Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



TRÀNG THÀNH - ĐẤT HỌC




"N ghệ Yên Thành...” (*), miền đất trung du, người dân cần mẫn, ruộng đồng mênh mông, bốn mùa khoai lúa bời bời. Người xưa có câu: “Yên Thành là mẹ là cha/ Đói cơm rách áo thì ra Yên Thành”. Miền quê “gạo trắng nước trong” này là vùng đất nổi tiếng về truyền thống cách mạng, khoa bảng, hiếu học. Trung tâm huyện Yên Thành là làng Tràng Thành xưa (nay là xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Từ  lâu, Người Nghệ coi đây là vùng đất phong thủy quy tụ, phát tích khoa bảng, danh nhân.

Từ xưa, ông cha ta tuyển chọn nhân tài qua học hành thi cử, coi “tri thức là nguyên khí quốc gia”. Nhà nước phong kiến tổ chức thi cử rất nghiêm minh. Không có chuyện bằng thật, bằng giả!... Người xưa coi khoa bảng là trí tuệ và vinh danh thực sự.

* Thời Hán học: Xứng danh với cả nước, Tràng Thành có 3 vị đại khoa, 21 vị trung khoa, 75 vị đậu hiệu sinh, tú tài…

Ba vị Đại khoa: Phan Duy Thực (còn có tên là Phan Văn Công): đậu Thám hoa năm Bính Ngọ (1546), đời vua Lê Trang Tông. Vừa đậu đệ nhất giáp, đệ nhị danh thi Hội thì được nhà vua cử đi dẹp giặc. Ông hy sinh vì nước. Được phong Phúc thần. Phan Tất Thông: 23 tuổi đậu Thám hoa, Đệ nhất giáp chế khoa Giáp Dần, năm Thuận Bình thứ 6 (1554), đời vua Lê Trang Tông. Làm quan đến Đông các, Thừa Chánh sứ, Thị lang bộ Binh, tước Hòa mỹ hầu. Được phong Phúc thần. Sử sách các triều xếp ông là một trong những danh nhân xứ Nghệ. Phan Hưng Tạo: Thi đậu Tiến sỹ khoa Canh Dần (1650). Làm quan nhiều năm, nổi tiếng thanh liêm.

Ngoài ba vị trên, người gốc Tràng Thành đậu Đại khoa còn có Trạng nguyên Hồ Tông Thốc là cháu ngoại của Tràng Thành, cùng hai Tiến sỹ Nguyễn Văn Bính (đậu khoa Kỷ Sửu, Quang Thuận thứ 10) và Tiến sỹ Nguyễn Tiến Tiêu đậu Tiến sỹ kiêm Tạo sỹ (Tiến sỹ Võ), được phong Duệ Trí hầu Hùng lược công. Cả ba vị này nhiều năm sống và học tập ở Tràng Thành.                  

Hai mươi mốt vị Trung khoa:

Bao gồm Giám sinh, Hương cống Triều Lê, Cử nhân Triều Nguyễn (Giám sinh là những người đã qua thi Hương, được cử đi học ở trường Quốc Tử Giám để thi Hội, thi Đình. Có những người học giỏi, được cử đặc cách làm Giám sinh, không qua thi Hương).

Triều Lê có 14 vị Trung khoa, trong đó có 5 vị thi Hội trúng Tam trường (tương đương Phó bảng triều Nguyễn). Phan Tất Hành: Trúng khoa Hoành từ đời vua Lê Thánh Tông, sung Thuận Hoá Thừa chính sứ, lễ bộ đại thần, tước Đường lộc hầu. Phan Trọng Hoành: Hiệu là Thành Giang, thi Hội đậu Tam trường năm Mậu Thìn (1748). Phan Đạo Hạnh (Phan Tất Thành): Hiệu là Quan Giang, thi Hội đậu Tam trường. Phan Tất Đạo: Tự Minh Triết, hiệu Đàm Khê, đậu Hương cống năm Thuận Bình (1549-1556), thi Hội đậu Tam trường. Phan Tất Thanh: Tự Minh Đạt, hiệu Doanh Khê, đậu Hương cống năm Quang Hưng (1578-1599), thi Hội đậu Tam trường. Phan Huyền Nhai: Đậu Hương cống năm Dương Hòa (1625-1643), thi Hội đậu Tam trường, gia phả họ Mạc (bản viết năm 1920) ghi ông đậu Tiến sỹ khoa Vĩnh Thọ (1648). Phan Cảnh Nho: Người họ Phan Văn, đậu Hương cống năm Cảnh Hưng (1740-1786), thi Hội đậu Tam trường. Phan Thọ Sinh: Đậu Giám sinh năm Quang Hưng (1528-1599). Phan Tất Hữu: Đậu năm Quang Hưng (1578-1599). Phan Tất Nguyên: Hiệu là Tuấn Triết, đậu năm Hoàng Bảo (1601-1619). Phan Tất Văn: Tự Liêm Châu, hiệu Doanh Nhất Xuyên, đậu Hương cống năm Chính Hòa (1690- 1705). Nguyễn QuangVinh: Giám sinh Quốc tử giám, đậu Hương cống. Phan Huyền Lam: Nổi tiếng học giỏi, thần đồng, là Giám sinh Quốc tử giám năm 14 tuổi, đậu Hương cống năm Vĩnh Thọ (1658-1661). Lương Danh Bá: Đậu Hương cống.

Triều Nguyễn có 7 vị Trung khoa: Phan Thế Trung: Đậu Cử nhân (thứ 23), khoa Canh Tuất, năm Tự Đức thứ 3 (1850). Phan Lữ: Đậu Cử nhân (thứ 13), khoa Mậu Ngọ, năm Tự Đức thứ 11 (1858). Phan Hoàng Tế: Đậu Cử nhân năm 23 tuổi (thứ 21), khoa Bính Ngọ, năm Thành Thái thứ 18 (1806). Thái Văn Tố: Đậu khoa Ất Mão, Duy Tân thứ 9 (1915). Phan Văn Trứ: Đậu Cử nhân Võ, ở trường thi Thanh Hóa, năm Giáp Tuất (1874). Phan Văn Đề: (em ruột Phan Văn Trứ). Hai anh em họ Phan đậu Võ cử đồng khoa. Chu Trạc (1845-1925): Đậu Võ cử tại trường thi Thanh Hóa, khoa Kỷ Mão (1879), là lãnh tụ của phong trào Cần Vương chống Pháp ở phía Bắc Nghệ An.

Bảy mươi lăm vị Tiểu  khoa:

Bao gồm các Nho sinh, Sinh đồ, Hiệu sinh… thời Lê, Sinh đồ, Tú tài thời Nguyễn. Tràng Thành có 75 vị thi đậu, trong đó triều Lê có 49 vị, triều Nguyễn có 26 vị.

Tràng Thành được mệnh danh là đất học, nổi tiếng với truyền thống hiếu học, khổ học, học giỏi, dòng họ nào cũng đầy ắp những gương sáng. Trong đó, nổi bật là dòng họ Phan Tất có nhiều người đỗ đạt thành danh: Từ vị Cao Cao Tổ Phan Tất Diễn (đời thứ 1), Hoành từ Phan Tất Hành (đời thứ 5), Thám hoa Phan Tất Thông (đời thứ 7), đến Tiến sỹ Phan Hưng Tạo (đời thứ 11)… Cha, con, cháu, chắt và hậu duệ, dòng họ Phan Tất liên tiếp mười một đời, rất nhiều người thi đậu. Hiện nay, hai đại khoa Phan Tất Thông, Phan Hưng Tạo được ghi danh trên bia đá tiến sỹ tại Văn miếu Quốc Tử Giám.

Đến thời tân học, dòng chảy văn hóa ấy vẫn được phát huy. Dưới thời Pháp thuộc, Tràng Thành là vùng đất có nhiều học sinh học Quốc học Vinh, Quốc học Huế, nhiều người đậu Đíplôm, Tú tài. Tiếp thu nhanh chóng làn gió mới, tư tưởng vô sản của Chủ nghĩa Mác, sự chỉ đạo đấu tranh cách mạng của Đảng Cộng sản, một thế hệ đông đảo thanh niên trí thức cách mạng của Tràng Thành ra đời. Trước Cách mạng Tháng Tám, họ hoạt động đấu tranh hợp pháp qua các tổ chức tiến bộ của thanh niên, học sinh, phong trào công nhân, nông dân; sinh hoạt trong các tổ chức bí mật của Đảng, nhiều người trở thành cán bộ nòng cốt của Đảng, lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, nhiều người trở thành cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước: Ông Phan Đăng Lưu - học canh nông thời Pháp thuộc, uyên thâm cả tiếng Hán, tiếng Pháp là nhà trí thức lớn, nhà hoạt động cách mạng xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam; Ông Phan Đăng Tài (em ruột Phan Đăng Lưu) - nguyên Chánh Văn phòng Uỷ ban kháng chiến Liên khu IV cũ, nguyên Biên tập viên, phụ trách chuyên mục Thời sự Quốc tế của báo Nhân Dân; Ông Chu Văn Biên - nguyên Bí thư Khu Uỷ Khu IV cũ, nguyên Hiệu trưởng đầu tiên trường Đại học Nông nghiệp Việt Nam; Ông Phan Tất Thái - học đến bậc tú tài, rời trường, đi theo cách mạng, làm đến chức Chính uỷ trung đoàn trong quân đội thời kháng chiến chống Pháp, nguyên Chủ nhiệm khoa Triết, trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội; Ông Phan Phúc Tường, Ông Ngô Xuân Hàm - Đại diện Tổng bộ Việt Minh, lãnh đạo nhân dân giành lại Chính quyền ở huyện Yên Thành tháng 8 năm 1945 (Ông Phan Phúc Tường sau này trở thành Đại tá - Cục trưởng Cục Quân lực Việt Nam); Ông Phan Đăng Thành nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự Quân khu IV; Ông Phan Mạc Lâm - Đại tá quân báo Bộ Tổng Tham mưu; Ông Lê Tam - Đại tá, phụ trách cơ yếu Quân khu VII…

Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, sự học ở vùng đất Hoa Hạ -Tràng Thành tiếp tục phát triển. Đây chính là nơi năm 1947 đã khai sinh ra Truờng cấp II Quốc lập Lê Doãn Nhã (tiền thân của Trường cấp III đầu tiên (1961) của huyện Yên Thành), nay là Trường THCS xã Hoa Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An - Mái trường đã đào tạo nên bao thế hệ học sinh ưu tú cho đất nước: Ông Nguyễn Cảnh Dinh - nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, nguyên Chánh văn phòng Chủ tịch nước; GS.TSKH. Phan Đăng Nhật - nguyên Viện trưởng Viện văn học dân gian Việt Nam, giải thưởng Nhà nước về Trường ca Tây nguyên; Giáo sư TSKH Y học, Nhà Giáo Nhân Dân Phan Sỹ An - nguyên Chủ tịch Hội Y học phóng xạ Việt Nam;  GS.TSKH. Thái Duy Tuyên, Viện Tâm lý giáo dục học của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Ông Phan Đăng Hồng (nhạc sỹ Hồng Đăng) - nguyên Phó Tổng Thư ký Hội Nhạc sỹ Việt Nam, giải thưởng nhà nước về âm nhạc; Nhà giáo, chiến sỹ cách mạng tù Côn Đảo Chu Cấp; Nhà giáo Phan Tất Ân - 22 năm làm Giám đốc Sở Giáo dục Sơn La; Nhà thơ Phan Xuân Hạt…; và nhiều nhà văn, nhà khoa học, nhà giáo danh tiếng đang hoạt động khắp mọi miền đất nước. Thế hệ trẻ sau này, có thể kể đến: Phan Tất Bát - vốn là học sinh giỏi của Yên Thành, đã vượt lên những rào cản của xã hội, bền bỉ lao động thủ công 10 năm, rồi tốt nghiệp đại học xuất sắc, trở thành một kỹ sư giỏi, cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong ngành thuỷ lợi, hai lần được Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng thưởng bằng Lao Động sáng tạo Khoa học kỹ thuật, được Chính phủ tặng Huân chương lao động hạng ba trong thời kỳ đổi mới; nhà văn, nhà biên kịch nông dân Phan Thế Phiệt - được thưởng nhiều giải thưởng văn học, là hội viên trẻ đầu tiên của Hội Nhà văn Nghệ An; nữ PGS TS khoa Ngân hàng Phan Thu Hà...

Dòng chảy văn hóa đất học Tràng Thành như đã thấm sâu vào đường gân thớ thịt của người dân. Chăm lo cho con em học tốt, học giỏi đã trở thành phong trào chung. Chính nơi này, cách đây mấy chục năm, đã ra đời hình thức “tiếng kẻng học bài ban đêm” .Cứ đến 7h tối là con em phải ngồi vào bàn học. Các phụ huynh phân công nhau cầm đèn dầu đến tận từng nhà động viên, kiểm tra. Ngày nay, nếu thống kê về trình độ học vấn của người dân Tràng Thành thì hầu như 100% các gia đình có 1 con, cháu có trình độ ĐH, CĐ. Riêng họ Phan Đăng đã có đến 6 vị tiến sỹ. Họ tộc nào cũng có Hội  khuyến học.

Để ghi nhận, tôn vinh, bảo tồn và phát huy truyền thống hiếu học của đất học Tràng Thành, ngày nay, nhà nước đã công nhận, xếp hạng 4 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 3 di tích văn hóa cấp Quốc gia: “Nhà lưu niệm” chiến sỹ cách mạng Phan Đăng Lưu, “Nhà thờ họ Phan Tất” - thờ Thám hoa Phan Tất Thông, Nhà thờ họ Phan Đăng; 1 di tích văn hóa cấp Tỉnh: “Nhà thờ họ Phan Duy”, thờ Thám hoa Phan Duy Thực.

Bù lại nỗi nhọc nhằn cho người nông dân quê lúa, mưa nắng dãi dầu, tạo hóa đã ban tặng Yên Thành cảnh quan sơn thủy hữu tình: rú Gám hùng vĩ, đỉnh Hòn Nhôn cao ngất, sớm chiều mây mù bao phủ; dòng sông Dinh bốn mùa nước vỗ bờ, trong xanh, hiền hòa, như bầu sữa mẹ ngọt lành. Và lại càng như được tạo hóa ưu ái, khi chảy qua địa phận Tràng Thành, sông Dinh đã phân thêm 2 nhánh phụ: sông Vẹn và rào nước Chu Trạc, ôm hẳn vào lòng mảnh đất này, đem dòng sữa mát lành nuôi dưỡng và như để mài mực cho con cháu học hành, tạo nên “mảnh đất thiêng Tràng Thành - Hoa Hạ, địa linh nhân kiệt, lung linh ánh sáng văn hóa”. Mong rằng, ngọn đèn văn hóa tỏa rạng đất học Tràng Thành đã bao đời ông cha và hậu duệ dày công vun đắp, phát triển, cái nôi, cái hồn cốt văn hiến ấy của Yên Thành sẽ được bảo tồn, phát huy, thắp sáng mãi mãi./.

 

Tài liệu tham khảo:

- Khoa Bảng Nghệ An, Đào Tam Tỉnh, 2005.

- Gia phả các dòng họ xã Hoa Thành.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 25.4.2015.