Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
tranh của nữ hoạ sĩ Ngọc Mai (SàiGòn)



VƯƠNG THÚY KIỀU

CHƯA THOÁT KHỎI KỸ VIỆN





Mùa cuối xuân khí trời oi bức, ngồi trong phòng, nhìn lên bàn thấy tập sách Xưa & Nay “tập 105” xuất bản tháng 02/2015 mở ra xem, vô tình lật ngay trang 18 “viết về người chơi sách và đại thi hào Nguyễn Du của Vũ Anh Tuấn” lại ghé mắt vào đúng ngay mấy chữ ông viết (ông không phải là nhà nghiên cứu và phê bình, hơn nữa về việc nghiên cứu và phê bình, thì trong thiên hạ đã có hằng vạn hằng triệu người đã làm cả trăm năm qua, hiện đang làm và còn làm dài dài cho tới ngày…), vậy là: Vương Thúy Kiều còn phải ở “Kỹ Viện” dài dài, không thoát ra được vì hai ông khách quý và một số nhà bất đồng! “Kiều ta hiền lành hơn Kiều Tàu quá dữ” nên họ chưa chịu buông tha cho Kiều ra đi một cách êm thắm (mặc dù chủ nhiệm phân tích trả lời dẫn chứng rất rõ ràng, cởi mở, để cho Kiều được tự do, nhưng có vài người không đồng ý).

Tôi xin kể lại một chuyện mới đây, trên đài truyền hình, chiếu hai bộ phim Tiếu Ngạo Giang Hồ và Tân Tiếu Ngạo Giang Hồ phỏng tác theo tiểu thuyết của Kim Dung bị báo chí nước ta phê bình (quá dở), đài truyền hình vội vã dẹp bỏ, nếu hai phim nầy hay hơn tiểu thuyết của Kim Dung thì chưa chắc đã bỏ đi một cách dễ dàng, trái lại tập thơ Đoạn Trường Tân Thanh của cụ Nguyễn Du viết lại hiền hòa hơn, sáng tạo hơn, nó lại hay hơn cốt truyện của Tàu, cho nên Kiều vẫn bị ở “Kỹ Viện” dài dài để cho người đời bươi ra phê bình là cái chắc (một số ít thôi).

Khen chê là chuyện thường tình của người đời, nhưng tập thơ của cụ Nguyễn Du sáng tác đã lôi cuốn người đọc, từ hàng vương giả tới hạng trí thức cho đến bình dân ai ai cũng thuộc vài câu Kiều để trong bụng, khi vui, đọc vài câu góp vui: “Dập dìu tài tử giai nhân. Ngựa xe như nước, áo quần như nêm”; khi buồn, ngâm nga vài câu cho đỡ buồn: “Buồn trông cửa bể chiều hôm”; đến khi tức giận ai, than thở vài câu “Kiều” cho bớt giận: “Tha ra thì cũng may đời. Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Khó ai viết được như cụ, nhiều nhà học giả trên thế giới, họ đã dịch tập thơ Đoạn Trường Tân Thanh ra tiếng nước họ, ít khi họ nhắc đến Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân hoặc những tác giả Kiều Trung Quốc khác, viết về Truyện Kiều hoặc cuộc đời Kiều, đến nỗi các nhà viết truyện của Trung Quốc phải ganh tỵ với cụ Nguyễn Du. Nói về dịch sách hay soạn kịch, ở Âu Châu nhà soạn kịch tài danh của Pháp Corneille lấy cốt truyện Las Mocedades del Cid của Guillen de Castro người Tây Ban Nha để viết nên tuồng Le Cid rất nổi tiếng hơn cả bản gốc.

Theo sách sử đời nhà Minh, viết về Vương Thúy Kiều là người có thật, sau nầy nó thành trung tâm nhân vật chính của nhiều tiểu thuyết, và một số vở kịch, tuồng như Tứ Thanh Viên của Từ Văn Trường (Từ Vị), Hổ phách thỉ của Diệp Trĩ Phỉ, Song Thúy Viên của Hạ Bỉnh Hoành… rồi trở thành nhân vật chính trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du.

