Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Chế Lan Viên (1920-1989)


CHẾ LAN VIÊN




Đất nước cổ kính Việt Nam quả thực đã được tạo dựng bằng bàn tay của con người. Hàng mấy ngàn năm trước, chặt phá rừng già, con người từ dải bờ biển và bờ những con sông con suối, đã tiến sâu vào lòng đất nước, để lại sau lưng mình những cánh đồng ruộng lúa, những kênh đào lạch sẻ, vườn tược và những vòng thành lũy. Nếu như từ trên cao qua ô cửa sổ máy bay nhìn xuống đất nước này: màu vàng và màu xanh của ruộng đồng và đường ren bạc của những con sông, những dẫy núi phủ kín rừng và vàng của những bãi cát dọc bờ biển, những khối (mái) đỏ (tường) trắng nhiều đường góc của các đô thị và những khuôn nhà ở bằng tranh tre thu tròn của các thôn làng,- bản thân đất nước này dường như một giai điệu ngưng đọng của một bản trường ca cổ kính. Không phải ngẫu nhiên mà nhân dân sống trên dải đất này yêu thích hợp âm thánh thót của ngôn từ và ở mỗi vùng đất ở đây từ xa xưa đều có một làn điệu thơ ca dân dã, khác nhau về nhạc điệu và các hình tượng riêng biệt, nhưng thấm đượm những tình cảm cao cả và trong sáng không thay đổi, tính cách không khoan nhượng đối với cái ác và sự dối lừa. Một nhân dân, cầy sới mảnh đất giàu có thơ ca, gieo xuống đó những hạt giống đầu tiên, và vì thế đã nẩy nở một cách nhiều màu sắc và rực rỡ cả một nền thơ ca chữ viết, tồn tại ở đây vậy là đã hàng chục thế kỷ. Tất cả mọi người, những ai từng thông thạo chữ nho - các quan lại và dân thường, vua chúa và các nhà tu hành, thẩy đều làm thơ. Những kiệt tác mà thơ ca cổ điển Việt Nam để lại cho chúng ta, tán tụng sự công bằng và chí hướng tìm đến chân lý, ca ngợi vẻ đẹp của mảnh đất quê hương. Nhưng khi đó, cũng như ngày nay, tán tụng sự công bằng và ca ngợi vẻ đẹp của mảnh đất ông cha là chưa đủ. Những cái đó cần phải bảo vệ bằng vũ khí trong tay. Từ phương bắc bọn xâm lược của đế quốc con trời thỉnh thoảng lại tràn tới. Và lời thơ trở thành vũ khí tấn công. Một trong những bài thơ cổ xưa nhất còn giữ được đến tay chúng ta được biết bởi vị thống soái lừng danh, và theo truyền thuyết, đã được ngâm lên trước quân xâm lược ngay mở đầu trận chiến. Những người lính Việt Nam được cổ vũ bởi nhà thơ, đã đánh tan tác đạo quân của hoàng đế nhà Tống đông gấp bội. Sự kiện ấy xẩy ra ít nhất cũng đã chín trăm năm trước. Từ thuở đó trong âm vang của thơ ca Việt Nam nghe rõ tiếng gươm khua và tiếng sấm rền của trống trận.

Cũng lại như vậy cả khi nhân dân đứng lên chống những quân xâm lược mới lần này đến từ phương Tây, từ Châu Âu “văn minh”.

Nhưng những motif tình yêu đối với đất nước đạt tới sức mạnh đặc biệt trong thơ ca cách mạng, ra đời vào buổi đầu của những năm ba mươi thế kỷ chúng ta (thế kỷ XX), bởi vì nó đòi hỏi sự giải phóng nhân dân và khôi phục phẩm giá con người bị xâm hại, mà lý tưởng của nó là đổi mới thế giới. Thơ ca này được sáng tạo trong các nhà tù (đế quốc), trong các hang động của những nhà in bí mật và trên những con đường rừng kỳ bí, nhưng chính nó đã xác định bước đi tiếp phát triển của thơ ca Việt Nam. Nó trở thành người báo hiệu của tháng Tám năm 1945 thắng lợi, theo tiếng gọi của nó tất cả các nhà thơ chân thực và tài năng của đất nước đã ra đi vào vùng rừng núi cùng các đơn vị đầu tiên của quân đội nhân dân. Thơ ca trở thành ngọn cờ chiến đấu của nhân dân chiến đấu chống bọn thực dân. Các nhà thơ sát cánh cùng các người lính và du kích xung trận, thay chân các người thợ đứng bên các cỗ máy in cổ lỗ, in những tờ báo, những tờ truyền, những tập thơ trên thứ giấy mầu xám lởm chởm. Trong chín năm chiến tranh gian khổ đó thơ ca Việt Nam đã có được những phẩm chất của riêng mình mà trước đó không phải bao giờ nó cũng có được - sự tinh tường nhận biết cuộc sống, sự chuẩn xác trong lựa chọn tư liệu và tính cách trong sáng thấu suốt của những âm sắc nhân dân. Và khi sau chiến thắng miền Bắc Việt Nam trong một thời gian ngắn lạ thường đã trở thành một mảnh đất hoàn toàn xóa nạn mù chữ, thơ ca đã có được một cử tọa toàn dân và trong đó vang lên đề tài lao động được giải phóng, đề tài chủ nghĩa xã hội. Phạm vi các phương tiện hình thức và thủ pháp thơ được mở rộng, nhiều nghệ sĩ cùng một lúc sáng tác cả trong truyền thống cách ngôn kính điển, cả trong phong cách gần với ca khúc dân gian du dương và trong sáng. Thể thơ tự do trước đó không được quen cho lắm cũng được khẳng định. Sự phong phú về thể loại và rộng đường tìm tòi được thông cảm - thơ ca cần được nói về nhiều điều, trước còn chưa được biết tới hoặc nói chung còn chưa hề tồn tại, và ở điểm này nó trở nên cần có tất cả sự phong phú của phương tiện diễn tả.

Chính sự vươn tới cái mới và sự đa sắc mầu của hình thức là điểm điển hình trong sáng tác của Chế Lan Viên. Tạp chí hôm nay giới thiệu thơ trong hai tập thơ gần đây nhất của thi sĩ.

Số phận văn chương của Chế Lan Viên được định hình một cách suôn sẻ: Tập thơ đầu tay của ông ấn hành năm 1937, đã đưa chàng trai mười bẩy tuổi vào hàng ngũ các nhà thơ dẫn đầu của đất nước, và cho đến hôm nay mỗi cuốn sách của ông đều trở, thành sự kiện thu hút sự chú ý của giới phê bình, bạn đọc và bạn bút thơ. Chế Lan Viên bắt đầu trong trào lưu xuất hiện vào những năm ba mươi phong trào “thơ mới”, bẻ vỡ những quy tắc cổ cựu của thi luật, khẳng định quyền tự do của thi nhân tiếp nhận trừ tình thế giới và lựa chọn để thể hiện toàn bộ tính chất đa tầng thế giới nội tâm của con người. Tập sách đầu tiên của ông, tên gọi có thể dịch bằng từ “Zapuxtenije - Hoang tàn” hay “Upadok - suy đốn, suy sụp, suy tàn” - câu chuyện bi thảm thế giới quan về sự diệt vong của đế chế Chăm đã có một thời hùng mạnh và những đau thương của nhân dân đế chế ấy. Tập thơ tiếp theo của ông đề cập đến các vấn đề đương thời. Thi sĩ hào hứng đón chào cách mạng và thơ ông trần đầy âm điệu sảng khoái, lạc quan, điển hình trong thơ ông khẳng định thêm cả một yếu tố mới - nhận thức thế giới một cách trí tuệ, mà trước đó thơ ca Việt Nam không có một cách đậm đà.

Tôi đang cầm trong tay tám cuốn sách, theo tôi là tất cả những gì Chế Lan Viên đã ấn hành (đến giờ, 1973). Dường như không phải đã là nhiều. Nhưng thời gian trong những cuốn sách này, như các nhà vật lý nói đã được “kết tụ” đông đặc khác thường. Tôi nhớ, đã khá lâu về trước tại trường đại học tổng hợp Matxcơva đã diễn ra một cuộc tranh luận: liệu các tác phẩm văn chương có thể dùng làm nguồn tư liệu lịch sử chăng? Bản thân tôi thì câu hỏi này chưa bao giờ gây cho tôi phải hoài nghi. Và chính thơ Chế Lan Viên có thể gọi là nguồn tư liệu lịch sử với ý nghĩa cao cả và chính xác nhất của từ này. Còn một phẩm chất nữa trong thơ ông, khi nhìn bao quát tất cả những gì Chế Lan Viên viết, thì trở nên đặc biệt rõ ràng: qui mô rộng lớn và tính chính xác biểu hiện thấy rõ ở “địa đồ” của ông. Bao giờ ông cũng biết tìm ra trên mảnh đất của mình điểm chính nhất, nóng bỏng nhất trong thời khắc hiện thời và phơi bày ra cái góc đó trên mảnh đất của mình với một cách khúc chiết rung động đến kỳ lạ: chúng ta nhìn thấy, những hạt thóc nẩy mầm và những búp măng tre mảnh mai và yếu ớt từ dưới đất đâm lên cao như thế nào, đất được con người làm cho hồi sinh đã che chở cho những đứa trẻ khỏi bị sắt thép rơi từ không trung xuống sát hại ra sao... Ông biết cách như các họa sĩ thường làm - bằng sự thay đổi mầu sắc và ánh sáng cho thấy những đổi thay của thời gian: những chiếc lá ngụy trang xanh, vàng và lại xanh; những mái tranh mầu hung nâu thay bằng những ô vuông ngói hồng; mầu xanh xóa những vệt đen hố bom khỏi các thửa ruộng... Phải chăng các mảng mầu trên mặt sơn mài Việt Nam mầu nọ thay mầu kia, cũng như vậy sao? Và ông còn biết bằng những đường vạch lớn chính xác - hẳn con dao trổ của người nghệ sĩ vô danh từ thuở xa xưa lâu lắm rồi đã đưa như vậy trên mặt bảng gỗ in tranh dân gian ở làng Đông Hồ - vẽ ra những chân dung những con người cùng thời của mình: những đứa trẻ cất lên những tiếng đầu tiên trong đời mình, những người lính, ngư dân, cả người thợ cầy, cả vị chủ tịch nước...

Thơ cần phải có ích cho con người”, - Chế Lan Viên nói trong “Suy nghĩ về thơ” của mình, hàm ý, tất nhiên không phải “ích lợi” duy lợi của nghệ thuật, mà là sự phục vụ cao cả, quên mình cho con người. Và với ý nghĩa ấy thơ của Chế Lan Viên cần thiết và có ích cho con người và sẽ còn lâu dài mang lại niềm vui cho người đọc ở Việt Nam và cả ngoài biên giới Việt Nam.


Lời giới thiệu thơ Chế Lan Viên trên tạp chí Văn học nước ngoài (Liên Xô). Số 9/1973 - Thúy Toàn dịch

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 06.5.2015.