Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh của nữ hoạ sĩ Ngọc Mai (SàiGòn)




THÚY KIỀU – THÚY VÂN – KIM TRỌNG :

MỖI NGƯỜI MỘT VẺ MƯỜI PHÂN VẸN MƯỜI…





V ương Thúy Kiều  ( ?-1556), người  Lâm Truy,   Sơn Đông  (nay là  Lâm Truy,   Truy Bác,   Sơn Đông).

Do phải trả nợ cho cha mẹ nên Kiều phải vào kĩ viện tại Lâm Truy, là danh kĩ  Tần Hoài, sau gặp  Từ Hải, khi đó là một tướng cướp trên biển, và trở thành vợ của ông này. Sau này nghe lời  Hồ Tông Hiến  khuyên Từ Hải quy hàng  nhà Minh  vào năm  1556 . Sau khi quy hàng, Từ Hải bị  Trần Đông  bức bách, phải nhảy xuống nước tự tử. Vương Thúy Kiều bị quan binh nhà Minh giải về, đến sông Tiền Đường  đã nhảy xuống nước tự tử.

Một tác phẩm của Nguyễn Du có tên gọi là "truyện Kiều" Gồm 3254 câu thơ lục bát miêu tả cuộc đời éo le của nàng theo trí tưởng tượng của Nguyễn Du về nàng Kiều và những tai ương mà Kiều gặp phải do vẻ đẹp và tài năng của nàng mang lại.

Thuý Kiều sinh ra trong một gia đình "thường thường bậc trung" nhưng đó là gia đình gia giáo hạnh phúc. Kiều là chị cả, hai em là  Thúy Vân    Vương Quan.

Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân

Mai cốt cách tuyết tinh thần

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da

Kiều càng sắc sảo mặn mà

So bề tài sắc lại là phần hơn…

Là một cô gái liễu yếu đào tơ nhưng phải chịu vùi dập. Tú Bà sau khi lừa được Thuý Kiều ở lầu Ngưng Bích đã đánh đập Thuý Kiều rất dã man. Sau đó Thuý Kiều lại phải chịu một trận đòn của Thúc ông "uốn lưng thịt đổ cất đầu máu sa" hay " Trúc côn ra sức đập vào/Thịt nào chẳng nát xương nào chẳng tan".

Mối tình đầu vừa chớm nở, Kiều đang sống trong hạnh phúc vậy mà phải trao duyên cho em gái, buộc phải quên đi hạnh phúc mà mình đã nắm trong tầm tay. Từ một cô gái sống trong cảnh "êm đềm trướng rủ màn che", Kiều bỗng dưng trở thành hàng hoá để người ta xem xét, so đo, cò kè, ngã giá. Đây là sự xúc phạm đến nhân phẩm, vì thế trong suốt cuộc mua bán, Kiều chỉ biết câm lặng đau khổ.

Từ một cô gái trinh trắng, Kiều đã rơi vào lầu xanh, đây là nỗi khổ, nỗi nhục lớn nhất mà Kiều phải chịu đựng, phải chịu cảnh "Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm"

Khi là vợ  Thúc Sinh, Kiều đã phải đàn hát thâu đêm để cho Thúc Sinh và  Hoạn Thư  uống rượu, thưởng đàn. Bị bán vào lầu xanh lần thứ hai, Kiều gặp  Từ Hải. Từ Hải đã mang đến cho Kiều cuộc sống hạnh phúc và đưa Kiều lên vị trí xứng đáng nhưng rồi Kiều đã nhẹ dạ cả tin, khuyên Từ Hải ra hàng và khiến Từ Hải thua trận phải chết đứng.

Khi chồng vừa chết, Thuý Kiều phải đánh đàn hầu rượu  Hồ Tôn Hiến  rồi bị ép gả cho tên thổ quan và phải trẫm mình xuống sông  Tiền Đường  tự vẫn.

Thuý Kiều là điển hình cho số phận bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Kiều có vẻ đẹp sắc sảo mặn mà. Tả Kiều Nguyễn Du sử dụng bút pháp đặc tả đôi mắt để qua đó nói lên vẻ đẹp trong thế giới tâm hồn của nhân vật. Kiều đẹp đến mức hoa ghen liễu hờn, thiên nhiên cũng sinh lòng đố kị, vì thế mà số phận long đong cực khổ. Điều này cho thấy sắc đẹp của Kiều đã đạt đến độ hoàn mĩ.