Tên tập thơ Đoạn Trường Tân Thanh có phải cụ Nguyễn Du đặt tên tập thơ không? Theo sưu tầm xưa nay có tới sáu thứ tên như:

    1. Kim Vân Kiều truyện

    2.Kim Vân Kiều tân truyện

    3.Vương Thúy Kiều tân truyện

    4.Truyện Thúy Kiều

    5.Truyện Kiều

    6.Đoạn Trường Tân Thanh

(Truyện Thúy Kiều hay Truyện Kiều) chỉ là tên gọi tục trong nhân dân. Về sau bốn chữ “Đoạn Trường Tân Thanh” thì dùng cho bản kinh ở Huế do nhà vua thi sĩ Tự Đức ra lệnh ấn loát, hơn nữa trong bài tựa vua Minh Mệnh năm Mậu Tý (1828) có nhắc tên ấy như Thúy Kiều phong tình lục. Bài tựa vua Minh Mệnh viết:

Trung bất thuyết dã, phong tình chi hữu lục,

Cựu hỹ Hồng Sơn Tố Như tử ngoạn kỷ lục kỳ ký sự

Liên mẫn kỳ tài chi bất ngộ ư thị hồ dịch

Chi dĩ quốc âm nhan chi viết Đoạn Trường Tân Thanh lục,

Tắc cựu nhi đoạn trường chi thanh tắc tân dã.

Dịch: Truyện Thúy Kiều chép ở trong lục “Phong Tình” ta không cần bàn làm gì tục “phong tình” cũng đã cũ rồi, Hồng Sơn Tố Như tử xem truyện thấy việc lạ lại thương tiếc đến nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn Trường Tân Thanh, thành ra cái “lục” (phong tình) vẫn là cái lục cũ, mà tiếng Đoạn Trường vẫn là tiếng mới vậy.


Như thế “Đoạn Trường Tân Thanh” có lẽ thật là tên mà cụ Tiên Điền đã đặt một truyện xưa dùng cả tâm huyết riêng của mình, vì lẽ ấy sách tân khảo lấy tên đầy ý nghĩa của quan niệm để làm rõ ra cái quý giá không chối cãi được của một truyện ái tình rất tầm thường, nhưng nhờ tài lỗi lạc của cụ Nguyễn Du tiên sinh mà trở thành một kiệt tác nghìn năm bất hủ trong văn chương nước Việt.

Mấy mươi năm trước, nói đến nguồn gốc Truyện Kiều, nhiều sách - kể cả sách giáo khoa trong nhà trường của hai miền Nam Bắc - thường chỉ nhắc đến Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà bỏ qua nhiều tác phẩm khác thời nhà Minh đã viết về cuộc đời của Vương Thúy Kiều. Trước tiên cần nói đến bộ sách Trù Hải Đồ Biên, do quan Tổng đốc đời Minh là Hồ Tôn Hiến soạn gồm 13 quyển, ở quyển 9 có bài Kỷ tiễu Từ Hải bản mạt (ghi chép ngọn ngành việc đánh dẹp Từ Hải) kể lại chuyện quân Minh đánh nhau với quân Oa*, vào năm Bính Thìn (1556) đời Gia Tĩnh. Lúc này Từ Hải, một tướng cướp biển, mang hơn một vạn quân từ sào huyệt ở Sạ Phố xuống Hàng Châu càn quét các vùng Tô Châu, Hồ Châu, uy hiếp vùng Kim Lăng. Thế giặc rất mạnh, Hồ Tôn Hiến phải dùng mưu xảo quyệt dụ hàng, rồi trở mặt, cho quân phục kích bao vây ra lệnh đánh bằng hỏa công. Bị bất ngờ, Từ Hải thua trận nhảy xuống sông. Quân Hồ Tôn Hiến bắt được hai thị nữ, một người tên Vương Thúy Kiều, một người tên Lục Châu, vốn xuất thân từ ca kỹ. Hai thị nữ khóc và chỉ chỗ Từ Hải trầm mình, quân sĩ vớt Từ Hải lên chém lấy thủ cấp mang về…

