Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





XUẤT GIA và TẠI GIA






S au khi gởi bài phản biện của tôi cho đề tài “TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT NGUYÊN CHẤT ĐỂ PHỤNG SỰ NHÂN SINH”, tôi đã nhận được mail của H.T. Thích Nhật Từ trả lời chung cho chư tôn đức, Phật Tử, Tăng, Ni… rằng bài viết đó không phải là của H.T. mà là của Lotus Production. Đồng thời kèm theo nguyên văn bài trả lời vấn đáp trong Mùa An Cư tại Tịnh Xá Trung Tâm ngày 27/5/2014. Trong đó ngoài đề cập một số vấn đề, có chiếu Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA nói về Bồ Tát và cũng khẳng định một số điều.

Lời của một H.T. tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học ở nước ngoài hẳn sẽ là “khuôn vàng thước ngọc” cho Tăng, Ni, Phật Tử. Nhưng theo tôi trong đó có một số vấn đề cần xem lại, vì theo hiểu biết của tôi khi đối chiếu với Kinh Đại Thừa thì không khế hợp. Do vậy, tôi cũng xin được nêu ra nhận định của mình, không nhằm mục đích tranh cãi, chỉ để rộng đường dư luận. Vì chưa cần nói đến việc tu hành, cái hiểu đúng Đạo Phật là rất là quan trọng, cần thiết, vì là một bước ngoặc lớn, có thể thay đổi cả suy nghĩ, nhận thức của người Phật Tử mà nhiều người, do không tự tìm hiểu, nên hoang mang không biết sẽ phải tu như thế nào? Kết quả về đâu? Trong khi đó, mỗi Thừa đều nói mình mới hành đúng Chánh Pháp, thực hiện đúng lời Phật dạy, nhưng mỗi bên đều có cách hiểu, cách hành khác nhau.

H.T. khẳng định: “Người tu tại gia chỉ có thể trở thành chân nhân, chỉ có người Xuất Gia là có thể thành thánh, vì hai con đường hoàn toàn khác nhau. Cho rằng quan niệm cả hai bên cùng tu một kiểu, đọc cùng một nghi thức, thực tập chung một con đường đều được giải thoát như nhau là không đúng”. Nhưng lý do vì sao không đúng? Điều đó được nói rõ nơi Kinh nào thì không thấy nêu lên? Vì thế, tôi tin rằng đã đến lúc người muốn tu Phật cần hiểu rõ để biết con đường mình chọn lựa có khế hợp với lời Phật dạy hay không? Muốn tu Phật mà không đủ điều kiện để Xuất Gia thì có được kết quả như đi tu ở Chùa hay không? Kinh nói về những điều này ra sao?

Theo tôi, trước khi nêu ra nhận định về con đường tu Phật, chúng ta cần biết thế nào là MỤC ĐÍCH thật sự của Đạo Phật, cũng như nắm sơ tiến trình tu hành, giáo hóa của Vị sáng lập thì mới có cơ sở vững chắc để lấy đó làm thước đo mọi đánh giá đúng, sai về sau. Bởi vì Đạo Phật cho đến nay đã bị chia chẻ ra thành rất nhiều Tông, Phái. Mỗi nhóm đều xuất phát từ Đạo Phật, nhưng đã bị cải biên, thêm thắt ít nhiều đến nỗi hiện tại các vị có trách nhiệm hướng dẫn cũng kêu gọi “TRỞ VỀ ĐẠO PHẬT NGUYÊN CHẤT”. Thế nhưng, từ Nguyên Chất đó có khi cũng trở thành một đề tài để tranh luận tiếp, vì hình như từ đó không phải để nói đến Đạo Phật từ ban đầu do Đức Thích Ca thành lập, mà lại muốn nói về Đạo Phật Nguyên Thủy, xuất hiện sau Phật Nhập diệt khoảng 100 năm. Do đó, lại cần xác định thêm về điều này, để người Phật Tử có thêm sự hiểu biết để chọn lựa, vì Thừa nào cũng lấy Giáo Pháp của Phật để tu hành, nhưng phần lý giải, thực hành, kết quả tu hành lại không giống nhau.