Làn thu thuỷ nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh

Kiều có tâm hồn trong sáng và trái tim đa cảm: khi đi du xuân cùng em, gặp mộ Đạm Tiên, người phụ nữ xấu số không quen biết, Kiều đã tỏ lòng thương cảm, Kiều luôn luôn hiểu và cảm nhận được nỗi đau khổ của người khác và tìm cách giải quyết. Kiều là người con hiếu thảo: khi gia đình mắc oan Kiều đã hi sinh bản thân mình, hi sinh hạnh phúc của cá nhân mình để cứu cha, cứu em và chữ hiếu của Kiều đặt cao hơn tất cả và được thể hiện bằng hành động.

Trong suốt quãng đời lưu lạc, lúc nào Kiều cũng sống trong băn khoăn day dứt vì không làm tròn trách nhiệm của người con đối với cha mẹ. Khi bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, Kiều cũng không nguôi nhớ về cha mẹ.

Kiều có một trái tim chung thuỷ, ý thức vị tha. Tác giả đã ca ngợi tình yêu Kim - Kiều hồn nhiên, trong sáng và táo bạo, Kiều đã chủ động đến với Kim Trọng. Thái độ chủ động ấy ta ít gặp trong xã hội phong kiến, Kiều đã chống lại quan điểm của xã hội phong kiến "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy". Tình yêu rất đẹp bởi bắt nguồn từ hai trái tim, rất chung thuỷ nhưng cũng rất biết hi sinh.

Trong mười lăm năm lưu lạc, Kiều luôn nghĩ tới Kim Trọng, băn khoăn day dứt vì mình không mang đến hạnh phúc cho người mình yêu, mối tình Kim - Kiều chính là biểu tượng cho khát vọng hạnh phúc của con người.

Cung thương làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

Khúc nhà tay lựa nên chương

Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân

Kiểu giỏi về âm luật, giỏi đến mức "làu bậc". Cây đàn mà nàng chơi là cây   Hồ cầm; tiếng đàn của nàng thật hay "ăn đứt" bất cứ nghệ sĩ nào. Kiều còn biết sáng tác âm nhạc, tên khúc đàn của nàng sáng tác ra là một "thiên bạc mệnh" nghe buồn thê thiết "não nhân", làm cho lòng người sầu não, đau khổ. Các từ ngữ: sắc sảo, mặn mà, phần hơn, ghen, hờn, nghiêng nước nghiêng thành, đòi một, hoạ hai, vốn sẵn, pha nghề, đủ mùi, lầu bậc, ăn đứt, bạc mệnh, não nhân - tạo nên một hệ thống ngôn ngữ cực tả tài sắc và hé lộ, dự báo số phận bạc mệnh của Kiều, như ca dao lưu truyền:

"Một vừa hai phải ai ơi!

Tài tình chi lắm cho trời đất ghen".

Nguyễn Công Trứ  đã tặng Thúy Kiều hai câu thơ:

Bạc mệnh chẳng làm người tiết nghĩa,

Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm!

Ý nói khi bị số phận đưa đẩy đến lầu xanh hai lần, Thúy Kiều đã không chọn cái chết để bảo toàn tiết hạnh, vậy phải chịu những đau đớn, tủi nhục của kiếp sống kỹ nữ.

Nhà thơ  Tản Đà  bình luận về hành vi của Thúy Kiều sau khi gây ra cái chết cho Từ Hải:

Đôi hàng nước mắt, đôi làn sóng

Nửa đám ma chồng, nửa tiệc quan

Tổng đốc có thương người bạc phận,

Tiền Đường chưa chắc mả hồng nhan

Bài thơ có ý trách Thúy Kiều mới chôn cất Từ Hải tại bờ sông, sao lại có thể ngồi đánh đàn mua vui cho những kẻ giết chồng mình? Dù Hồ Tôn Hiến có nhỏ một giọt lệ xót thương, nhưng dòng nước của sông Tiền Đường cũng cảm thấy ghét mà không chấp nhận làm nơi chôn thân của một người đàn bà như vậy.


Thúy Vân


Thúy Vân là em của  Thúy Kiều, chị của  Vương Quan. Thúy Vân theo mô tả của Nguyễn Du là "khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang", nàng được xem như một người tài sắc vẹn toàn chỉ sau chị mình, Thúy Kiều nhưng cuộc đời ít chịu sóng gió như chị mình. Thúy Vân cuối cùng đã kết hôn với  Kim Trọng  trong thời gian Thúy Kiều bán mình chuộc cha và phải chịu cảnh sống lưu lạc 15 năm.

Vẻ đẹp của Thúy Vân qua mô tả của Nguyễn Du:

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Ở đây tác giả đã ví vẻ đẹp của Thúy vân như những gì đẹp đẽ nhất, đặc sắc nhất, thiêng liêng nhất của tinh hoa đất trời: hoa, trăng, ngọc, mây, tuyết. Tất cả đều lột tả vẻ đẹp của một người phụ nữ. "Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang". Tác giả đã miêu tả khuôn mặt của Thúy Vân như khuôn trăng đầy đặn, vừa tròn vừa sáng. Ý nói khuôn mặt của Thúy Vân rất đẹp. Nhưng tác giả lại thêm vào câu thơ một cụm từ "nét ngài nở nang". Theo chú thích SGK thì "nét ngài" có nghĩa là mày của Vân rất đậm. Nhưng cũng nhiều người khác cho rằng nét ngài có nghĩa là nét người (theo tiếng  Nghệ Tĩnh)."Hoa cười ngọc thốt đoan trang" một lần nữa tác giả đã thể hiện nét đẹp của Thúy Vân còn có ở nụ cười tươi như hoa, lời nói trong ngọc và tính nết đoan trang, dịu dàng. "Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da". không chỉ vậy, tác giả còn miêu tả "mây thua nước tóc" ý nói tóc của Thúy vân còn đẹp hơn, óng ả hơn cả mây và "tuyết nhường màu da" nghĩa là da của Vân còn trắng hơn cả tuyết. Qua đó cho ta thấy Thúy Vân có một vẻ đẹp phúc hậu, khiến thiên nhiên cũng phải khiêm nhường và Nguyễn Du cũng thật tài tình khi chỉ với 4 câu thơ mà ông đã có thể miêu tả tất cả những gì đẹp nhất của Thúy Vân. Có thể nói 4 câu thơ đã miêu tả rõ cuộc sống vui vẻ hạnh phúc của Vân khác hơn so với Thúy Kiều


Kim Trọng

Kim Trọng là người có một bộ mặt khả ái. Có thể nói chàng là đại biểu cho tầng lớp nho sĩ ngày xưa : Chàng con nhà trâm anh thế phiệt, cháu giống con dòng, "văn chương nết đất, thông minh tính trời", diện mạo tuấn tú, tính tình đôn hậu, hào hoa, phục sức trang nhã, đi đứng điềm đạm khoan thai, thường có kẻ hầu người hạ với tất cả vẻ đài các nho phong :


Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau chân theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.

Tuy nhiên chàng cũng như muôn ngàn con người khác, biết rung động đê mê trước sắc đẹp, cũng biết yêu, biết nhớ, biết thích những cái thích của con người và biết mơ bao điều mơ của nhân loại. Vả lại Kim Trọng là một kẻ đa tình và si tình nữa. Tuy theo chốn Sân Trình Cửa Khổng với tất cả khuôn phép ràng buộc khắc nghiệt của con người – bất luận trai hay gái – đối với xã hội, chàng cũng chẳng để cho lý trí lấn át được bản năng, hay rõ ràng hơn là nếp sống tình cảm muôn thuở của con người. Chỉ mới nghe – có hai thiếu nữ diễm kiều, tuyệt sắc, chàng đã sống bằng tưởng tượng để trộm nhớ thầm yêu, và băn khoăn thắc mắc .

Nguyễn Bách Khoa nói về Kim Trọng : "Không ai dám chối cãi rằng Kim Trọng là một người tối ư đa tình. Hình như chàng chỉ sống được bằng tình yêu. Mặt trời đối với cây cỏ thế nào thì tình yêu đối với Kim Trọng thế ấy". Cho nên trong lúc hạnh ngộ Thúy Kiều đầu tiên vào "tuần đố lá" "cỏ non xanh tận chân trời, cành lê trắng điểm một vào bông hoa" , Kim Trọng, đã : "May thay giải cấu tương phùng" để biểu lộ tất cả niềm hân hoan chan chứa của chàng. Và trước sự gặp gỡ bất ngờ kia, chàng đã chới với, bàng hoàng như đứng vào một thực tại không tưởng, chàng lặng người đi, chẳng thốt nên lời được – Cái sung sướng ngây ngất đã làm cho mình quên ngay cả cái hiện hữu cũng như sự hiện diện của mình bên cuộc đời, nhất là khi sự ngây ngất ấy còn pha lẫn một chút gì thiêng liêng huyền bí. Giờ đây chàng chỉ thấy :


Chập chờn cơn tỉnh cơn mê

Vì vậy

Rốn ngồi chẳng tiện, dứt về chỉn khôn.