Kim Vân Kiều truyện còn có tên là Song Kỳ Mộng, Song Hợp Hoan. Về sau lại có thêm nhiều tác phẩm nữa kể chuyện Vương Thúy Kiều là Hồ Thiếu Bảo bình Oa chiến công của Chu Tiếp, Vương Thúy Kiều truyện của Dư Hoài, Lý Thúy Kiều truyện của Đới Sỹ Lâm, Sinh báo Hoa Ngạc Ân, Tử tạ Từ Hải nghĩa của Mộng Giác Đạo Nhân Vương Thúy Kiều truyện của Hồ Khoáng. Trong truyện, Từ Hải đã được miêu tả là một đấng anh hùng bên cạnh phu nhân là Vương Thúy Kiều. Các truyện càng về sau càng hư cấu thêm nhiều nhân vật, nhiều tình tiết, biến chuyện có thật của lịch sử thành tiểu thuyết kỳ tình; riêng truyện của Mộng Giác Đạo Nhân và Dư Hoài đã là tiểu thuyết luận đề, tập trung vào chủ đề tư tưởng rất hợp với mọi người: nói một người phụ nữ tầm thường trong xã hội mà lại trọng nghĩa, khí tiết hơn hẳn các bậc trượng phu, hơn cả những đại nhân, quan lại như Hồ Tôn Hiến. Trong tất cả các sách viết về Vương Thúy Kiều của Trung Hoa thì Sinh báo Hoa Ngạc Ân, Tử tạ Từ Hải nghĩa của Mộng Giác Đạo Nhân và Vương Thúy Kiều truyện của Dư Hoài là đã bắt đầu đậm chất tiểu thuyết và đã kể về cuộc đời Kiều khá tỉ mỉ:

Dầu sao đó chỉ là lịch sử thê thảm của một thiếu nữ bạc phận, đưa đẩy vào một cuộc đời sóng gió. Trước hết Kim Vân Kiều truyện chính là tên tiểu thuyết Tàu, thuộc loại phong tình lục mà tác giả đặt tên Thanh Tâm Tài Nhân, còn tên thật không biết là ai? ở đây chúng tôi chỉ nhắc nguồn gốc của truyện là tạp chí “Ngu sơ tân chí” của Dư Hoài biệt hiệu Đạm Tâm.

Vương Thúy Kiều là người Lâm Tri, thuở nhỏ bị bán vào kỹ viện, lấy họ Mã, thường gọi là Mã Kiều nhi. Tuy còn nhỏ nhưng đẹp và thông minh, lại hát hay, đàn giỏi, thổi sáo cũng hay nên được nhiều người mến chuộng; trái lại cô không thích chiều chuộng ai nên bị giả mẫu thường hay đánh đập. May được một chàng thiếu niên giàu có cảm tình chuộc ra, thuê nhà cho ở, đổi tên là Vương Thúy Kiều. Về sau lại gặp La Long Văn, một hào phú có cảm tình thường chu cấp, đi lại với Kiều và nuôi thêm cho một hầu gái là Lục Châu. Lúc này lại xuất hiện có một tướng cướp tên là Từ Hải, đang quẫn bách lẻn trốn vào ở nhờ nhà Thúy Kiều.

