mà ra. Rứa thì làm răng? Phải về với tự-thức trong một giác-thức nhận biết để có một trí tuệ sáng suốt. Còn bằng không vấn đề tự-thức không giải quyết thỏa đáng mà nằm trong vòng luẩn quẩn của người ‘mộng du tư tưởng’. Freud cho đây là dạng thức bệnh lý tâm thần làm suy thoái cả xác lẫn hồn. Suy thoái của đặc tính đồng nhất hóa và nói trắng ra là đưa tên tuổi mình vào như cùng một đặc tính, để rồi có thể coi như tất cả là thuần khiết tự nhiên –failures of identification and outright misidentifications would then be wholly natural. Cho dù trong một trường hợp bình thường đi nữa, nếu hoài niệm cứ vẫn còn loanh quanh, còn méo mó, ngọng nghẹo thì chắc chắn không tồn tồn nhân thế. Triệt thoái một tư duy lũng đoạn còn tồn lại. Chính yếu tố đó làm băng hoại tư tưởng; dù là tự-thức hay vô-tự-thức. Sự cớ này thường bắt gặp ở nghệ nhân. Họ đi tìm cái không bao giờ gặp của mộng ảo. Nguy hiểm!


Tri giác nhận biết là lý thuyết của vận hành trí tuệ (The theory-ladenness of all perception) là một tư duy quái lạ cho một trạng thái tâm thần thuộc về lý thuyết. Stephen Hawking (giáo sư của lý thuyết vật lý tương xứng và hấp lực) là trường hợp cho những gì thuộc lý thuyết, bởi; trong mọi dữ kiện của người mắt chứng tâm thần có cái nhìn lý thuyết hiện thực, có thể gia giảm tùy theo những phản ảnh khác nhau.. Tất cả trí năng của tri giác là thẩm xét sự kiện, không chỉ dành cho nội quan thuộc thuyết vận hành, chuyển tải đến trí năng: tất thảy tri giác là vai trò lý giải đặc biệt cho trí tuệ; có nhiều mới mẻ phát hiện qua quan điểm của kinh nghiệm. Để phù hợp cho cái nhìn tổng quát về tự-thức: là trí tuệ và não thức là một tác động mãnh liệt. Thế giới của giác thức là bao la, rộng lớn nằm trong một ‘môi trường’ hợp thể nhận biết (tâm lý cho trẻ mới sơ sinh), nhưng; trí tuệ và não thức được xếp đặt tức thì trong thể thức của ý niệm, một bộ khung cho giác thức và tri thức là những gì đưa tới hiểu biết, lý giải và xử lý hoàn cảnh.Vậy cho nên bằng cách này hay thế khác là một thứ bảo đảm cho một nối tiếp của ý niệm sáng tạo, giảm căn thẳng và cuối cùng đưa tới một cải cách cho những gì chấp thuận về ý niệm cảm thức nơi chúng ta. Cuộc sống mở rộng qua sự tìm thấy chính nó ở trí tuệ và não thức cho mỗi khi bế tắc hoặc cho một hợp thể nhận biết. Sự lý này phải sắp xếp để tìm thấy cấu trúc và tác động trong trạng thái thuộc nội thức hoặc ít ra tìm thấy được tác động của thế giới bên ngoài của ngoại thức.Với lúc này; điều chúng ta học ở đó về những gì nhận biết từ giác thức là để tìm thấy được tự-thức trong vô-tự-thức và ngược lại với một ý niệm mở mang và biết đối xử hoàn cảnh thích nghi, thời mới song hành qua sự tiến trình hiểu biết từ thế giới bên ngoài.

Cái nhìn truyền thống; tuồng như điều này có thể là một nhầm lẫn giản đơn thường tình xảy ra giữa đời ./.


(ca.ab.yyc. 30/4/2015).


SÁCH ĐỌC: ‘Readings in Philosophy of Psychology’ by Nagel, Thomas.(Cambridge Ma. Harvard University Press.1980).


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Calgary Canada ngày 07.5.2015.