Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
(2/2/1916 - 18/12/1985)


Có Một Dịch Giả

Mang Tên Xuân Diệu




Trong gia đình tôi, thỉnh thoảng mọi người vẫn nhớ lại với nhau những kỷ niệm có liên quan đến nhà thơ Xuân Diệu. Đến chơi nhà tôi, ông gọi vợ chồng tôi là “cô chú”, có lúc là “chú thím”, xưng hô với hai con tôi là “bác cháu”. Nhà thơ đến chơi một cách tự nhiên, không báo trước, hẹn trước, thân mật như người nhà. Bấy giờ chúng tôi mới dọn từ căn buồng chật hẹp ở ngõ chợ phố 224 sau ga Hàng Cỏ (tên gọi của Ga Hà Nội ngày nay) về nơi ở mới rộng rãi thoáng đãng, trên phố Trần Cao Vân, còn hẻo lánh gần chợ Giời. Vào thời điểm sau giải phóng 1975, chợ Giời mới chính thức mở lại nên còn chưa bành trướng, lan rộng như ngày nay, đầu phố Trần Cao Vân vẫn còn vắng vẻ, nằm ngoài phạm vi chợ. Nơi tôi đến ở là một căn phòng rộng tới gần ba chục mét vuông chiếm cả phần chủ yếu của tầng một căn nhà gác ba tầng, lại có cửa đi ra hiên rộng, sau này "lấn chiếm" biến thành được thêm cả một buồng nhỏ nữa.

Dọn đến ở vừa ấm chỗ thì một hôm, nhà thơ Xuân Diệu đột ngột đến chơi. Ông vừa đi thăm quê Bình Định giải phóng ra, đến chia vui và cho quà: mấy chiếc đĩa men mầu, nghe bảo hàng Nhật Bản từ trước giải phóng và ít con mực khô, sản phẩm trong quê. Nhà thơ đi chiếc xe đạp cũ, thấp chắc chắn, dựa xe vào bên thân một cây soan, rồi lấy sợi dây xích sắt khá to ra cẩn thận khóa xe vào thân cây rồi mới vào nhà. Bấy giờ cũng sắp Tết ta. Chúng tôi mời ông Tết lại trở lại chơi lần nữa. Nhà thơ vui vẻ nhận lời và mồng 3 Tết năm ấy ông trở lại thật. Thời buổi tem phiếu bao cấp nhưng là Tết đầu tiên sau giải phóng nên tiêu chuẩn Tết mọi nhà khá rôm rả. Mâm cỗ tết xuềnh xoàng nhưng cũng đủ bánh chưng, giò lụa, giò thủ, thịt gà... và rượu vang mậu dịch. Nhà thơ Xuân Diệu vui vẻ nâng chén chúc tết mọi người trong nhà và xuất khẩu ngay một vế câu đối:

Xuân Diệu được uống rượu ngày xuân”

Sở dĩ gia đình chúng tôi được nhà thơ Xuân Diệu đôi lần tới thăm, có lẽ bởi quá trình có tới mươi, mười lăm năm tôi đã được gần gũi làm việc với nhà thơ...

Tôi được một số người trong Hội Nhà văn sớm biết qua những bài vở gửi về báo chí của Hội n gay từ khi tôi còn đang học ở Mátxcơva. Về dạy ở trường Trung cấp ngoại ngữ Mễ Trì, mãi gần Hà Đông, tôi được mời một tuần hai buổi lên trại sáng tác của Hội ở Quảng Bá dạy tiếng Nga cho anh chị em học viên lớp bồi dưỡng viết văn. Bấy giờ trong Ban phụ trách lớp có nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, nhà thơ Hoàng Minh Châu. Tôi lại được giao thường xuyên dịch cung cấp bản tin văn học cho Tạp chí Văn nghệ, nơi nhà thơ Xuân Diệu phụ trách. Vì thế mà năm 1962, chuẩn bị chào mừng kỷ niệm lần thứ 45 Cách mạng Tháng Mười Nga, Hội định ra một tập “ Thơ Liên Xô ” , các ông Nguyễn Xuân Sanh, Xuân Diệu đã kéo tôi vào tham gia khâu tuyển chọn và dịch nghĩa một phần các bài thơ của các nhà thơ Liên Xô không có bản tiếng Pháp, tiếng Trung. Đã là thơ Liên Xô thì phải có mặt các nhà thơ tiêu biểu nhất của các dân tộc trong Liên bang Xô viết. Vào thời điểm ấy, không thể không giới thiệu một số các nhà thơ dân tộc vừa được nhận các giải thưởng văn học, như Giải thưởng Nhà nước Liên Xô, Giải thưởng mang tên Lênin. Chẳng hạn nhà thơ nhân dân nước Cộng hòa Xô viết Tắcgichxtăng Turxun - Zade (1911- 1977) năm 1960 vừa được Giải thưởng Lênin về hai tập thơ “Khaxan arbakes” (1954) và “Tiếng nói Châu Á” (1956); nhà thơ nhân dân nước Cộng hòa Xô viết Ukraina Makxim Rưnxki (1895 - 1964), năm 1960 cũng được giải thưởng Lênin về hai tập thơ “Những bông hoa hồng và chùm nho” (1957) và “Những chân trời xa xăm” (1959), hay nhà thơ nhân dân nước Cộng hòa tự trị Đaghextang Raxul Gamzatop (1923 - 2003) đang được đề nghị Giải thưởng Lênin về sáng tác mới “Những ngôi sao trên cao” (1962), nhà thơ nhân dân nước Cộng hòa Xô viết Litva Mezelaitix (1919 - 1999) đang được đề cử Giải thưởng Lênin về tập thơ “Con người” (1961). Trước đó tôi đã dịch và giới thiệu thơ của Rưnxki và Mezelaitix được đăng trên báo Văn học, vì vậy được nhà thơ Xuân Diệu chọn ngay những bản dịch đó đưa vào tập. Tôi được đề nghị dịch nghĩa thơ của Turxun Zade cho nhà thơ Huy Cận chuyển thành thơ và Raxul Gamzatov cho nhà thơ Yến Lan. Phần tôi đề nghị bổ sung thêm nhà thơ Xergay Exenhin mà trong danh sách tuyển của hai nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh và Xuân Diệu không thấy có. Bấy giờ, sau nhiều năm bị thành kiến, ở Liên Xô mới phục hồi tên tuổi Exenhin được ít lâu, nên hầu như ở ta còn chưa để ý đến ông. Từ cuối năm thứ 2 Đại học, tôi bắt đầu mở chuyên đề giới thiệu Exenhin do giáo sư Prokusep phụ trách. Không được dự lớp chuyên đề ấy, nhưng được nghe bạn tôi dự về kể lại và lại được đọc tập thơ Exenhin rất hiếm lúc đó mà bạn tôi vừa được một bạn Nga tặng làm quà sinh nhật, tôi đâm ra mê nhà thơ này. Hoàn thành tập “Thơ trữ tình Puskin”, tôi bắt tay vào dịch đôi bài của Exenhin.

Khi đề xuất đưa thêm Exenhin vào tập “Thơ Liên Xô”, tôi không dám nói về phần dịch của mình mà chỉ nói lại những điều tôi mới viết về ông. Nhà thơ Xuân Diệu bảo tôi thử dịch nghĩa một số bài cho ông xem. Tôi chọn một số bài viết về thiên nhiên, đôi bài viết về cách mạng và cẩn thận chọn lựa một số bài về tình yêu của Exenhin. Xem xong bản dịch nghĩa, Xuân Diệu bảo tôi đọc nguyên bản tiếng Nga từng bài một cho ông nghe. Ông bảo tôi đọc đi đọc lại lời nguyên bản bài tả cảnh đồng ruộng sau gặt vào cuối thu. Ông rất khoái các hình ảnh nhân cách hóa của Exenhin:

         "Con đường bị phá (lỗ chỗ) thiếp ngủ

         Nó bữa nay như thấy...

         Vầng trăng khuyết (lưỡi liềm) hung đỏ như con ngựa con

         bị đóng vào cỗ xe trượt của chúng ta".

Ông bảo ông rất thích bài thơ này. Tất nhiên được thể tôi moi hết mọi hiểu biết về nghệ thuật tả thiên nhiên và tình yêu thiên nhiên Nga của chàng thi sĩ Nga có mái tóc vàng ươm, đẹp như mái tóc của chính Xuân Diệu, thao thao bất tuyệt tán thêm. Nhà thơ “chấm” bài này. Trong số thơ viết về đề tài cách mạng của Exenhin, Xuân Diệu chấm bài "Xtanxư" bộc bạch tâm sự "lột xác" của tác giả quyết tâm đi với cách mạng. Đến những bài thơ về tình yêu của Exenhin thì Xuân Diệu bảo bài nào ông cũng thích, nhưng chẳng lẽ đưa ngần ấy bài vào tập, không cân xứng với số bài của các tác giả khác. Ông chọn hai bài. Như thế, tổng cộng ông “ưu tiên” cho Exenhin những bốn bài - nhiều nhất so với các tác giả khác được tuyển trong tập.

Sau những lần cộng tác làm sách với Xuân Diệu, tôi mới dần dần thổ lộ cho ông biết là mình cũng đã dịch nhiều thơ Exenhin. Một lần ông bảo tôi đọc cho ông nghe những bản dịch thơ Exenhin của mình, tôi đã mang đến ông tập bản thảo và đọc cho ông nghe cả buổi. Bữa ấy ông đã hỏi tôi rất nhiều về cuộc đời và lai lịch nhiều bài thơ của Exenhin. Tôi nhớ tại nhà riêng của ông, 24 Cột Cờ, như thường lệ ông đã chuẩn bị cho tôi mấy cái bánh bích quy, một cốc cà phê hòa tan (bấy giờ là những thứ quý hiếm, phải có tiêu chuẩn bìa C mới mua được). Buổi đọc thơ và chuyện trò kéo dài, tôi được ông tiếp cho thêm một “khẩu phần” nữa. Cuối buổi, ông khuyên tôi hoàn chỉnh bản thảo để có thể in thành tập. Tôi ngỏ ý mời ông cùng tham gia và sẵn sàng dịch nghĩa giúp ông. Ông cười bảo tôi: "Toàn đã tự lực được rồi... Mà có bài, anh thấy Toàn dịch có vẻ nhuyễn hơn anh...". Ông còn đọc lên mấy câu thơ dịch của tôi:

"Trăng vàng được dóng vào xe trượt

Ngoan ngoãn như là chú ngựa con".

Sau khi hoàn chỉnh bản thảo để đưa in, Xuân Diệu đồng ý đưa cả bốn bài dịch của ông vào đóng góp, nhưng một bài ông đưa bản dịch của tôi lên trước, bản dịch ông để sau. Ông bảo: "Để cho bạn đọc rộng đường tham khảo”. Thái độ bình đẳng, công bằng trong những trường hợp như thế này tôi nghiệm thấy rõ trong quá trình ra tập “Thơ trữ tình Puskin” (năm 1966). Nhà thơ Xuân Diệu đã nhờ tôi dịch nghĩa cho ông để ông dịch thơ. Và khi đưa in, ông đã sòng phẳng bắt tôi để tên mình ở phần dịch nghĩa, dưới bài dịch của ông.

Cũng trong tập “Thơ Liên Xô” tôi còn dịch nghĩa trích đoạn trường ca “Đứa con trai” của P.Antôkônxki và đến tập trường ca “Vladinia Ilich Lênin” của V.Maiakôpxki, tôi cũng được Xuân Diệu nhờ dịch nghĩa để ông tham khảo, chuyển sang thơ. Hai tác phẩm về sau này có cả bản dịch tiếng Pháp, cho nên nhà thơ làm việc vất vả gấp đôi. Ông đọc bản tiếng Pháp, bảo tôi đọc tiếng Nga, rồi giải thích từng dòng từng từ. Đối chiếu lại với tiếng Pháp, đọc đi đọc lại, hỏi kỹ tôi thêm các chi tiết rồi ông mới bắt tay vào công việc dịch thuật của mình.

Được cộng tác với nhà thơ Xuân Diệu trong một thời gian khá dài, lại ở tất cả các khâu (nhà thơ tự đọc bản in thử, góp ý cho họa sĩ trình bày, thậm chí cả đến khâu kiểm tra lại số chữ để tính nhuận bút), tôi thấy học hỏi được ở ông nhiều điều, nhiều ấn tượng sâu sắc có thể suốt đời không quên.

Chẳng hạn, khi bản dịch “Vây giữa tình yêu” đã đánh máy hoàn chỉnh, duyệt đưa in, nhưng bài giới thiệu tập sách vẫn chưa được Xuân Diệu đưa lại, tôi phải đến nhà ông để xin bài. Đến nơi đã gần trưa và nhà thơ đang khăn gói vali sẵn sàng chuẩn bị ra sân bay đi công tác nước ngoài. Thấy tôi đến, ông biết ngay việc phải làm, vội thu xếp nốt việc gì đó rồi lại bàn ngồi vào viết, sau khi bố trí cho tôi chờ ngồi đọc sách, có bánh, có nước như thường lệ. Nhà thơ đã ngồi cặm cụi viết một mạch cho đến lúc ô tô đến đón ông ra sân bay đã đến đỗ ngoài cửa. Ông đứng dậy cười, đưa cho tôi bài rồi chia tay ra đi. Bữa ấy tôi thực sự sửng sốt trước sự tập trung lao động cao độ của nhà thơ.

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 25.4.2015.