Từ Hải, nguyên là Minh Sơn Hòa Thượng, tu tại chùa Hổ Bào ở Hàng Châu. Long Văn gặp Từ Hải, đánh giá Hải là tráng sĩ nên cùng giao tiếp, lại đem cho Lục Châu làm hầu gái. Sống cùng La Long Văn một thời gian, Từ Hải từ biệt lên đường quyết lập chí dựng cơ đồ, chiêu tập bọn thảo khấu quay về xâm chiếm Giang Nam, vây đánh Tuần phủ Nguyễn Ngạc. Thật bất ngờ, trong một trận đánh, quân sĩ lại bắt được Thúy Kiều và Lục Châu. Từ Hải lập Thúy Kiều làm phu nhân, thường cùng cho bàn quân cơ. Lúc này thế lực Từ Hải rất mạnh; triều đình phải cử Tổng đốc Hồ Tôn Hiến ở Triết Giang đi đánh dẹp. Thấy thế lực của Từ Hải hùng mạnh, Hồ Tôn Hiến bèn cho Hoa lão nhân đến dụ hàng, Từ Hải nổi giận bắt trói Hoa lão nhân. May cho Hoa gặp lúc Thúy Kiều có mặt, bèn bàn với Từ tha chết cho Hoa. Hoa trở về báo với Tôn Hiến là thế giặc đang mạnh, chưa thể đánh được nhưng xem ra Vương phu nhân có vẻ có ngoại tâm, ta có thể nhân đây mà thắng giặc. Tôn Hiến biết La Long Văn là ân nhân cũ của Từ Hải và Vương Thúy Kiều bèn gọi La Long Văn đến để dùng chước dụ hàng. Long Văn chấp nhận lời Hồ Tôn Hiến đến dinh được Từ Hải ân cần tiếp đãi lại cho gọi phu nhân và Lục Châu ra chào hỏi. Trở về, Long Văn bàn với Hồ Tôn Hiến dùng kế đem châu báu lo lót Thúy Kiều, vận động Từ quy hàng. Đúng như ý nguyện, Kiều ra sức khuyên Từ Hải quy phục triều đình. Nghe lời Thúy Kiều, Từ Hải ước hàng cùng Tôn Hiến, không phòng bị gì. Tôn Hiến dùng hỏa công đánh tan quân Từ Hải. Từ Hải nhảy xuống sông tự trầm, nhờ Thúy Kiều và Lục Châu chỉ chỗ Từ Hải trầm mình, quan quân biết được vớt lên chém đầu mang thủ cấp về trình cho Hồ Tôn Hiến.

Trong tiệc khao binh, Tôn Hiến bắt Thúy Kiều hát và chuốc rượu. Trong lúc quá chén, Tôn Hiến cũng giở trò đùa cợt; hôm sau tỉnh rượu, sợ mất thể diện trọng thần, Tôn Hiến đem Thúy Kiều gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận. Lúc sang sông, Kiều khóc lớn rồi đâm đầu xuống nước tự trầm. Còn truyện Kiều của Dư Hoài tuy rất gần với Truyện Kiều của nước ta nhưng không xây dựng đoạn Kim Kiều tái hợp, chỉ viết tới Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường là hết chuyện. Cuộc đời Kiều chưa chứng minh cho tư tưởng Thiên mệnh Nhân quả. Phải đợi đến đời Thanh, Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mới thực sự có cốt truyện gần giống với truyện Kiều của nước ta.

Nguyên bộ tiểu thuyết Tàu mà cụ Nguyễn Du phỏng theo, để viết ra truyện Kiều, chỉ biết tên là “Thanh Tâm Tài Nhân Lục”, không biết rõ tác giả là ai, soạn vào đời nào, nhưng truyện viết lời văn rất tầm thường, ngoài mấy bài từ có vẻ thanh tao hơn, không có đặc sắc gì. Nhưng bộ tiểu thuyết ấy cũng không phải là truyện đặt ra, có thể căn cứ ở sự thực (của các bộ truyện trước) mà đặt ra… Vậy là Dương Quảng Hàm, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh chưa thể xác định được Thanh Tâm Tài Nhân là ai!? Và Kim Vân Kiều truyện viết ra khi nào, riêng cụ Dương Quảng Hàm thì cho rằng tuy là không biết tác giả tên thực là ai và sống về đời nào, nhưng các việc kể trong cuốn tiểu thuyết đều thuộc về đời Gia Tĩnh nhà Minh tức là từ năm 1522 đến năm 1566, trái lại sách ấy lại do Kim Thánh Thán sống từ năm 1627 đến năm 1662 mới phê bình, vậy theo đấy ta có thể biết được rằng sách ấy làm vào khoảng cuối thế kỷ thứ XVI hoặc đầu thế kỷ thứ XVII. Đến nay vẫn tồn tại nhiều giả thuyết về Thanh Tâm Tài Nhân, chưa ai khẳng định được đích xác. Như vậy qua khoảng thời gian dài, một câu chuyện có thật trong lịch sử Trung Hoa, đã trở thành một tiểu thuyết kỳ tình sau khi trải qua cả một quá trình sửa đổi thêm thắt nhiều tình tiết, nhân vật. Từ một con hát nơi kỹ viện, thường bị giả mẫu chửi đánh vì không chịu chiều đãi khách, Mã Kiều nhi trước là một tiểu thư xuất thân từ nơi khuê các, có cuộc tình đầy thơ mộng với văn nhân Kim Trọng (một nhân vật không hề có trong đời thực của Vương Thúy Kiều), rồi cuộc đoàn viên sau 15 năm lưu lạc (đến đời Thanh lại được thêm vào nhằm phục vụ chủ đề “ở hiền gặp lành”). Qua hơn 200 năm sau khi đến Việt Nam, nhân vật Vương Thúy Kiều lại được khoác lên một diện mạo hoàn toàn mới: lược bớt một số đoạn, thay đổi nhiều tình tiết, truyện đã trở nên ý vị hơn, đậm tình người hơn, tính cách nhân vật trở nên nhất quán hơn, cách ứng xử cân phân hơn, nhân hậu hơn… Nếu ai có dịp đọc lại Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân đoạn Thúy Kiều xử án, thành thật mà nói, người viết truyện không có tình người chút nào, xin trích ra đây một đoạn khi Kiều đăng đàn xử án.

Phu nhân (Kiều) nói Bạc bà đẩy người xuống giếng, Bạc Hạnh bán người lương thiện vào nhà xướng ca. Nay đúng lời thề trước của Bạc Hạnh, lấy dao vằm nát thân thể rồi cho ngựa ăn, còn Bạc bà thì đem chặt đầu bêu lên cây. Đao phủ nghe lệnh dạ ran một tiếng, tức thì lôi Bạc bà ra chặt đầu, còn Bạc Hạnh thì dùng chiếu cỏ bó như bó củi, ngoài quấn dây thừng thật chặt, cho hai người giữ, một người cầm dao, chặt từ chân lên đầu thành hơn trăm đoạn. Ghê thay một con người mới đó mà trong giây lát biến thành đống thịt, những người đứng nhìn ai cũng hoảng hồn chết ngất. Bọn đao phủ vào bẩm đã thi hành xong, phu nhân truyền đem đống thịt trộn lẫn với cỏ để cho ngựa ăn . Khi quân đưa “mẹ Hoạn Thư” và Hoạn Thư vào, Kiều ra lệnh trói Hoạn Thư, trói chân lên trần nhà động đầu xuống đất đánh một trăm roi (thật tàn ác, đúng là một ả giang hồ, chứ không phải là một phu nhân của Từ Hải). Đó là truyện Tàu viết, ta thử xem qua một đoạn thơ của cụ Nguyễn Du viết:

Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,

Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.

Thoạt trông nàng đã chào thưa:

Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây?

Đàn bà dễ có mấy tay?

Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan?

Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!”

Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,

Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca.

Rằng tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thì cũng người ta thường tình,

Nghĩ cho khi các viết kinh,

Với khi khỏi cửa đứt tình chẳng theo.

Lòng riêng, riêng những kính yêu;

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

Trót đà gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?

Khen cho thật đã nên rằng,

Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời,

Tha ra thì cũng may đời,

Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.

Đã lòng tri quá thì nên,

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.

