Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Trịnh Công Sơn:

Đúng Sai Của Một Niềm Tin






   Đ ược coi như một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến (600 ca khúc), phần lớn là tình ca . Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc. Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản-chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và phần lớn bị cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm đoán. Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly . Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ không chuyên.

Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như "Diễm Xưa " (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt ), "Ca dao Mẹ", "Ngủ đi con". Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa . Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", MTGP miền Nam cũng không tán thành cách nhìn phản chiến của ông về chiến tranh, vốn mang tính "chủ hòa, ủy mị", vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc "chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước". Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người gạt ông sang bên lề vì coi ông là "thiếu lập trường chính trị.

Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 , ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài "Nối vòng tay lớn", bài hát kêu gọi và nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968. Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh : "Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta... Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước... Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập , tự do , và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được..."

Một thời gian dài sau 1975, nhiều bài hát của ông bị cấm ở tại Việt Nam hay bị một số người kêu gọi tẩy chay ở hải ngoại . Tuy nhiên, Khánh Ly và nhiều ca sĩ vẫn tiếp tục hát và phát hành không ngưng nghỉ những băng đĩa với ca khúc của ông tại hải ngoại.

Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm việc tại Hội Âm nhạc TpHCM , tạp chí Sóng nhạc . Từ đầu thập niên 1980 , TCS bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ, Nhớ mùa thu Hà Nội... Sau đó nhà nước VN đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.

Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ . Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do "có tính phản chiến" .

Trịnh Công Sơn: đúng sai của một niềm tin

Tháng tư là ngày giỗ thứ 14 của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1 tháng 4). Đã bao nhiêu năm qua rồi nhưng TCS vẫn được rất nhiều người nhớ đến. Anh Trịnh Công Sơn (TCS) không giống những nhạc sĩ Việt Nam khác: sáng tác của anh vượt xa ngoài lãnh vực tình ca; và anh có một lập trường chính trị – dù rằng vì lập trường đó mà anh có lắm kẻ yêu lẫn nhiều người ghét, từ lúc anh còn sống cho đến mãi bây giờ. Nhạc sĩ khác với triết gia, họ chỉ cảm nhận rồi đưa vào âm nhạc, cho nên TCS không biện luận trong nhạc của mình. Anh chỉ nói lên những nỗi khổ do chiến tranh, và nghĩ rằng chính chiến tranh làm cho người Việt không thương nhau mà thù hằn nhau. Cho nên TCS chủ trương trước hết người Việt phải biết thương yêu, có tình người với nhau; rồi từ đó mới có thể cùng xây dựng chung một cái gì đó. Đây là một suy nghĩ tích cực, khác xa với thái độ của rất nhiều người mà giáo sư Nguyễn Văn Trung gọi là “những kẻ đứng bên lề”. Những người nầy, sống trên đất nước của chính mình nhưng không làm gì cả, cũng không có thái độ, chỉ đứng nhìn và kêu khóc rằng chúng tôi là dân lương thiện bị cả hai bên làm khổ, một bên là Mỹ và một bên là Miền Bắc. Số người này không phải là ít, thực ra họ có thấy xã hội VN suy sụp nhưng lại mong mỏi có một đấng anh hùng nào đó đứng ra làm giùm họ, trổ tài an bang tế thế để cho xã hội được như ý họ muốn. TCS thì không như vậy, tình cảm muốn hiến dâng trong anh rất rõ rệt: Cho tôi đi xây lại chuyện tình/ Cho tôi đi nâng dậy hòa bình/ Cho tôi đi qua tận gập ghềnh/ Nhìn giòng máu trong tim anh…(TCS: “Xin Cho Tôi”)

Bây giờ nhìn lại, trong ý hướng của TCS có nhiều nét đẹp, nhưng tất cả những gì anh nghĩ đều không thể đúng hết. Vì thời đó, không ai có thể thấy được tất cả những khía cạnh khác nhau của cuộc chiến VN, đâu riêng gì TCS. Phải rất lâu về sau, TCS (và rất nhiều người khác) mới từ từ có cơ hội để biết được thực trạng của vấn đề VN. Còn thuở đó, người ta chỉ dựa trên niềm tin, và mong rằng khi đã có nhiều cố gắng cũng như thành tâm thì việc có thể làm được.

VN ta thì trước đây cụ Phan Chu Trinh đã có suy nghĩ như vậy.  Nghĩa là cứ nhận sự đô hộ của người Pháp, nói chuyện với họ để có được sự nhượng bộ, rồi phần ta thì lo tự cường, học hỏi,  “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”  (“hậu” nghĩa là dày, nghĩa là làm cho cuộc sống người dân được phong phú);  và một khi điều này được thể hiện thì quốc gia sẽ tiến bộ, dần dần độc lập một cách hòa bình. Đáng tiếc là chủ trương của cụ Phan không được thực hiện, vì cụ mất sớm (1926), và những người có thể kế thừa chủ trương của cụ như cụ Phạm Quỳnh thì bị ám sát năm 1945. Chỉ còn lại một người là cố Tổng thống (TT) Ngô Đình Diệm, một người vừa có kinh nghiệm hành chánh, vừa có sát bên mình một trí thức đầy bản lĩnh là ông cố vấn Ngô Đình Nhu. Bối cảnh lịch sử của TT Diệm có nhiều điểm rất giống ông Lý Quang Diệu của Singapore, một người cũng có nhiều kinh nghiệm hành chánh.  Ông LQ Diệu không chống đối mà hợp tác với quân Nhật thời Nhật chiếm Singapore.  Khi nước Anh tách Singapore ra khỏi Malaysia, ông LQ Diệu đi theo sát với Anh (và dĩ nhiên cả với Mỹ) để xây dựng và phát triển.  Phía TT Diệm thì có chủ trương là đi sát với Mỹ để xây dựng và phát triển xã hội…Tuy nhiên hoàn cảnh của TT Diệm khó khăn hơn Singapore và các nước Đông Á khác rất nhiều, ông luôn luôn bị đối diện với chiến tranh.  Trong những năm đầu là các chống đối vũ trang của các thế lực thân Pháp, ngoài ra còn có Đại Việt ở Quảng Trị, Quốc Dân Đảng ở Nha Trang; rồi năm 1960 là MTGP Miền Nam ra đời.  Trong khi chưa kịp đào tạo được lớp người mới để thay thế lớp người thân Pháp cũ, năm 1963 cả hai anh em TT Diệm đều đã bị sát hại. Bây giờ ai cũng biết, một phần nguyên nhân cốt lõi của việc đảo chính và ám sát TT Diệm là do cả hai anh em TT không muốn để Mỹ đổ quân vào đánh trực tiếp ở VN (?).  TT Diệm mất đi, những kẻ bầy tôi phản bội phải ra sức bôi nhọ thể chế Ngô Đình Diệm để hợp thức hóa việc họ làm, và họ để quân Mỹ leo thang chiến tranh. 

Cuộc chiến khốc liệt mà Trịnh Công Sơn cho thấy trong những bài ca của anh là bắt đầu từ những năm tháng bi thương đó. Thử hỏi, TCS (và tầng lớp thanh niên trong khoảng thế hệ của anh) đã bao giờ có cơ hội để có thể:

1/- So sánh Singapore với VN, và dễ hiểu con đường như thế nào thì có thể giải quyết được vấn đề VN không đổ máu và đưa đất nước lên được như một xã hội Singapore mà ngày nay cả thế giới đều ngưỡng mộ?  Nếu có cơ hội để thấy được tất cả những khía cạnh đó của cả một bức tranh lớn toàn thế giới, TCS sẽ có một thái độ về cuộc chiến VN như thế nào?

2/- Quy luật của chiến tranh: đã là chiến tranh chắc chắn có tàn khốc, vô nhân đạo, triệt để, cảnh giác.  Nhưng đa số mọi người trong xã hội VN (VNCH) lúc đó đã không nhìn chiến tranh với một thái độ nghiêm túc, một còn một mất. 

Chỉ kể ra một vài điểm tiêu biểu:  Trong xã hội đó, Quốc Ca thì dùng bài hát của 1 tác giả “phía bên kia”, thơ văn cũ của những cây bút “tuyên giáo” ở miền Bắc như Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Công Hoan, vv… thì được in bán công khai thoải mái.  Huỳnh Tấn Mẫm là đảng viên Miền Bắc thực thụ, nhưng được tướng cao cấp trong chính quyền che chở. TCS sống trong xã hội đó, cho nên anh cũng không thể không bị ảnh hưởng. 

Anh nói đến “tình thương”, nhưng tình thương thì phải có hai chiều, qua và lại.  Nếu một bên rất quyết liệt và không hề chủ trương “yêu nhau”, vậy “tình thương một chiều” của TCS có quá dễ dãi hay không?

3/- Kinh nghiệm sống: Cuộc sống ở thành thị miền Nam và nông thôn, nhất là nông thôn vào ban đêm, rất khác nhau.  Nếu TCS sống ở vùng nông thôn hẻo lánh và lại đang ở lứa tuổi đi lính, có thể TCS đã nhìn vấn đề khác với chính anhtrong thời 1964-1974.  Mặt khác, cũng nên hỏi trước 1975 TCS có biết gì không về những chính sách “hồng phải hơn chuyên” hay “tính đảng hơn tính nhân văn” ở miền Bắc?  Ví dù có biết ít nhiều gì đi nữa, liệu anh có coi trọng vấn đề? Đáng tiếc là sau 1975, sau khi đã chạm trán với những thực tế, thì TCS đã ở trong hoàn cảnh không thể viết lên những gì anh suy nghĩ như xưa nữa.  Có thể từ lúc đó trở đi anh mới có cơ hội để so sánh, và được biết thêm rất nhiều sự thực, ví dụ như thi sĩ Nguyễn Bính bị đói, nhạc sĩ Văn Cao bị treo bút trong suốt mấy thập niên ra sao.  Qua kinh nghiệm thực tế, anh trở nên dè dặt, và tránh đưa ra những nhận định về chính trị.  Tuy nhiên đa số bạn bè thông cảm được sự im lặng đó, vì sau những lần đi cải tạo, và liên tiếp bị viết rất nhiều bài kiểm điểm, anh đã nói rất rõ:

Đôi tay nhân gian chưa hề độ lượng/ Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì (TCS: “Một Cõi Đi Về”)

Nhưng thế nào đi nữa, khi nghĩ về TCS, chúng ta vẫn nhớ được rằng anh là một người can đảm, do anh đã dám nói lên những điều mình suy nghĩ, trong một thời gian rất dài.  Với tài năng thiên phú, anh cũng đã nói lên được suy nghĩ của mình bằng những giòng nhạc rất đặc biệt, tuyệt vời.

Tất cả chúng ta ai cũng có mang niềm tin, và niềm tin nằm ở những gì mà mỗi cá nhân chúng ta cho là đúng, ở vào một thời điểm nào đó.  Niềm tin đó đúng hay sai, trên thực tế, nhiều khi cần phải tốn rất nhiều thời gian mới nhận ra được.  Trường hợp nhạc sĩ TCS cũng thế thôi. TCS ra đi đã lâu, thế hệ của anh cũng đã nhiều người mất, chúng ta mong các anh được yên nghỉ.  Riêng với tất cả người Việt đang còn sống, trước mặt vẫn còn là một câu hỏi lớn và căn bản chưa được giải quyết, đó là cả dân tộc vẫn chưa tìm được một giải pháp cụ thể nào cho tương lai đất nước:  Phải làm gì, làm thế nào, với phương tiện gì … để người Việt có được tự do, hòa bình, ấm no, và hạnh phúc. Cá nhân nào cũng có ước mơ, dân tộc nào cũng có ước mơ.  Nhưng chỉ mơ ước không thôi thì không đi đến đâu cả  –  dù TCS và tất cả người Việt chúng ta đều cùng mang một ước mơ chung: Đêm thôi dài, cho mai này/ Người Việt hát cuối làng đầu phố/ Đêm no lành/ Đêm thanh bình/ Người Việt thấy tương lai rất gần/ Đường ta đi hôm nay có bước chân tự do/ Người Việt Nam hôm nay sống với nhau thật thà…(TCS: “Đêm Bây Giờ Đêm Mai” & “Đồng Dao Hoà Bình”)

[Bài của Văn Lang Tôn Thất Phương] 

ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN

Đồng dao là những bài ca dành cho trẻ em hát, trẻ em chơi. Là lời của trẻ em nên lắm lúc người lớn không hiểu. Một ngày nào đó, khi người ta lớn, tất cả mọi thứ đều có ý nghĩa rõ ràng thì người ta không còn hát Đồng dao nữa.Và người ta cũng quên cả chơi: Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi, đến cổng nhà trời, lạy cậu lạy mợ, cho cháu về quê…Những bài Đồng dao ấy, đã là ngày xưa.

Nhà văn của chuyện thần tiên Andersen bảo: “Có những người giữ được tâm hồn trẻ thơ lâu hơn những người khác…”. Nhà văn Saint-Exupery trong truyện Hoàng tử bé, Chồn (tượng trưng cho sự già dặn, minh triết) nói với hoàng tử Bé: “Và đây là điều bí ẩn của ta, nó thật là đơn giản. Chỉ với Trái Tim người ta mới nhìn được rõ. Những điều thực sự là then chốt thì mắt trần không thể thấy được…” James Legge cũng nói “Một con người vĩ đại là người không đánh mất Trái tim của Trẻ thơ” Sơn là một người như thế. Nên ông vừa hát vừa chơi. Đến hơi thở cuối cùng của cuộc đời mình. Này nhé, Sơn chẳng đã tự hát đấy sao?

            Tôi vui chơi giữa đời ối…a…Biết đâu Nguồn cội

Chúng ta –những người lớn - vẫn hát nghêu ngao hát ca khúc “Biết đâu Nguồn cội” của TCS:

           Em đi qua chuyến đò thấy con Trăng đang nằm ngủ/ Con Sông là quán trọ và Trăng - tên lãng du
           Em đi qua chuyến đò í…a…thấy Trăng còn trẻ/ Con Sông đâu có ngờ ngày kia Trăng sẽ già…
            Tôi vui chơi giữa đời ối…a…Biết đâu Nguồn cội/ Tôi thu tôi bé lại làm mưa tan giữa trời!

Và TCS ước mong được bé lại để tan giữa trời như một cơn mưa…Mà hình như Andersen là thế. Thi hào Tagore, Nobel văn chương đầu tiên của châu Á, cũng thế: “Tôi bao giờ cũng già và cũng trẻ như người trẻ nhất và già nhất làng này.” Những tâm hồn lớn chưa bao giờ thôi làm một đứa trẻ thơ. Như đúng 14 năm trước – ngày Cá tháng Tư…Tim mọi người đau nhói khó tin vào Sự thật của một cuộc ra đi. TCS đã thầm lặng dâng hiến, vắt kiệt tình yêu cho đời…mà ta gọi Sơn là “Kẻ du ca” về thân phận con người, Sứ giả của Tình yêu, Người hát rong của thế kỷ XX…Thực ra, kẻ rong chơi lãng tử ham chơi đến độ đam mê :

           Hãy cứ vui chơi cuộc đời, Đừng cuồng điên mơ trăm năm sau…(TCS: Hãy cứ vui như mọi ngày)

Đã chọn một ngày nói chơi…giã từ cuộc chơi cõi tạm…”về chốn xa xăm cuối trời” …để chọn một cuộc chơi khác…mà chúng ta…chưa biết, chưa được chơi…

Những văn nghệ sĩ được đặt tên đường 2015

Người dân TpHCM đang rất quan tâm, hào hứng khi tại vùng đất này vừa có thêm tám văn nghệ sĩ được đặt tên đường (Phạm Trọng Cầu, Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Đình Thi, Huy Cận, Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh). Bởi còn hiếm hoi những văn nghệ sĩ tên tuổi được chọn đặt tên đường tại Việt Nam (Văn Cao đã được đặt tên đường ở Hà Nội, TpHCM và nhiều tỉnh, còn Phạm Duy? ). Tất cả các văn nghệ sĩ được chọn lần này đều xứng đáng; không ít người trong số họ đã trở thành một huyền thoại gắn với vùng đất Sài Gòn – phương Nam. Có không ít những tên phố tên đường ở khắp đất nước mà số đông người dân không nhận biết đó là ai. Thật vui khi tám văn nghệ sĩ được chọn đặt tên ở TpHCM lần này đều là những cái tên ở trong lòng công chúng.

Hai huyền thoại cải lương Sài Gòn – Nam bộ và một nhạc sĩ phản chiến

Đáng chú ý với người Sài Gòn trong số văn nghệ sĩ được đặt tên đường lần này là hai huyền thoại của cải lương – một bộ môn nghệ thuật đặc trưng của vùng đất Phương Nam, một đặc sản văn hóa thị dân lừng lẫy một thời của Sài Gòn:

-Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 

 Một trường hợp khác là nhạc sĩ cũng đã trở thành huyền thoại bởi sự ngưỡng mộ rộng rãi của công chúng – đó là nhạc sĩ TCS (1939-2001). Có thể nói không có mấy người người trưởng thành ở các đô thị của Việt Nam lại vô tình hay hữu ý không thuộc được một câu hát, một tên bài hát của nhạc sĩ TCS. Bởi những bài hát, những ca từ của ông nói lên cứ như một cảnh ngộ sống dễ xảy ra trong đời.

Ca từ như một triết lý, một quan điểm sống mà người khác dễ dàng chia sẻ, đồng cảm. Hơn ai hết, người Sài Gòn rất vui và tự hào khi tên ông trở thành tên đường ở thành phố của mình bởi ông đã sống nhiều năm đến cuối đời và thành danh tại TpHCM. Từ khi ông mất đến nay, cũng chưa bao giờ người Sài Gòn thôi nhớ về ông. Mỗi năm, vào ngày giỗ nhạc sĩ TCS đều được tưởng niệm bởi một đêm nhạc đại chúng với hàng chục ngàn khán giả.

LỜI KẾT

Nhạc Tình

Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của TCS tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...

Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực.

Nhạc về Thân phận con người

Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con người. Ông cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ nghĩa siêu thực của phương Tây, nhạc TCS thấm đượm màu sắc hiện sinh của các tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert Camus,... Tiêu biểu là các ca khúc Cát bụi, Đêm thấy ta là thác đổ, Chiếc lá thu phai, Một cõi đi về, Phôi pha,.... Trong đó nhiều bài mang hơi hướng thiền như Một cõi đi về, Giọt nước cành sen.

Nhạc Phản chiến

Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, hay còn gọi là Ca khúc da vàng theo tên các tập nhạc của ông phát hành cuối thập niên 60. Những ca khúc da vàng thường nói lên thân phận của những người dân một nước nhỏ (nhược tiểu) bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giựt ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da).

Nhạc phản chiến của TCS phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, ủy mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của TCS lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong Từ điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp. Và một nữ sinh viên Nhật trình luận án “Nhạc phản chiến TCS” tại Paris, Pháp –mà GS Trần Văn Khê ở trong Ban giám khảo. -Trịnh Công Sơn và Bob Dylan giống và khác nhau ở điểm nào đã được John Schafer chỉ ra trong tác phẩm  “Trịnh Công Sơn - Bob Dylan như trăng và nguyệt?”, NXB Trẻ ấn hành năm 2012. 

(Từ khi trăng là nguyệt đèn thắp sáng trong tôi/ Từ khi trăng là nguyệt em mang tim bối rối
Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui/ Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời…

-TCS: Nguyệt Ca)

Cho đến nay, hiếm có người Mỹ nào lại am hiểu nhạc TCS đến như vậy. John Schafer cảm nhận được “cơn gió” trong tâm hồn của hai nghệ sĩ lớn: “Cái gió” mà Bob Dylan muốn gửi đi để xóa tan mọi bất công xã hội, cái “gió” mà TCS muốn gửi đi để gieo mầm tình thương đến mọi người.

Tác giả làm một cuộc đối thoại giữa hai luồng tác phẩm phản chiến, giữa hai hướng thi ca, giữa hai nền văn hóa, giữa Phật giáo và Kitô giáo, khép lại bằng kết luận: “Trịnh Công Sơn lúc nào cũng mở rộng tâm của mình và tâm của người khác. Những ca khúc của ông như liều thuốc giảm đau cho tâm hồn con người, vì chứa đầy tính từ bi và khoan dung”. John Schafer là giáo sư dạy môn Ngôn ngữ học áp dụng và Văn chương đối chiếu tại Đại học Humboldt, California, Mỹ. Ông từng viết nhiều bài về văn chương Việt Nam và đề tài TCS đã được ông theo đuổi từ lâu.

- Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh VN. Cũng vì loại nhạc này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía TCS, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.

Cho đến nay, tròn 40 năm hòa bình, rất nhiều bài hát "da vàng" của ông chưa được phép lưu hành chính thức tại VN hiện nay dù đã từng rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài Gia tài của mẹ, Cho một người vừa nằm xuống , Đi tìm quê hương, Chính chúng ta phải nói hòa bình, Chưa mất niềm tin, Chờ nhìn quê hương sáng chói, Hát trên những xác người, Ta đi dựng cờ, Ta quyết phải sống).

- 40 năm trước, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã cầm guitar, nghêu ngao ca hát :

Bài hát: Nối Vòng Tay LớnTrịnh Công Sơn

     Rừng núi giang tay nối lại biển xa/ Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
            Mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau/ Mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
            Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam

            Cờ nối gió đêm vui nối ngày/ Dòng máu nối con tim đồng loại
            Dựng tình người trong ngày mới/ Thành phố nối thôn xa vời vợi
            Người chết nối linh thiêng vào đời/ Và nụ cười nở trên môi

            Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay/ Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi
            Vượt thác cheo leo tay ta vượt đèo/ Từ quê nghèo lên phố lớn
           Nắm tay nối liền biển xanh sông gấm/ nối liền một vòng tử sinh.


(Tham khảo: Sách báo – Internet)


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 25.4.2015.