Không biết phía PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY có nhìn nhận việc TRUYỀN Y BÁT là việc hết sức quan trọng trong Đạo Phật theo lời dặn dò trước lúc nhập diệt của Đức Thích Ca hay không? Bởi vì việc Truyền Y Bát đó có liên quan tới việc Chứng Đắc của Đạo Phật. Nếu có nhìn nhận thì tại sao chỉ chấp nhận Tổ Ca Diếp và Tổ Thứ 2 là Ngài A Nan rồi ngưng ở đó? Trong khi Ngài A Nan vẫn tiếp tục truyền cho Tổ Thứ Ba, rồi tiếp theo, mãi cho đến đời Lục Tổ Huệ Năng là Tổ Thứ 33 mới kết thúc?

Những người không chấp nhận việc Truyền Y Bát thì như vậy có được xem là coi trọng Di Ngôn của Đức Thích Ca hay không? Nếu cố tình loại bỏ việc Truyền Y Bát của Đức Thích Ca, thì việc tự cho là mình mới giữ đúng truyền thống của Đạo Phật, là “Đạo Phật nguyên chất”, là “Bảo Thủ” e rằng cần xét lại, vì lịch sử Truyền Y Bát của Đạo Phật vẫn tiếp tục trong khi nhóm mình tách ra, đứng riêng, phát triển song song. Phía Phật Giáo Nguyên Thủy thì vẫn cho rằng việc nhóm các vị Đại Chúng Bộ tách ra là vì các vị đã đòi cải tiến một số Giáo Pháp, nhưng các Trưởng Lão Bảo Thủ không chấp nhận, nên từ đó Tăng Đoàn chia thành hai khối. Trong khi đó, đọc trong lịch sử Truyền Thừa của 33 Vị Tổ thì thấy rằng sự thật không phải như thế, mà theo tôi, đó là do Tổ Thứ 3 Truyền Y Bát cho Tổ Thứ 4, Ngài Ưu Ba Cúc Đa là một thanh niên mới có 20 tuổi và chỉ mới gia nhập Tăng Đoàn có 3 năm nên các vị Trưởng Lão không chấp nhận nên đã tách ra, vì các vị không biết rằng theo Di Ngôn của Phật thì Y Bát chỉ trao cho người đã Thấy Tánh, không luận tu lâu hay mới, già hay trẻ, đã Quy Y hay chưa.

Mấy trăm năm sau, lịch sử một lần nữa lại tái diễn: Do Ngũ Tổ đã Truyền Y Bát cho Lục Tổ Huệ Năng là một chàng thanh niên nghèo khổ, dốt nát, chưa thế phát, Quy Y, mới vô Chùa có 8 tháng, chưa được lên Chánh Điện để lễ Phật, nghe Pháp, chỉ biết chẻ củi, giã gạo sau Chùa, làm cho tất cả Sư Tăng trong Chùa không chấp nhận được. Họ chỉ chấp nhận Giáo Thọ là Sư Thần Tú! Sự tranh chấp kéo dài đến sau khi Lục Tổ nhập diệt cũng chưa dứt. Điều này ai có đọc PHÁP BẢO ĐÀN KINH sẽ thấy ghi trong đó, và tôi tin rằng những ai có nghiên cứu lịch sử phát triển Đạo Phật cũng như đọc kỹ Giáo Pháp sẽ có đánh giá một cách công tâm hơn.

Nhưng dù chấp nhận Đại Thừa hay không, nói đến Đại Thừa thì lịch sử phát triển của Đạo Phật đã chứng minh cho thấy: Đó là những người vẫn gìn giữ đúng Di Ngôn của Đức Thích Ca, tiếp tục truyền Y Bát xuống cho tới Lục Tổ Huệ Năng, và dù chấp nhận các TỔ Trung Quốc hay không, thì chúng ta vẫn phải ghi nhận là nhờ có các vị mà rất nhiều Kinh điển Đại Thừa được truyền bá và được quý Hòa Thượng nhiều đời nối nhau để dịch ra tiếng Việt. Vì thế từ rất nhiều năm rồi, những người muốn tu học, muốn tìm hiểu Đạo Phật, muốn nghiên cứu đều không phải bỏ công sức, thì giờ đi học tiếng Tàu mới có thể đọc được Kinh Phật theo Đại Thừa, và tiếng Pali nếu muốn tìm hiểu Kinh của Phật Giáo Nguyên Thủy. Đó là một việc làm vô cùng ích lợi mà chúng ta không thể quên ân.