Kim Trọng và ngay cả Thúy Kiều nữa – "Người quốc sắc, kẻ thiên tài", cứ mơ màng :


"
Tình trong như đã, mặt ngoài còn e".

Cho nên trước cảnh "bóng tà như giục cơn buồn", chàng đã lên ngựa chạy rồi mà nàng vẫn đứng sững nhìn theo giải bụi mờ như luyến lưu tiếc nuối một cái gì đã mất mát, chẳng bao giờ tìm lại được nữa.
"Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo".

Một người không sành khoa tâm lý, sẽ cho Kim Trọng bộc lộ hết nỗi lòng của mình trong buổi sơ ngộ nầy; và nếu như vậy thì Thúy Kiều sẽ xem thường Kim Trọng biết bao ! Chàng là kẻ đi tìm người yêu và cầu xin nàng rủ lòng đoái lại kia mà !
Người con trai lần đầu tiên gặp gỡ một cô gái, muốn cho nàng chú ý đến mình, mình phải tỏ ra có một "thái độ bất cần" – sự "bất cần" ấy nâng ta lên một địa vị cao hơn ! Nhưng đó chỉ là phút ban đầu, cái phút chinh phục lẫn mời đón, cái phút giao hòa kết nghĩa để tìm về nhau trong một hướng đi của cuộc đời. Với yên lặng, Kim Trọng đã lọt vào mắt xanh của Thúy Kiều, đã ngang nhiên ngự trị trong trái tim nàng :


Người đâu gặp gỡ làm chi,
Trăm năm biết có duyên gì hay không ?


Yên lặng chưa đủ, tình yêu bao giờ cũng được kết dệt bằng tất cả bản sắc phức tạp của nó : thương nhớ, mong chờ, đau khổ, hân hoan, mộng mị ... Byron đã nói : "Chết cho người đàn bà mình yêu dễ dàng hơn là sống chung với họ".

Kim Trọng, con người đa tình ấy, từ hôm gặp Thúy Kiều trong buổi chiều xuân kia, đã bắt đầu xao xuyến, bâng khuâng. Hình bóng nàng như luôn luôn phảng phất bên chàng, làm cho chàng vẩn vơ thương nhớ, tâm thần uể oải giữa mối sầu dằng dặc khôn khuây ... "bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao"; chỉ có chiêm bao, chàng mới hy vọng tìm gặp lại nàng với những ao ước mong đợi. Nhưng đã gọi là chiêm bao thì làm gì có thực ? Con người nàng chẳng khác gì bóng câu qua cửa sổ, chàng chỉ gặp nàng trong mộng tưởng rồi khi tỉnh dậy thì than ôi ! sự thật phũ phàng bi đát làm sao ! Chàng chỉ còn thở dài :


Ví chăng duyên nợ ba sinh,
Làm chi những thói khuynh thành trêu ngươi ?

Vì quá yêu thương, người ta mến chuộng tất cả những gì liên quan đến người yêu. Ở đây Kim Trọng cũng thế, nhớ Thúy Kiều, chàng lại dời gót đến nơi gặp gỡ nàng đầu tiên để tìm chút hương thừa hay một sự kỳ ngộ lần thứ hai. Và lẽ dĩ nhiên đó chỉ là công dã tràng xe cát, Kim Trọng lại đi vơ vẩn lục lọi tìm kiếm Thúy Kiều cho đến một lúc chàng dừng lại trước một ngôi nhà : nhà nàng ! Nhưng dù đấy là nhà nàng thật thì chàng đã làm gì được, khi hai bên chưa nói với nhau một lời; vả lại thực tại cũng rành rành ra trước mắt chàng đó : "thâm nghiêm, kín cổng, cao tường" hay "mấy lần cửa đóng then cài". Song :


Cho hay là giống hữu tình,
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong.

nên chàng cũng vẫn "tần ngần đứng suốt hồi lâu".

