Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM





      HÀ NỘI



T ừ khi định đô vào thế kỷ thứ XI cho đến ngay cả lúc kinh đô được dời về kinh thành Huế vào đầu thế kỷ thứ XIX, Hà Nội thời cổ vẫn là một đô thị sinh hoạt khá tấp nập, mà nền kinh tế chính yếu tại đây là những phát triển công thương và dịch vụ.

Tuy nhiên trong suốt nghìn năm tồn tại của mình, đô thị Hà Nội còn có một đặc trưng khác nữa là vị trí quốc đô của nó trong quá khứ. Về hai phương diện nầy, sinh hoạt nghìn năm của đô thị nầy là đã tạo ra một đường hướng, mô hình vận động theo kiến thức và tổ chức của một đô thị kết hợp giữa chợ, bến, phố, phường, mà những trung tâm là những khu chợ búa buôn bán sầm uất.

Ngay từ khi mới định đô, những hoạt động thị tứ ở Hà Nội đã được khai triển không ngừng.

Đại Việt Sử Ký chép lại: "Đô thị nầy mở phố chợ về cửa đông, hàng quán chen chúc sát đến bên đền Bạch Mã, rất huyên náo..." Vào thế kỷ XV, khi những nhà truyền giáo Tây Phương đến đây đã ghi rõ "Hàng hoá phong phú dựng lên nhiều lều quán, kẻ chợ thìcó rất nhiều ngôi chợ đẹp".

Trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú có ghi lại "Có 8 khu chợ nổi tiếng của đô thị là chợ Cửa Đông, chợ Cửa Nam, chợ Huyện, chợ Đình Ngang, chợ Ba Đá, chợ Văn Cử, chợ Bác Cử và chợ Ông Nước". Về sau lại còn bổ sung thêm một số chơi khác là: chợ Mới, chợ Yên Thọ, chợ Yên Thái, chợ Thịnh Quang, chợ Dịch Vọng.

Ngoài những chợ búa được trải đều khắp nơi, lại còn một hệ thống những bến cảng của đô thị nữa. Sông Hồng thông nước với sông Tô Lịch và các nhánh của sông nầy, tạo ra cho Hà Nội nhiều bến cảng lớn nhỏ, phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển hàng hoá, đặc biệt là ở khu vực phía đông của Hà Nội. Những bến chính đều nằm ở phía bờ bên phải của con sông Hồng; hàng hoá từ đây mà ra vào không ngừng, qua các cửa ô.

Hồi thế kỷ XIX, Hà Nội cổ có 16 cửa ô thì ở mặt đông mở đến 11 cửa, để đón những nguồn hàng từ nhiều nơi đến trao đổi. Cùng với những khu chợ tấp nập của đô thị, những bến cảng trên sông của Hà Nội cổ đã hình thành cả mộtcảnh tượng nhộn nhịp lạ thường.

Chính ngay những phố phường của Hà Nội cổ cũng đã góp phần vào những hoạt động kinh tế của đô thị.

Trong "Lettres" (Annam - Tonkin (1884) Julieu viết: "Những người ở đây khéo tay, hay nghề; đô thị Hà Nội trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, đã tập hợp được tại đô thị nầy cả một loạt nghề nghiệp và người sản xuất có chất lượng cao. Phố phường ở đây là nơi tàng trữ, đồng thời, cũng tung ra những khối lượng hàng hoá, với những kiểu thức đặc trưng nổi nét; nhiều phố do những người cùng làm một nghề tập hợp đông đúc..."

Một tác giả Tây Phương khác đến tìm hiểu Hà Nội cổ đã viết: "Mỗi loại hàng hoá đều có một khu phố riêng của nó. Ở phố Bát Sứ, tất cả đều là màu xanh; tiếp đến phố Bát Đàn, tất cả đều là màu đỏ. Rồi đến phố hàng Đồng, lấp lánh ánh kim vàng chói. Phố Hàng Thêu và phố Hàng Tranh, màu sắc tươi vui sặc sỡ" (Yann- Croquis Tonkinois- 1889)

Trên đây là một trong những sinh hoạt thương mải của Hà Nội cổ, điều mà những nhà nghiên cứu thường mệnh danh là "Kiểu đô thị trung cổ".

Nhà nghiên cứu xã hội Julien viết: "Những sinh hoạt cứ tuần tự theo kiểu đó: trên một quảng đường chừng 100 - 200 mét, không có gì khác hơn ngoài các cửa hành đồ khảm; xa hơn, không có gì khác hơn là các cửa hàng mây đan; xa hơn nữa, không có gì khác hơn, ngoài các hàng bán gạo.... Tất cả sinh hoạt kinh tế tại đây đều khuôn rập theo kiểu "tự sản tự tiêu, của phố phường Hà Nội, theo một nhịp điệu quen thuộc không mấy thay đổi.

Một số tàu buôn nước ngoài trong thế kỷ XIX đã ghé đến đây để mua những mặt hàng như bát đĩa, vàng, trầm hương, gỗ, đồ nhuộm, muối, hạt hồi. Hai mặt hàng chính tại đây thông thường là sơn và tơ lụa. Cũng có trường hợp và thời điểm tại đây còn kinh doanh tiền tệ.

Dampier trong Voyages and Discoveries viết: "Đổi bạc là một nghề quan trọng ở Kẻ Chợ (Hà Nội). Nghề đó được thực hiện do giới phụnữ. Họ là những người rất khéo léo và lão luyện trong nghề. Họ tiến hành những mưu kế trong đêm tối và đã biết cách làm thế nàođể tăng túi tiền của họ lên, như hệt những tay đầu cơ chứng khoán sắc sảo nhất ở Luân Đôn..."

Những hình ảnh trên đây được trình bày dưới mắt người nước ngoài khi đến nghiên cứu sinh hoạt kinh tế thị trường Hà Nội của thế kỷ trước, để tìm kiếm môi trường xuất nhập cảng. Tình trạng nầy kéo dài sang thế kỷ XX, và nhiều hình ảnh vẫn còn tồn tại đến ngày nay, ngoại trừ một vài sự kiện mới, nhưng cũng chỉ làm ăn nhất thời; như nghề địa ốc và nghề du lịch. Thiếu hẳn nền kinh tế xây dựng từ hạ tầng vững chắc, cho nên tình trạng đó cũng khó thay đổi sinh họat của dân chúng. Đó là chưa kể những khó khăn lớn dochính trị gây nên.


Kiến trúc Pháp đầu thế kỷ XX


Sang những năm đầu của thế kỷ XX, tình hình chính trị tương đối ổn định ở nhiều nơi trong nước, nhà cầm quyền cai trị Pháp đã bắt đầu quan tâm đến việc kiến trúc nhiều hơn. Ngôi nhà đấu xảo tại Hà Nội là bước thử nghiệm đầu tiên trong chương trình nầy. Ngôi nhà chính nầy phảng phất kiến trúc kiểu Petit Palais do nhà kiến trúc Charles Girauld đã trình bày trong cuộc triển lãm tại Paris năm 1900, sau đó đã đem áp dụng trong kiến trúc tại đây.

Đây là kiểu bố trí ba khối kiến trúc nhô ra phía trước, khối giữa lớn hơn cả. Cả ba khối lợp mái kiểu Mansard, có hai hàng cột nối ba khối kiến trúc lại với nhau, trên những tường tầng hầm xây giả đá cổ điển Pháp. Cũng trong thời gian nầy, mạng lưới giao thông vận tải cũng được mở mang như đường sắt, đường xe hơi, xây dựng một số cơ quan hành chánh và văn hoá.

Năm 1902, ở Hà Nội đã xây trụ sở công ty xe lửa Đông Dương và đường Vân Nam, là một công ty độc quyền về hệ thống đường sắt của người Pháp tại đây, đồng thời cũng xây nhà ga Hà Nội trong thời gian nầy. Hai công trình nầy trong thời điểm đó được xem là đồ sộ về khối và chiều cao 3,4 tầng, nhưng cũng rất lạ về hình thức kiến tạo thời đó, với mái kiểu Mansard lợp bằng ngói thạch bản được chở từ Pháp sang.

Cùng với công trình kiến trúc nói trên, trụ sở Toà Án Hà Nội và Phủ Thống Sứ cũ, với những mái đen sì bằng đá (nay là Nhà Khách Hà Nội - 1998) và những cửa sổ ba góc trên mái (lucarnes), đã không thích ứng được với khí hậu nhiệt đới tại đây, nhưng cũng được xem là công trình kiến trúc trang nghiêm, mới lạ ở đầu thế kỷ XX.

Những thức của loại kiến trúc mới lạ nầy dần dần xuất hiện tại nhiều nơi ở Việt Nam, với dáng khoẻ mạnh và trang nhã của kiểu kiến trúc "Dorique" Hy Lạp và La Mã. Ở mặt trước là Toà Án Hà Nội và Viện Radium tại đây. Ở nhà Hát Lớn Hà Nội, nhiều mô-típ trang trí như các loại hoa dây và những hình đắp màu mè khác đã trình bày theo "kiểu Ionique và Composite".

Khi nói về cách cấu trúc của Toà Đốc Lý Sài Gòn thời Pháp thuộc xây trong khoảng 1898-1899, nhà kiến trúc danh tiếng nước Pháp là Jean De Lamarre đã viết như sau:

"Mô hình kiến trúc Hà Nội làm theo kiểu những mẫu họa theo những điển tích tượng trưng, những mặt nạ và những vòng hoa. Tất cả những loại hình hoa lá thạch cao đã diễn đạt kiến trúc căn bản đầu thế kỷ XX trên đất Nam Kỳ, vừa mang tính chất như một phép lạ, lại mang tính phóng túng. Bên trong của toà nhà nầy được trang trí phủ kín trong từng mô-típ khác nhau, tùy theo các phòng. Những mô hình trang trí kiểu mới, về những tràng hoa theo kiểu Louis XV cho đến cách bố cục trang hoàng kỷ hà học theo kiểu tân kỳ của thời đại mới..."

Những kiến trúc trong giai đoạn nầy đã khuôn rập điệu thức của Pháp với những con-xơn nhẹ, nhỏ, để giảm bớt những hình tượng nặng nề trong tổng thể. Chẳng hạn như kiểu kiến trúc của chợ Đồng Xuân được lợp kín một diện tích lớn, đã thể hiện những cố gắng thích hợp với khí hậu, là nhờ những loại tường được thông hơi (claustras) rất lớn ở các đầu hồi.

Trong giai đoạn nầy, nhiều công trình xây dựng đã được kết cấu bằng sắt như mí cửa, vi kèo, dầm sàn, cho đến cái cầu dài nhất của Việt Nam trong thời gian đó là cầu Long Biên qua sông Hồng: những công trình kiến trúc nầy đã thể hiện được mức độ khéo léo của bàn tay người thợ Việt Nam.

Dù không đắp những phù điêu rồng phượng như trước kia nữa, tuy nhiên đã sử dụng khéo léo trong việc kẻ những gờ chỉ tế nhị của kiểu kiến trúc mới hay cách tô điểm những đầu cột (chapiteau) rất phức tạp của những kiến trúc loại mới.

Những công trình nầy đã thể hiện tinh thần tiếp thu những cái mới trong nền kỹ thuật kiến trúc bằng sắt đang phát triển tại Tây Phương vào đầu thế kỷ XX. Cầu Long Biên là ví dụ sinh động nhất theo mẫu kiến trúc loại nầy. Cũng trong thời điểm đó, đã xây cầu Tràng Tiền qua sông Hương (khoảng năm 1899) cầu Bình Lợi qua sông Bến Nghé năm 1902 và nhiều cầu khác nữa. Dù hồi đó không còn là thủ đô, nhưng vị trí, tổ chức và cơ cấu thì Hà Nội vào thời kỳ Pháp vẫn là nơi quần cư quan trọng của đất Bắc.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 25.4.2015.