Theo những gì tôi đọc được, thì dù Kinh Đại Thừa có khá nhiều, được viết bởi nhiều Tổ được Truyền Y Bát, cách nhau nhiều thế kỷ, nhưng thời trước hay thời sau, đều cùng giải thích công việc tu hành cũng như kết quả giống nhau. Sở dĩ được như vậy, theo tôi, là nhờ ở việc TRUYỀN Y BÁT, tức là mỗi đời có một vị đã Chứng Đắc, đó là Tổ, thay Phật, để cầm nắm và truyền bá Chánh Pháp như một đường truyền không bị gián đoạn bởi không gian, thời gian, nên những gì các vị đó nói đều không mâu thuẫn với nhau, và lời của các vị Tổ phải được xem là lời của Phật.

Những gì các Tổ viết trong Kinh, dù diễn tả cách này, cách khác. Dù nói về Chư Bồ Tát, Phật ở cõi nọ, cõi kia, nhưng đó chỉ là phương tiện, vì cuối cùng cũng chỉ hướng dẫn người tu nhắm vào THÂN, TÂM mà hành trì. Vì thế, tu theo Đại Thừa được gọi là TU TÂM, hình tướng không quan trọng, vì hình tướng đầy đủ mà không sửa chữa, không loại bỏ những cái nhơ, đục, chấp nhất nơi Tâm thì không ích lợi gì. Người đời cũng cho rằng: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”, thực tế cũng đã chứng minh: không ai chấp nhận một người đầy đủ hình tướng, giữ đúng Tứ oai nghi, mà cái Tâm vẫn còn buông lung. Cạo tóc mà không chịu cạo sạch phiền não, và Đắp Y mà không phủ lên Thân, Tâm một màu thanh tịnh của Đạo Giải Thoát như lời dạy trong Kinh Đại Bát Niết Bàn.

Ai cũng đã biết nguyên nhân Phát Tâm Xuất Gia của Thái Tử Sĩ Đạt Ta là do cảnh KHỔ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử của kiếp người. Những cảnh Khổ này không phải chỉ diễn ra trong một kiếp, mà do Nhân Quả, nên xoay vòng, hết kiếp này đến kiếp khác gọi là Sinh Tử Luân Hồi. Mục đích của Đạo Phật là để kết thúc vòng Sinh Tử Luân Hồi đó, được ghi rõ trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA, Phẩm Thí Dụ: “Ta thấy các chúng sanh bị những sự Sanh, Già, Bệnh, Chết, lo buồn, khổ não nó đốt cháy. Cũng vì năm món dục, tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ. Bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay, chẳng biết, chẳng kinh, chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm, không cầu giải thoát, ở trong nhà lửa Tam Giới này đông tây rảo chạy, dầu bị Khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo”. Đó là nguyên do Đạo Phật có mặt ở trần gian. Vì thế, Đạo Phật cũng được gọi là Đạo ĐỘ KHỔ.

Không biết người phía PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY sắp xếp trình tự tu hành và lý giải các pháp thế nào. Riêng con đường Tu Phật theo ĐẠI THỪA mà tôi đã bỏ khá nhiều năm để đúc kết lại cho mình, đối chiếu với những gì được Kinh mô tả về công việc TU TÂM, ĐỘ SINH, THÀNH PHẬT theo như Đại Thừa hướng dẫn, trước, sau không bị mâu thuẫn với nhau, xin được trình bày sau đây:

Muốn tu theo Đạo Phật thì phải biết mục đích của Đạo Phật là Độ Khổ. Muốn Thoát KHỔ thì không phải cầu xin Phật Độ cho, mà phải biết nguyên do, và cách thức để TRỪ.

Kinh LĂNG NGHIÊM viết: “Như quốc vương bị giặc đến vây thành, mang quân đi dẹp trừ. Nếu không biết giặc trú ngụ ở đâu thì không bao giờ dẹp được”. Những tôn giáo khác thì có Thượng Đế, Thần Linh để nương tựa. Đạo Phật thì dạy là phải nương tựa nơi chính bản thân mình. Theo Đạo Phật thì CÁI KHỔ đó do con người CHẤP LẤY CÁI THÂN TỨ ĐẠI GIẢ HỢP LÀ MÌNH, gọi tắt là CHẤP NGÃ. Do CHẤP NGÃ mà chấp luôn những gì xảy đến với nó gọi là CHẤP PHÁP. Muốn TRỪ KHỔ thì phải Trừ hai cái CHẤP ĐÓ. Nhưng thủ phạm của cái CHẤP đó Đại Thừa gọi là TÂM. Vì thế, tu PHẬT theo Đại Thừa là phải TU TÂM. Con đường Tu Tâm theo Đại Thừa cũng gọi là ĐỐN GIÁO. Mỗi người phải tự làm lấy nên gọi là TỰ ĐỘ.

Tổ Đạt Ma dạy: “Tu Phật là Tu Tâm”, “Tức Tâm tức Phật”, “Muốn tìm Phật thà tìm Tâm”. Tất cả những gì diễn tả sau đó, dù là Chúng Sinh, Bồ Tát, Phật, Niết Bàn hay Phật Quốc cũng để nói về tình trạng nơi Cõi Tâm.

Khi “Nội quang phản chiếu”, mỗi người sẽ thấy trong tâm có đầy đủ cảnh mà kinh mô tả. Và PHẬT mà Đại Thừa nói đến, không phải là thần linh hay là một vị Phật có thể cứu khổ Tam Thiên Đại thiên thế giới bên ngoài, mà là nói về tình trạng Thanh Tịnh trong Tâm, khi thanh lọc hết những tư tưởng đen tối, xấu xa gọi là BA ĐỘC. Cái Ba Độc tức là THAM, SÂN và SI, lúc nào cũng “trùng trùng duyên khởi”, được Phật gọi là CHÚNG SINH, nên Đức Thích Ca gọi đó là Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới. Người tu phải “Độ” cho hết Chúng Sinh đó, thì mới được Giải Thoát hay là Thành Phật.

Hiểu được từ PHẬT, Chúng Sinh, thì cũng hiểu được công dụng của BỒ TÁT. Đó chỉ là những ý thức đã thanh tịnh, nhưng không ngưng nghỉ, mà làm công việc tác động để dẫn dắt những ý thức còn mê muội, cho chúng nó bỏ đi khuynh hướng xấu. Việc tác động, nhắc nhở đó gọi là BỒ TÁT. Hành vi chuyển hóa được một tư tưởng xấu gọi là “Độ được một Chúng Sinh thành Phật”, cũng gọi là Cúng Dường một vị Phật”. Cho nên một đời tu hành, người tu sẽ Cúng Dường vô lượng vô số ức Đức Phật” hay là “Độ” được vô lượng vô số chúng sinh” . Nhưng, như lời Kinh Kim Cang: “Ta đã diệt độ vô lượng vô số chúng sinh, nhưng thật ra không có chúng sinh nào bị diệt độ cả”, vì Chúng Sinh đó chỉ là những ý tưởng của người tu Phật mà thôi, không phải là bà con giòng họ của người tu hay là những chúng sinh, thế giới bên ngoài. Bởi trên thật tế, ngay cả Phật còn không “Độ” được con cho là La Hầu La, và Ngài đã thành Phật từ mấy ngàn năm mà chúng ta vẫn còn nguyên đây, đâu có bị diệt độ? Chứng tỏ chúng ta cũng không phải là Chúng Sinh của Ngài.

Đa phần tội ác khởi đầu do THAM, SÂN và SI. Ba thứ này gọi là BA ĐỘC, trú ngụ ở trong Tâm, nên việc tu sửa cũng diễn ra trong Nội Tâm của người tu, và tùy theo công việc đảm nhiệm mà Phật đặt cho những danh xưng: Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Đại Huệ Bồ Tát vv… Quán Thế Âm Bồ Tát là sự lắng nghe âm thanh khởi lên trong tư tưởng của chính mình để kịp thời hướng dẫn. Nếu chịu khó suy nghĩ, chúng ta thấy: Phải chăng trong ta, mỗi lúc đối pháp đều có những tư tưởng khởi lên? Khi gặp một tình huống xấu thì đầu tiên là tư tưởng đối kháng hiện đến. Cứ muốn có hành động gì đó để đáp trả. Nhẹ là la mắng. Nặng là tấn công, gây thiệt hại cho đối phương. Lúc đó, nếu kịp suy nghĩ thì có lẽ ta sẽ giảm cường độ. Cái suy nghĩ để bớt đi phản ứng để hóa giải một tình huống xấu, lẽ ra phải nặng nề, cho nó được nhẹ đi, hoặc “bình thường hóa” trở lại, Phật gọi đó là BỒ TÁT. Khi cõi Tâm đã được thanh lọc, Chúng Sinh không còn Khởi nữa thì gọi là một Phật Quốc được thành lập.

TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC được mô tả bằng Bảy Báu: Vàng, bạc, pha lê, xà cừ, mã não. Dây vàng giăng khắp. Ao nước chứa Tám Công Đức vv… Người không hiểu thì cứ nghĩ rằng cõi đó có thật, và ở Phương Tây nên ngày đêm tụng kinh, niệm Phật để mong về đó. Không biết rằng A Di Đà để nói về sự sáng suốt, không còn ngăn che, tức là cái Tâm đã thanh tịnh, trong sạch. Gọi Cõi này chứa đầy BẢY BÁU là vì mỗi người đều có BA Nghiệp của THÂN là THAM, SÂN và SI. BỐN Nghiệp của KHẨU là Nói láo, nói lưỡi đôi chiều, nói để khen mình, chê người. “Ao nước chứa Tám công đức” là nói về kết quả của việc thực hành theo BÁT CHÁNH ĐẠO.

BA NGHIỆP của THÂN và BỐN NGHIỆP CỦA KHẤU, cộng là thành Bảy. BẢY thứ này mỗi người chúng ta ôm giữ từ vô lượng kiếp không chịu rời bỏ không khác nào người ôm giữ của báu. Vì thế, XẢ đi một món thì Phật gọi là BỐ THÍ MỘT MÓN BÁU. Xả hết 7 Nghiệp nơi Thân và Tâm gọi là BỐ THÍ BẢY BÁU, cũng gọi là “Cứu độ cho Bảy đời quyến thuộc”. Vì quyến thuộc bên ngoài mỗi người tạo Nghiệp riêng cho mình, sau khi bỏ thân xác thì ai nấy theo Nghiệp của mình. Chỉ có 7 Nghiệp của Thân và Khẩu của mỗi người sẽ theo nhau hết kiếp này sang kiếp khác. Vì thế, đó mới thật sự là quyến thuộc của mỗi người.

CÚNG DƯỜNG PHẬT, là XẢ những thứ chấp nhất, xấu xa trong THÂN, TÂM... để được Giải Thoát. Đó cũng là ý nghĩa “Nàng LONG NỮ dâng cho Phật Viên Châu có giá trị bằng cõi Tam Thiên Đại Thiên, Phật nhận và nàng lập tức Thành Phật” trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA. Viên Châu có giá trị bằng cõi tam thiên đại thiên tức là cái Vọng Tâm chứa đầy THAM, SÂN và SI, nên Long Nữ Xả hết thì liền được giải thoát. Thế nhưng nhiều người đã Y KINH GIẢI NGHĨA, cho rằng Kinh viết muốn Thành Phật chỉ việc Cúng nhiều vàng bạc, châu báu, cung điện, nhà cửa… cho Phật, để trở thành báng Phật, nhạo Pháp!

Rộng sắm đồ Cúng Dường. Bố thí thành quách, lâu đài, kiệu cán, xe cộ, vợ, con, tài sản, cung điện, chuỗi Anh Lạc có giá trị trăm ngàn lạng vàng… cũng trong ý nghĩa XẢ hết những thứ mỗi người ôm giữ, chấp nhất trong Tâm từ vô lượng đời qua.


(Tháng 3/2015)

(Còn tiếp)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 06.5.2015.