Ta đọc mấy câu thơ Kiều của cụ Nguyễn Du và đọc lại tất cả Truyện Kiều của Tàu mới thấy được cái ác của họ, họ thấy cái gì có lợi thì họ trở mặt ngay, ví dụ như La Long Văn. Có hai giáo sư, Phan Thanh Tâm và Đàm Quang Hưng (ông là giáo sư toán ở trường đại học cộng đồng từ năm 1989, và đã hoàn thành việc chuyển ngữ bản gốc Hán văn của Thanh Tâm Tài Nhân sang tiếng Việt tại Houston Texas vào ngày 21/12/2012), hai ông bảo: Kiều Việt Nam nhân hậu hơn, Kiều Tàu ác hiểm quá (hai ông hiện cư trú ở Hoa Kỳ). Cũng xin nhắc lại là tập thơ Kiều của cụ Nguyễn Du được dịch ra nhiều thứ tiếng và được thế giới công nhận là di sản, thế mà cũng bị người ta đố kỵ, người Tàu chê bai đủ điều (chê lấy truyện của họ chớ không phải chê thơ dở) vì họ là người Tàu. Cụ Phan Thạch Cơ viết:

Hữu minh nhất đại vô song kỷ

Đại Việt thiên thu tuyệt diệu từ

Tôi xin kể lại một câu chuyện đăng trên báo “The Smaller Dragon” (tác giả Joseph Butlinger) về truyền thuyết có thực khá lý thú, đáng được ghi lại: Cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) thành công, sau khi nhượng chức Tổng thống cho Viên Thế Khải, ông Tôn Văn (tức Tôn Trung Sơn) sang viếng thăm Nhật Bản (vì có bàn tay giúp đỡ của Nhật) với tư cách là đảng trưởng Quốc Dân Đảng Trung Hoa, và được thủ tướng Khuyển Dương Nghi (Inukai Tsuyoshi) đảng trưởng Quốc Dân Đảng Nhật Bản thết tiệc khoản đãi; giữa bữa tiệc, ông Khuyển Dương Nghi bất chợt hỏi: “Tôi được biết tiên sinh đã có dịp qua Hà Nội, xin tiên sinh cho biết tôn ý về dân tộc Việt Nam”. Ông Tôn Văn đáp: “Người Việt vốn nô lệ căn tín, ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ lại bị người Pháp đô hộ, dân tộc ấy không có tương lai”. Được dịp ông Khuyển Dương Nghi nối lời: “Về điểm này tôi xin phép không đồng ý với tiên sinh; ngày nay họ thua người Pháp vì họ thiếu khí giới tối tân, nhưng cứ xét lịch sử thì trong số dân Bách Việt chỉ có họ là thoát khỏi không bị Hán hóa. Tôi tin rằng một dân tộc đã biết tự bảo vệ một cách bền bỉ như vậy, thì sớm muộn gì họ cũng lấy lại quyền tự chủ trong tay người Pháp”.

Ông Tôn Trung Sơn mặt tái xanh vì câu tự cao của mình nên ông ngồi bất động mà không trả lời được. Ông Tôn Trung Sơn đã hiểu được ý lời của ông Khuyển Dương Nghi nói chọt mình, vì ông là người Quảng Đông tổ tiên cũng là người Việt, nhưng kém xa dân tộc Việt Nam, vì đã bị người Hán đồng hóa hoàn toàn, không còn chút gì là Việt nữa.

Trong buổi tiệc nầy có cụ Lê Dư, chính cụ Lê Dư đã kể lại cho các ký giả nghe, rồi họ kiểm tra lại, cho đăng lên báo.


Sưu tầm một số tài liệu trong thư viện Tp.HCM

và báo chí hải ngoại: ngày 15.4.2015.


* Quân Oa: là quân Nhật Bản thấp bé nên người Tàu gọi là Oa nhân (người lùn), nước Nhật gọi là Oa quốc, cướp biển từ Nhật sang gọi là Oa khấu (giặc lùn).


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 06.5.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

Quay Lên Đầu Trang

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn