Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



CHỌN VĂN THẦN VÕ TƯỚNG

TẠC TƯỢNG THỜ BÊN TƯỢNG VUA LÊ THÁNH TÔNG

( MỖI BÊN CHỈ CHỌN 1 NGƯỜI )



đề xuất, tìm chọn và viết hành trạng của danh nhân



I – VĂN THẦN

( đặt tượng bên TẢ)


THÂN NHÂN TRUNG ( 1419 – 1499 ) - VĂN THẦN TẬN TỤY VÀ UYÊN BÁC


Thân Nhân Trung, tên khai sinh là Thân Trọng Đức, người dân tộc Tày, quê làng Yên Ninh, phủ Bắc Giang, nay là thị trấn Nếnh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Ông đỗ tiến sĩ khoa Kỉ Sửu ( 1469), lần lượt làm quan Hàn lâm viện thị độc, Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các Đại học sĩ, Tế tửu Quốc tử Giám...

Nhâm Dần năm thứ 13 (1482), vua ra sắc dụ, giao cho Thân Nhân

Trung, Quách Đình Bảo, Đỗ Nhuận, Đào Cử, Đàm Văn Lễ soạn thảo hai bộ

sách lớn của thời đó, là Thiên Nam dư hạ Thiên Nam kí sự.

Giáp Thìn năm thứ 15 ( 1484), ngày 15 tháng 8, dựng bia đề tên các

tiến sĩ từ khoa Nhâm Tuất, năm Đại Bảo thứ 3 triều Thái Tông trở đi, ông

được giao soạn bài văn bia cho khoa thi tiến sĩ đầu tiên năm Nhâm Tuất (

1442), mở đầu là một đoạn văn rất nổi tiếng, được coi là tư tưởng cốt lõi của

nền giáo dục Việt Nam từ xưa đến nay:


Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết.”


Ất Mão năm thứ 26 (1495), vua lập Tao Đàn nhị thập bát tú, tự xưng là Tao Đàn Đô nguyên súy, cử Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận làm Phó Đô nguyên súy. Vua soạn Cổ kim cung từ thi tập, tự làm tựa, rồi giao cho Thân Nhân Trung và Ngô Luân phê bình. Thân Nhân Trung đã góp công quan trọng, cùng 27 văn thần khác trong việc biên soạn các tập thơ của Tao Đàn còn truyền lại đến nay là Quỳnh uyển cửu ca Hồng Đức quốc âm thi tập.

Thân Nhân Trung được thăng Lễ bộ thượng thư, trưởng Hàn Lâm viện sự, Lại bộ thượng thư, Nhập nội phụ chính, chức quan cao nhất của triều đình.



II – VÕ TƯỚNG

(đặt tượng bên HỮU)


NGUYỄN ĐỨC TRUNG ( 1404 – 1477) - VÕ TƯỚNG TÀI ĐỨC SONG TOÀN


Nguyễn Đức Trung là một vị tướng tài ba, từng làm quan trấn thủ đạo An Bang ( nay là tỉnh Quảng Ninh ) thời vua Quang Thuận nhà Lê ( sau khi mất một năm thì quần thần mới dâng miếu hiệu là Lê Thánh Tông).

Ông là con của Nguyễn Công Duẩn, từng theo Bình Định vương Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn. Vì thế, từ thời vua Diên Ninh ( sau khi mất, miếu hiệu là Lê Nhân Tông) ông đã được phong Điện Tiền ti Đô chỉ huy, vị thế tương đương như Điện Tiền chỉ huy sứ của Trần Thủ Độ ở thời Trần.

Ông quê tại hương Gia Miêu, huyện Tống Sơn ( nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Con gái thứ hai của ông, Nguyễn Thị Hằng, là vợ Gia vương Lê Tư Thành sau là Gia Huy Thuần Hoàng hậu của vua Quang Thuận, sinh Hoàng tử Lê Tranh, 36 năm sau, lên làm vua thay cha, là vua Cảnh Thống nhà Lê ( sau khi mất, miếu hiệu là Lê Hiến Tông ). Bà được phong là Trường Lạc Hoàng Thái hậu.

Tháng 6 năm Canh Thìn (1460), Nguyễn Đức Trung có công lớn, cùng các trung thần dẹp loạn, đưa Gia vương Tư Thành lên ngôi vua, tức là vua Quang Thuận nhà Lê.

Tháng 7 năm Đinh Hợi (1467), giặc đánh vào Khả Lặc, đạo An Bang, vua Quang Thuận sai Đô đốc Thiêm sự Đô phủ quân Khuất Đả mang 1 000 quân Ngũ phủ, cùng quân hai ti là Điện Tiền và Hiệu Úy, đi đánh dẹp, đồng thời phát 30 000 thăng gạo kho, sai người chở đến An Bang để cấp cho quân lính ăn. Trận đó, Khuất Đả bị thua, vua gọi về hỏi tội, rồi sai Đô đốc Đồng tri Nam phủ quân Nguyễn Đức Trung đi thay, được quyền “ chém trước tâu sau”. Nguyễn Đức Trung đã đánh tan giặc, giữ yên bờ cõi, do đó được vua giao luôn cho ông trấn thủ An Bang, để giữ cho đời sống của dân được yên lành. Sử không ghi ông giữ chức vụ này và ở tại An Bang bao lâu.

Năm 1467, Nguyễn Đức Trung về An Bang dẹp giặc, thì năm sau, tháng 2 năm Quang Thuận thứ 9 ( tháng 3 . 1468), vua chỉ huy sáu quân duyệt võ trên sông Bạch Đằng, rồi đưa đoàn thuyền quân sự hùng mạnh đi tuần biển, buộc thuyền dưới núi Truyền Đăng và bài thơ bất hủ của vua

( với bút danh là Thiên Nam Động chủ) khắc vào vách đá, sau này gọi là núi Bài Thơ, ra đời.


Nguyễn Đức Trung được phong chức Thái úy, tước hiệu là Trình Quốc Công, vị thế tương đương như Thái úy Lí Thường Kiệt ở thời Lí. ./.


_________________________


MỘT SỐ ĐIỀU NÓI RÕ THÊM


1 – Tên các vua ta thường gọi hiện nay đều là Miếu hiệu, nghĩa là sau khi chết 1 năm, căn cứ vào tài đức và công lao của nhà vua đối với đất nước, quần thần mới dâng một cái tên tương ứng. Đương thời vua có 2 tên là Quang Thuận và Hồng Đức, còn tên khai sinh là Lê Tư Thành. Khi còn sống, vua không hề biết tên mình 1 năm sau khi chết sẽ được gọi tên là Lê Thánh Tông. ( Điều này người thông thường rất dễ bị nhầm lẫn)


2 - Các văn thần võ tướng có tầm quan trọng thời Lê Thánh Tông khá nhiều, nhưng chọn để thờ bên cạnh vua, phải là những người tận tụy với chính sự, đồng thời có cuộc đời trong sáng, không có lầm lỗi gì, đương thời đã đạt được thành tựu cao nhất, và những phẩm chất đó, đến nay vẫn có ảnh hưởng tốt trong đời sống tinh thần của nhân dân, nhất là các thế hệ trẻ. Ngoài ra, nếu có gắn bó với Quảng Ninh ( như Nguyễn Đức Trung) thì càng hay.


3 - Thân Nhân Trung được phong đến Lại bộ thượng thư, nhập nội phụ chính, chức quan cao nhất của triều đình. Nguyễn Đức Trung được phong đến Thái úy, Trình Quốc Công, chức quan võ cao nhất của nhà nước thời bấy giờ. Nếu chọn 1 văn thần và 1 võ tướng, luôn bên cạnh vua, giúp vua làm chính sự, góp phần đưa nước ta ở thời đó lên hàng thịnh trị nhất trong các triều đại phong kiến, thì không ai bằng 2 vị danh nhân này.


4 - Thời Lê Thánh Tông, có sử gia vĩ đại Ngô Sĩ Liên, nhưng Ngô Sĩ Liên đã một lần phạm tội, vua từng nhiếc, nếu là kẻ sĩ biết tự trọng thì nên tự tử cho rồi, nên không thể chọn. Hơn nữa, sự nghiệp của Thân Nhân Trung phù hợp với Di tích văn hóa này hơn, đặc biệt lời ông trong văn bia đã nêu, là một trong những châm ngôn lớn nhất của quốc gia và có ảnh hưởng vô cùng tích cực cho nền giáo dục Việt Nam. Nên chọn ông là đúng. Còn các vị khác không ngang tầm và không phù hợp với Di tích.


5 – Các tài liệu để soạn hai đoạn văn trên, chủ yếu dựa vào Đại Việt sử kí toàn thư, Ngô Sĩ Liên chủ biên, trình vua Hồng Đức (Lê Thánh Tông) trước khi vua mất. Bộ sách được Nxb Thời Đại in trọn bộ năm 2013, phần Kỉ nhà Lê – Thánh Tôn Thuần hoàng đế, ( từ trang 610 đến trang 731 – sách nguyên văn chữ Hán, sử quan triều Nguyễn dịch ra Quốc ngữ, nên tránh húy vua Thiều Trị, các chữ Tông đều phải viết thành Tôn ) và tham khảo thêm sách Các triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng, Nxb Thanh niên, 2001, phần về Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, từ trang 180 đến trang 189.


Hồng Gai 25 / 01/ 2015


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 19.4.2015.