Vì thế, hành động của Kim Trọng ở nơi đây chẳng làm cho ta ngạc nhiên lắm. Chàng đã sống rất thành thật với lòng mình mà không sợ một ai quở trách.

Kim-Kiều đã gặp nhau trong sự ngẫu nhiên. Không kể cuộc hội ngộ đầu tiên, giờ đây một sự may mắn khác đã xảy ra để cho mối tình của đôi trai tài gái sắc kia càng thêm khăng khít : Sau khi Kim Trọng thuê căn phòng trống bên cạnh nhà Thúy Kiều để trọ học, hôm nọ "lần theo tường gấm dạo quanh", chàng đã nhặt được một cành kim thoa. Đó là chiếc trâm vàng của nàng. Cơ hội lại đến ! Thêm một lần nữa Kim Trọng gặp gỡ Thúy Kiều. Nói làm sao hết được nỗi vui sướng của chàng bấy lâu nay mong chờ ngóng đợi. Chàng đắm đuối nhìn nàng để rồi sau đó thổ lộ những nỗi nhớ thương của mình mà bao ngày tháng đã ấm ức, rạo rực chỉ chờ một dịp để tuôn trào hết ra. Kim Trọng nói tất cả không một chút giấu giếm, e thẹn; nói thao thao bất tuyệt để van xin kêu nài cũng như "ép buộc" nàng chạnh nghĩ đến tấm thân bèo bọt với mối chân tình dào dạt kia của chàng :


Rằng : " Từ ngẫu nhĩ gặp nhau,
Thầm trông, trộm nhớ, bấy lâu đã chồn.
Xương mai, tính đã rũ mòn,
Lần lừa, ai biết hãy còn hôm nay !
Tháng tròn như gởi cung mây,
Trần trần một phận ấp cây đã liều !
Tiện đây xin một hai điều,
Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng ?"


Trong đoạn nầy Trương Tửu đã nhận định : "Vì thế nên đã yêu thì phải sầu, phải nhớ, phải chờ. Và sau rốt phải táo bạo. Sự táo bạo là sự phóng cảm rất cần thiết để kết tinh đột ngột cái tình yêu đã chớm nở thành thực tế".

Lúc phải táo bạo mà không táo bạo, lúc chưa nên táo bạo mà táo bạo là không hiểu đến luật yêu đương – là thất bại.

Thúy Kiều đã bị "quyến rũ" để dấn bước vào cõi yêu đương :


Lắng nghe lời nói như ru,
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng.


Và :

Đã lòng quân tử đa mang,
Một lời vâng tạc đá vàng thủy chung.

Thế là chàng đã thắng. Kim-Kiều giờ đây đương nhiên là đôi tình nhân và họ đi về với nhau trong tiếng gọi của ái tình ...

Suốt từ khi họ gặp nhau lần đầu cho đến lúc "Vầng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng, một lời song song", ta thấy tâm lý của Kim Trọng đã diễn biến một cách hợp lý. Tâm lý ấy không ước lệ và chẳng xa vời. Đó là một tâm lý sống động thiết thực, và sự thành công của Kim Trọng là một lẽ đương nhiên.

Ngoài tính đa tình, Kim Trọng lại đa cảm nữa, sau nửa năm về Liêu Dương hộ tang chú, trở lại vườn Thúy, thấy người yêu đã lưu lạc tận phương trời nào, chàng đã khóc than như mưa như gió, khóc hoài khóc mãi, khóc cho đến ngất đi như muốn gởi tất cả nỗi niềm oan trái vào tiếng khóc :


Vật mình vẫy gió tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc thẫn thờ hồn mai !
Đau đòi đoạn, ngất đòi thôi,
Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.

Nhưng khóc để mà khóc, khóc rồi cũng phải nín, giữa cơn phiền muộn vô biên ấy, chàng trở về với những cái gì của ngày xưa, nhớ câu thề trong một đêm nào "vầng trăng vằng vặc giữa trời", nhớ "chiếc kim thoa với khăn hồng trao tay", nhớ tất cả ..., chàng dìm mình vào dĩ vãng xa xôi mà sống với hoài niệm để rồi "gan càng tức tối, ruột càng xót xa"; và trong lúc mong chờ hình bóng cũ một cách tuyệt vọng thì :


Ruột tằm ngày một héo don,
Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.
Thẩn thơ lúc tỉnh lúc mê,
Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao.


Mối tình của Kim-Kiều là mối tình đầu, mà tình đầu là mối tình tha thiết nhất, mạnh mẽ nhất, nó có thể theo dõi vương vấn suốt một đời ta. Thế Lữ đã chẳng thốt nên câu thơ sau nầy là gì đó ?

Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm hồ dễ đã ai quên ?

Tự cổ chí kim hiếm gì bậc vĩ nhân đắm lụy vì tình ? Một Napoléon cũng đủ cho ta lấy làm điển hình rồi ! Trong một cuộc hành quân gian lao khổ cực, ông đã bỏ ăn mất ngủ, xa bạn quên bè chỉ vì một việc nhớ người yêu ! Đây tôi xin đơn cử ra một lá thư ngắn mà ông đã viết cho người yêu là Joséphine :


Em Joséphine yêu quý,

Em đã làm anh mất cả lý trí. Anh không ăn được. Anh không ngủ được. Anh không còn thiết gì đến bạn bè. Anh không còn thiết gì đến danh vọng. Chiến thắng chỉ có giá trị vì làm em vui. Nếu không thế, anh đã bỏ cả quân đội về ngay Ba-Lê phủ phục dưới chân em.
Em đã khiến anh yêu không bờ không bến; em khiến lòng anh rạo rực điên cuồng. Không một giờ phút nào anh không ngắm hình em, không một giờ phút nào anh không hôn hình em.
Bonaparte.
( Những Bức Thư Tình Hay Nhất Thế Giới )


Ngoài đa tình, đa cảm, Kim Trọng còn có một đức tính đáng chú ý, đấy là sự thủy chung và lòng tín nghĩa của chàng. Đó là điểm nổi bật nhất làm cho ta có cảm tình với chàng hơn cả.

Mặc dù đã lấy Thúy Vân làm vợ, nhưng chàng bao giờ cũng tưởng nhớ đến Thúy Kiều giờ đây phải lặn lội ở nơi chân trời góc bể, chẳng biết sống chết thế nào. Nỗi nhớ thương của chàng dạt dào và bi thiết làm sao ! Chàng lấy Thúy Vân chỉ vì nghĩa chớ đâu phải vì tình ? Cho nên hôm nay trước duyên mới "người yểu điệu, kẻ văn chương", Kim Trọng cũng không sao vơi được nỗi khổ sầu :


Tuy rằng vui chữ vu quy,
Vui nầy đã cất sầu kia được nào !
Khi ăn ở, lúc ra vào,
Càng âu duyên mới, càng dào tình xưa.


Lòng nhớ thương chung tình ấy còn tỏ rõ trong cách đối xử của chàng với nhạc gia. Trong cơn hoạn nạn khốn cùng của gia đình Thúy Kiều, Kim Trọng đã rước mời hai ông bà Viên ngoại về ở với mình để sớm hôm hầu hạ thay nàng. Thế chưa đủ, chàng lại cho người tủa ra bốn phương trời để tìm kiếm nàng một cách chân thành, mặc dù giờ đây chàng đã làm nên chức phận, sống trong cảnh giàu sang có kẻ hầu người hạ : Chàng có thấy gì sung sướng đâu khi lòng mang nặng một gánh sầu :


Bình bồng còn chút xa xôi,
Đỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an !
Rắp mong treo ấn từ quan,
Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng pha.
Giấn mình trong áng can qua,
Vào sinh ra tử họa là thấy nhau.

Một kẻ chí tình như vậy, trách gì sau nầy gặp lại Thúy Kiều, con người đã mười lăm năm luân lạc với biết bao gió dập sóng vùi, chàng cũng nhìn nàng bằng đôi mắt tha thiết của ngày xưa và gợi lại lời thề năm cũ để xin cùng nàng kết tóc xe tơ. Cảm động làm sao chàng trai có một không hai ấy ! Đây ta hãy nghe những lời vàng ngọc của chàng :


Xưa nay trong đạo đàn bà,
Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường :
Có khi biến, có khi thường
Có quyền, nào phải một đường chấp kinh.
Như nàng lấy hiếu làm trinh,
Bụi nào cho đục được mình ấy vay ?



Tóm lại Kim Trọng là một người khả ái, rộng lượng, biết ăn ở phải phép. Tâm lý của chàng là một tâm lý tế nhị và sống động. Và sau rốt, chàng là một tình nhân lý tưởng có thủy có chung !




. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Uông Bí ngày 06.5.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN CHÍNH VIỄN TRONG VIỆT VĂN MỚI

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn