Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (18)



Nhà Đường Mê Đắm Tài Nguyên Đất Việt





N hà Đường (618- 907) lật nhà Tùy. Sau Đường là thời Ngũ Đại Thập Quốc

. Nhà Tùy suy thoái. Lý Uyên thâu tóm quyền. Nhà Tùy sụp đổ. Lý Uyên lập nhà Đường. Nhà Đường bị gián đoạn khi Võ Tắc Thiên nắm quyền, lập nhà Võ Chu (690- 705). Bà là nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Tàu.

Nhà Đường lớn mạnh nhờ chiến tranh xâm lược

Nhà Đường- Kinh đô Trường An (thành phố đông dân nhất thời đó, nay là Tây An ). Nhà Đường đạt đỉnh cao văn minh Tàu. Một thời hoàng kim của văn minh thế giới.

Lãnh thổ nhà Đường rất rộng lớn. Lúc cực thịnh bành trướng gấp rưỡi nhà Hán

. Nhờ có quân đội mạnh. Hùng hục gây chiến tranh. Cướp nước khác. Thế kỷ IX dân số khoảng 80 triệu với phần lớn lính chuyên nghiệp và dân buôn, trao đổi hàng hóa, toàn châu Á

. Nhiều nước phải triều cống nhà Đường. Nhà Đường chinh phục, bá chủ chính trị, văn hóa các nước láng giềng Triều Tiên , Nhật Bản , Việt Nam .

Thời Đường. Văn hóa Tàu phát triển mạnh, cường thịnh. Do Phật giáo tác động chủ yếu. Lý Bạch , Đỗ Phủ , cùng các họa sĩ Hàn Cán , Chương Tuyển , Chu Phương thuộc nhà Đường.

Đường Thái Tông & Thịnh Đường

Đường Thái Tông (599 - 649 ), tên thật Lý Thế Dân, hoàng đế thứ hai của triều Đường, trị vì 626- 649. Năm 617. Lý Thế Dân khuyên cha Lý Uyên khởi binh phản Tùy

. Thế Dân có công đánh dẹp các vùng nổi loạn. Cùng cha đồng sáng lập nhà Đường. Vua Đường Thái Tông cầm đầu Đại Đường cường thịnh.

Năm 626 . Cuộc tranh quyền lực giữa Lý Thế Dân với Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát (hai người anh, em ruột) khốc liệt. Thế Dân phục kích, giết cả hai tại cửa Huyền Vũ, Trường An

. Đường Cao Tổ lập Thế Dân làm Thái tử

. Hai tháng sau, nhường ngôi cho Thế Dân.

Nhà Đường thời Thái Tông kinh tế phát triển. Quân sự hùng mạnh. Trở thành một nước rộng lớn nhất. Mạnh nhất thế giới

. Nhà Đường cai quản vùng đất gồm hầu hết lãnh thổ Tàu ngày nay. Là một phần Bách Việt và phần lớn Trung Á , kéo đến đông Kazakhstan .

Năm Trinh Quan thứ tư (630). Đường Thái Tông lệnh Lý Tĩnh đem 10 vạn đại quân đánh Đông Đột Quyết , bắt sống Hiệt Lợi Khả hãn . Diệt Đông Đột Quyết. Nhà Đường trở thành thế lực thống trị Đông Á và Trung Á và các dân tộc du mục. Vua cho quân đánh chiếm các quốc gia ốc đảo ở lòng chảo Tarim . Chống lại đồng minh của họ là Tây Đột Quyết. Nhà Đường sáp nhập Karakhoja năm 640. Karasahr năm 644. Kucha năm 648. Thái Tông đánh thắng Thổ Phiên và Cao Câu Ly .

Triều Đường Thái Tông gọi là Trinh Quan chi trị là kiểu mẫu, của các triều đại sau. Một thế kỷ sau. Khi Đường Thái Tông chết. Nhà Đường vẫn được hưởng hòa bình, thịnh vượng và bóc lột các nước khác. Triều Đường Thái Tông đặt nền móng cho triều Đường Huyền Tông Khai Nguyên thịnh thế. Thời vàng son nhất của nhà Đường.

Không tin vào các điềm lành, bài trừ mê tín. Đường Thái Tông thay đổi các lễ nghi. Giảm gánh nặng thuế người dân. Đường Thái Tông trở thành bậc đại đế, vì có thể lắng nghe khuyên can, và chịu đựng chỉ trích. Không lạm dụng quyền tối thượng của mình. Vua biết dùng các bậc Tể tưởng tài giỏi.

Đường Thái Tông nắm người hùng Thiên hạ

Lý Thế Dân là con trai thứ hai của Đường Cao Tổ Lý Uyên- vua khai quốc Đại Đường. Thế Dân thủa nhỏ đã hiển lộ tài hoa. Cao Sĩ Liêm quan nhà Tùy, gả cháu gái 12 tuổi, khi Thế Dân 14 tuổi. Thế Dân có năng khiếu nghệ thuật, đặc biệt về thư pháp và đánh đàn.

Lý Thế Dân giỏi võ nghệ, tài cầm quân. Dùng binh pháp cao cường. Can đảm. Dám làm những việc nguy hiểm nhất. Khi tấn công thì như vũ bão. Thế Dân biết lựa người và dùng người giỏi. Dùng kẻ thù cũ đã đầu hàng mình.

Lý Uyên định giết Lý Tĩnh vì mối hận riêng. Lý Tĩnh la: "Ông muốn đem thái bình cho quốc gia và cứu nhân dân mà việc đầu tiên của ông là giết một người vô tội để trả một mối thù riêng!".

Thế Dân xin cha tha Lý Tĩnh. Lý Tĩnh thành tướng tài cung phụng Thế Dân. Thế Dân 18 tuổi, nắm binh quyền. Thu phục nhiều tướng tài. Các tướng sĩ đều phục Thế Dân.

Sử gia Tàu khen đời Đường Thái Tông thịnh trị như đời vua Nghiêu , vua Thuấn .

Câu nói để đời của Đường Thái Tông:

Anh hùng trong thiên hạ đều nằm trong lòng bàn tay Trẫm.

Theo truyền thuyết, Đường Huyền Trang (Đường Tăng) đi Tây Thiên lấy kinh, được Đường Thái Tông kết huynh đệ.

Đường Cao Tổ chết. Thái Tông thả 3.000 cung nữ của Cao Tổ, về với cha mẹ. Giáng chức nhóm quý tộc, tôn thất, cha mình đã phong. Nhóm này ăn tàn, phá hại, đốt tiền thuế máu dân. Thái Tông thăng chức các thân tín của mình.

Đường Thái Tông giỏi cai trị quốc gia. Vua nói: "Lấy sử làm gương soi thì biết sự hưng suy. Lấy người làm gương soi thì biết sự được mất".

Ông dùng chính sách giảm thuế, thúc đẩy sản xuất. Thái Tông ban hành chế độ quân điền và tô dung điều chế, để đánh thuế và chia ruộng đất. Ông bảo:

Muốn làm vua được tốt, cần trước tiên để trăm họ sống nổi. Nếu vì mình mà làm tổn hại đến trăm họ, giống như cắt thịt đùi ăn vào bụng, bụng no thì người cũng chết.

Năm Trinh Quán thứ 1. Lý Thế Dân muốn xây một cung điện, nguyên liệu đã chuẩn bị xong. Nhưng vua nhớ đến phải "giảm sự xa xỉ, tiết kiệm chi tiêu". Không xây nữa. Tháng 8 năm Trinh Quán thứ 2. Quần thần ba lần kiến nghị xây lầu gác, chống ẩm thấp trong cung điện. Vua quyết không đồng ý và nói: "Việc trang hoàng lộng lẫy cung điện, tham luyến cảnh đẹp, vui chơi trong lầu gác đình đài, tuy là nguyện vọng của mỗi vị vua nhưng sự xa xỉ hoang phí là mối họa cho dân chúng, vì vậy không thể tùy tiện xây dựng".

Đầu đời Trinh Quán. Các địa phương ở Quan Trung liên tục xảy tai nạn. Thái Tông lệnh mở kho phát chẩn cho dân. Thái Tông lấy vàng bạc, vải lụa trong kho hoàng gia, chuộc những nạn dân phải bán mình làm nô tỳ.

Đường Thái Tông tận dụng người tài. Một lần ông phát hiện có một viên quan trình bản sớ tấu. Viết rất hay. Vua biết do Mã Chu, một người không có chức vị gì viết. Thái Tông lập tức chọn Mã Chu, thăng Tể tướng.

Tể Tướng Phong Đức Di không tìm được nhân tài, suốt ngày buồn rầu than thở, vua nói:

Dùng người như sử dụng đồ vật, mỗi người chọn lấy sở trường của họ, thì đâu có thiếu nhân tài kỳ sĩ. Lẽ nào thời thịnh trị ngày xưa lại phải mượn lấy nhân tài ở một thời đại khác? Đó chẳng qua là khanh không khéo biết người đó thôi.

Đường Thái Tông loại dần các quan võ biền. Đích thân lựa những người có học, có đức, thay thế. Thái Tông mở khoa tiến sĩ, trọng văn từ. Khoa minh kinh, trọng sự tinh thông. Lễ bộ coi việc khảo thí. Ai đậu rồi, muốn làm quan, phải thi lại ở bộ Lại, đậu mới được bổ dụng. Các kì thi tổ chức nghiêm, công bằng. Thí sinh gian lận, bị trừng trị nặng. Giám khảo gian lận, bị cách chức.

Chính sách dùng thi chọn người cai trị dân, là tiến bộ nhất đương thời. Quyền lực của giới quý tộc cha truyền con nối, bị thay bằng quyền của giới bình dân, có đức, trí, dũng cao.

Đường Thái Tông rất thích câu nói cảnh báo của đại thần Ngụy Trưng : "Nghe rộng thì sáng, nghe thiên lệch thì tối". Khi cùng Tể tướng bàn việc, vua gọi gián quan tham gia. Người dám chỉ ra sai lầm của vua, được đặc cách khen thưởng. Ông nói với quan viên cấp cao:

Theo chỉ ý của ta mà làm, không có một câu ý kiến bất đồng thì làm thế nào được? Từ nay về sau, nếu có chiếu sắc không thích hợp, cần chỉ ra, không được biết mà không nói.

Năm 634. Thái Tông sai 13 vị quan chức cấp cao bao gồm Lý Tĩnh và Tiêu Vũ đi khảo sát, kiểm tra xem quan viên có đủ năng lực, nhân dân có bị đói rét không. An ủi giúp đỡ người nghèo. Tìm người tài, đưa vào triều đình. Lý Tĩnh đề cử Ngụy Trưng đi thay mình. Thái Tông từ chối. Vua giữ Ngụy Trưng bên mình, để chỉ ra lỗi lầm của vua.

Ngụy Trưng chết. Vua đích thân lập bia mộ, hứa sẽ gả con gái cho con Ngụy Trưng. Nhưng vì nghi ngờ Ngụy Trưng dính đến án thái tử và uất bao năm bị Ngụy Trưng vạch lỗi, vua sai Uất Trì Cung đập bia mộ Ngụy Trưng.

Đường Thái Tông kết hợp giữa binh sĩ và nông dân. Giảm gánh nặng quốc gia. Lúc thái bình thì cày cấy. Khi chiến tranh thì ra trận. Quân không biết tướng. Tướng không biết quân. Đánh trận xong thì quân về phủ. Tướng về triều. Quân sĩ được miễn thuế. Nhưng khẩu phần lương thực và binh khí phải tự chuẩn bị. Triều đình trực tiếp quản lý quân đội. Sau triều đình cho lập chức tiết độ sứ thay mặt cai quản quân đội, tạo thành họa phiên trấn. Nhà Đường diệt vong.

Cuộc tình Đường Thái Tông- Võ Tắc Thiên

Võ Tắc Thiên (625 - 705 ) (Võ Mỵ Nương) tên thật Võ Chiếu. Bà ngoi lên ghế vua dần dần, qua các thứ bậc Tài nhân , Chiêu nghi , Hoàng hậu , Hoàng thái hậu , Hoàng đế , Thái thượng hoàng . Trước khi chết bà nhận mình là Hoàng hậu nhà Đường. Bà được đưa vào hậu cung Đường Thái Tông năm 635 . Là một trong chín người thiếp cấp thứ năm của vua. Thấy tên Võ Chiếu không đẹp, Đường Thái Tông gọi tên nàng Mỵ (Võ Mỵ Nương) nghĩa là "duyên dáng, xinh đẹp". Có thể lúc này, nàng đã gặp thái tử Lý Trị . Lén lút ái tình với vị vua tương lai.

Năm 649 . Đường Thái Tông chết. Theo lệ, Võ Mỵ Nương phải rời cung. Vào chùa Cảm Nghiệp đi tu.

Năm 651 . Thái tử Lý Trị lên ngôi (Đường Cao Tông ) đưa Võ Mỵ Nương từ chùa Cảm Nghiệp về hoàng cung. Tháng 5- 651 . Võ Mỵ được phong Chiêu Nghi .

Tháng 10- 655 . Đường Cao Tông phong Võ chiêu nghi làm Hoàng hậu.

Năm 660 . Đường Cao Tông bị trúng gió đột quỵ. Võ hậu tham gia chính sự, sau rèm cùng vua, gọi là Nhị thánh lâm triều. Cao Tông phục tùng Võ hậu. Rồi nhận ra sự nguy hiểm của bà. Vua ngầm lệnh Thượng Quan Nghi tìm cách phế truất. Việc bại lộ. Thượng Quan Nghi bị Võ hậu xử tội chết. Đường Cao Tông mất hết quyền. Phụ thuộc Võ hậu.

Năm 667. Cao Tông quá yếu, giao thái tử Lý Cường việc nước. Thực chất Võ hậu làm chủ chính trường. Năm 674. Triều đình tôn Cao Tông là Thiên hoàng. Võ hậu là Thiên hậu. Sử nhà Đường chép: "Các quần thần tấu sự, mọi việc hoàng hậu đều thay vua quyết định". Dân Tàu có câu: "Cao Tông là Thiên Hoàng, Tắc Thiên là Thiên Hậu" và gọi là "Nhị thánh"trong triều. "Tắc Thiên". "Tắc" là phép tắc, pháp luật. "Thiên" là Trời. Võ Tắc Thiên là người "thay Trời hành đạo".

Đường Thái Tông & Hậu họa

Gần cuối đời. Đường Thái Tông phải thấy cảnh thái tử Lý Thừa Càn , chính con trai mình làm phản. Muốn giết ông, cướp ngôi. Lặp lại Đường Cao Tông giết cha giành ngôi. Lý Thừa Càn không chịu học. Sống lêu lổng. Dựng lều trong vườn cấm. Cùng bọn lưu manh cướp bóc dân chúng đem về nhậu nhẹt. Hát những bài hát Hồ. Nhiều đại thần khuyên Thái Tông truất ngôi thái tử. Vua sợ các con sẽ giết nhau. Và giết chính mình. Không nghe khuyên. Giữ đúng tôn pháp nhà Chu của Võ hậu. Con cả dòng vợ chính được nối ngôi.

Lý Thừa Càn âm mưu giết cha cướp ngôi. Mưu bị lộ. Thái Tông không nỡ giết. Đày đi Tứ Xuyên. Năm sau. Lý Thừa Càn chết tại đó. Những kẻ xúi giục thái tử đều bị hành quyết. Cuộc tranh ngôi đẫm máu của các loại con, diễn trò trước mặt Đường Thái Tông.

Cuối đời. Đường Thái Tông sống xa hoa, xây dựng ngày một nhiều. Không nghe lời nói phải. Đường Thái Tông xây Lăng Yên Các , cho người vẽ hình và ghi lại sự tích của 24 vị công thần để đời sau thờ.

Đường Thái Tông cho lấy sáu khối đá lớn khắc hình sáu con chiến mã quý của mình, được gọi là "Chiêu lăng lục tuấn". Sáu con ngựa này đã theo Thái Tông vào sinh ra tử. Nhiều phen cứu mạng ông trên chiến trường. Khi chết ông muốn sáu ngựa "theo bảo vệ tả hữu" mộ phần của ông. Thái Tông làm thơ miêu tả sáu con ngựa quý, khắc vào đá. Công trình thực hiện từ năm 636- 649 hoàn thành, được cho là "Tiêu biểu cho vẻ đẹp của các tác phẩm điêu khắc đầu thời Đường, những hình ảnh vừa thực tế vừa mạnh mẽ, được tạo ra từ sự đơn giản nhưng lão luyện của các nghệ nhân điêu khắc". Sau khi Thái Tông mất. Các tượng được đặt ở hai phía đông tây tại cửa bắc của Chiêu Lăng. Đầu thế kỷ 20 được dời về Tây An . Năm 1921. Bán đấu giá cho bảo tàng Penn ở Philadelphia .

Giống Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế . Đường Thái Tông sợ chết. Vua cho người đi tìm thuốc trường sinh và ăn các loại đan dược như Tần Thủy Hoàng. Ông bị ngộ độc. Trước khi chết một năm. Vua nói với Thái tử Lý Trị : Một đời mình tuy công lớn hơn lầm lỗi, nhưng nếu đem so sánh với tận thiện, tận mỹ thì còn rất đáng hổ thẹn.

Năm 649. Đường Thái Tông chết. Tuổi 51.

Nhà Đường mê đắm Tài nguyên Đất Việt

Nhà Đường coi An Nam là một trọng trấn. Tàn bạo bóc lột nặng nề, dưới nhiều hình thức. Hằng năm các châu quận An Nam phải cống nạp nhiều sản vật quý (ngà voi , đồi mồi , lông trả, da cá, trầm hương , vàng , bạc ...) và sản phẩm (lụa , tơ , sa , the , đồ mây , bạch lạp ...).

Ngoài việc cống nạp, người Việt Nam phải nộp nhiều loại thuế mới. Có nhiều loại thuế man rợ. Sử nhà Đường thừa nhận rằng các quan lại ở An Nam đã đánh thuế rất nặng. Riêng thuế muối ở Lĩnh Nam hàng năm bằng 40 vạn quan tiền. Ngoài thuế muối và gạo, còn phải nộp thuế đay , gai , bông và nhiều thuế "ngoại suất" (thuế đánh 2 lần). Nhà Đường dựa vào tài sản chia làm ba loại thuế:

Thượng hộ nộp 1 thạch 2 đấu. Thứ hộ nộp 8 đấu. Hạ hộ nộp 6 đấu. Các hộ vùng thiểu số nộp 1/2 số trên. Song có những quan lại nhà Đường vẫn bắt người thiểu số nộp toàn bộ số thuế như dân cư đồng bằng.

Sử nhà Đường ghi nhận các quan đô hộ tham ác, vơ tài sản, tài nguyên, của người Việt. Làm giàu. Chạy chức. Thăng tiến. Cao Chính Bình "phú liễm nặng". Lý Trác "tham lam ăn hối lộ, phú thuế bạo ngược", bắt người dân miền núi phải đổi 1 con trâu bò chỉ để lấy được 1 đấu muối . Lý Tượng Cổ "tham túng, bất kể luật pháp "...

Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự phản kháng của người Việt. Năm 687. Lý Tự Tiên và Đinh Kiến nổi dậy chống thuế. Chống quan đô hộ Lưu Diên Hựu.

Mưu sự chưa phát, thì bị Lưu Diên Hựu biết. Hắn giết Lý Tự Tiên. Đinh Kiến hào trưởng, một thuộc tướng của Lý Tự Tiên , đứng lên kế tục Tự Tiên lãnh đạo quân khởi nghĩa (nay vẫn chưa rõ quên quán, năm sinh Ðinh Kiến).

Đinh Kiến cùng Tư Thận một thủ lĩnh khác, hợp quân tiến công. Bao vây phủ đô hộ, thành Tống Bình . Quân Lưu Diên Hựu bị cắt làm hai. Một nửa ở ngoài và một nửa cố thủ trong thành. Không liên lạc được với nhau. Trong thành còn ít quân, Diên Hựu không chống cự được. Phải cố thủ và sai người đi cầu cứu Phùng Tử Du, tướng trấn giữ Quảng Châu của nhà Đường.

Phùng Tử Du tuy nhận lời, nhưng vốn ganh ghét với Lưu Diên Hựu. Mặc kệ không cứu. Muốn mượn tay Đinh Kiến giết Hựu.

Đinh Kiến tấn công mạnh vào thành Tống Bình. Phá thành. Giết Diên Hựu. Quân khởi nghĩa Đinh Kiến làm chủ phủ thành Tống Bình .

Tống Bình thất thủ. Nhà Đường phái Tào Huyền Tĩnh, Tư Mã Quế Châu mang quân sang dẹp.

Chính quyền Đinh Kiến mới lập. Quân lính mới tụ hội, chưa có kinh nghiệm trận mạc. Tào Huyền Tĩnh tổ chức tấn công lớn. Đinh Kiến không đủ sức chống cự. Ông bị quân Đường giết. Nhà Đường tái lập sự cai trị An Nam.

Nhà Đường tăng cường xây cất thành trì và quân phòng thủ Tống Bình , châu Hoan, châu Ái. Trong phủ thành đô hộ Tống Bình, thường xuyên có 4.200 quân đồn trú.

Vùng biên giới phía tây bắc như miền Lâm Tây, Lân, Đăng hằng năm có 6.000 quân trấn giữ gọi là quân "phòng đông" (phòng giữ vào mùa khô), chống sự xâm lấn của nước Nam Chiếu . Thời gian đầu, nhà Đường chỉ dùng quân "phòng đông" từ phương Bắc sang. Từ thời Đường Trung Tông , buộc phải dùng cả quân người Việt xen lẫn.

Nhà Đường bỏ các quận nhà Tùy lập ra. Khôi phục chế độ các châu nhỏ thời Nam- Bắc triều . Năm 622. Nhà Đường lập Giao Châu đô hộ phủ. Người đứng đầu gọi là tổng quản.

Năm 679 . Nhà Đường đổi quận Giao Chỉ trở lại thành Châu Giao. Đặt Phủ Đô hộ Giao Châu. Bấy giờ, vùng Lĩnh Nam có 5 đô hộ phủ, cai quản châu Giao, châu Quảng, châu Quế, châu Dung, châu Ung, gọi chung là Lĩnh Nam ngũ quản.

Sau đó, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ . Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ đây. Chức quan đứng đầu Phủ Đô hộ An Nam gọi Kinh lược sứ, sau đổi thành Tiết độ sứ . Nhà Đường chia Giao Châu làm 12 châu, chia thành 59 huyện.

Năm 624. Đường Cao Tổ đổi các Phủ Đô hộ thành Phủ Đô đốc. Phủ Đô hộ An Nam thành Phủ Đô đốc An Nam. Năm 679. Đường Cao Tông đổi về tên cũ.

Năm 757. Đường Túc Tông đổi An Nam đô hộ phủ thành Trấn Nam đô hộ phủ . Chín năm sau (766) đổi về tên cũ.

Năm 863. Nhà Đường bãi bỏ Phủ Đô hộ An Nam. Lập Hành Giao Châu, đóng tại Quảng Tây ngày nay. Chưa đầy 1 tháng. Tái lập Phủ Đô hộ An Nam nằm trong Hành Giao Châu.

Năm 866. Nhà Đường đổi Phủ Đô hộ An Nam thành Tĩnh Hải quân.

Thịnh Đường là như thế! Vua quan cướp của, giết người nước khác về xây Thịnh Đường.

Đêm Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh. Đàn vạc nỉ non

Khóc Thịnh Đường

Thịnh Đường ơi! Hỡi Thịnh Đường!

Ông thương, ông xót dân thường nước ông?

Ông xưng hùng bá muôn phương

Vòi voi, bạch tuộc, hút xương nước người

Nuôi tham ác béo phương phi

Ăn thịt đồng loại, gan trương nộn phì

Bây giờ ông ở Âm ty

Địa ngục tra khảo hay gì hỡi ông

Thế giới hợp tác, hiệp đồng

Thịnh Đường còn cố vẫy vùng được không?

Dân Việt nhân hậu khoan hồng

Cầu Địa Tạng Vương tha ông tội đồ.

(… Còn tiếp ...)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 25.4.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn