Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Nhân Ngày Giỗ Tổ

- Tự Hào Về Tục Thờ Cúng Tổ Tiên

của Người Việt





   N gày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng là một ngày lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc Kinh tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương. Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhưng được dân Việt trong cũng như ngoài nước đều kỷ niệm.

Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng năm Ất Mùi 2015 diễn ra trong 6 ngày

Ngày 15/1/2015, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 142/KH-UBNDvề tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm Ất Mùi – 2015. Theo đó, các hoạt động phần Lễ và phần Hội trong giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm Ất Mùi - 2015 được tổ chức trong 06 ngày, từ ngày 23 đến ngày 28  tháng 4  năm 2015 (tức ngày 05 đến ngày 10 tháng 3 năm Ất Mùi).

Năm Ất Mùi - 2015 là năm lẻ 5, giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng do UBND tỉnh Phú Thọ chủ trì và có sự tham gia của 5 tỉnh: Sơn La, Phú Yên, Đắc Nông, Tiền Giang và Bạc Liêu theo Đề án Tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm đã được Thủ tướng phê duyệt.

Lịch sử Lễ giỗ Tổ trên Đền Hùng

Ngày giỗ Hùng Vương từ lâu đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam. Từ thời xưa, các triều đại quân chủ và phong kiến Việt Nam đã quản lý Đền Hùng theo cách giao thẳng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái, làm Giỗ Tổ vào ngày 10 tháng 3 âm lịch; đổi lại dân địa phương được triều đình miễn cho những khoản thuế ruộng cùng sưu dịch và sung vào lính.

Sang thế kỷ 20, năm 1917 triều vua Khải Định, Bộ Lễ chính thức gửi công văn ghi ngày 25 Tháng 7 phái quan hàng tỉnh của tỉnh Phú Thọ lấy ngày mồng 10 Tháng 3 âm lịch thì cử hành "quốc tế" hàng năm, tức là sức cho các quan phải mặc phẩm phục lên đền Hùng thay mặt triều đình Huế cúng tế.

Ngày 10 tháng 3 từ đó được dùng cho toàn quốc. Khi nền quân chủ cáo chung thì ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được Việt Nam Cộng hòa công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức cho đến năm 1975. Đối với nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì năm 2007 mới chính thức quy định ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương. UNESCO cũng đã công nhận "Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng" là "kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại đại diện của nhân loại".

Giỗ tổ Hùng Vương -Tôn vinh giá trị truyền thống

Giỗ Tổ Hùng Vương - từ rất lâu đã trở thành ngày trọng đại của cả dân tộc; đã in đậm trong cõi tâm linh của mỗi người dân đất Việt. Dù ở phương trời nào, người Việt Nam đều nhớ ngày giỗ Tổ, đều hướng về vùng đất Cội nguồn - xã Hy Cương - Lâm Thao - Phú Thọ. Nơi đây chính là điểm hội tụ văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam. Từ ngàn đời nay Đền Hùng là nơi tưởng nhớ, tôn vinh công lao các Vua Hùng, là biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng nhằm giáo dục truyền thống yêu nước “Uống nước nhớ nguồn”, biết ơn sâu sắc các Vua Hùng đã có công dựng nước và các bậc tiền nhân kiên cường chống giặc ngoại xâm giữ nước.

Ngày giỗ Tổ Hùng Vương là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dầu ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng: Đền Hùng.Lễ giỗ Tổ Hùng Vương cử hành vào ngày mồng mười tháng ba:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Cây có gốc. Nước có nguồn. Chim tìm tổ. Người tìm tông. Trở về Đền Hùng, chúng ta như giọt máu trở về tim. Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, và có một đặc thù riêng là: Phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Ẩm hà tư nguyên - Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ.

Hát Xoan Ở Phú Thọ   

Hát xoan là loại hình dân ca lễ nghi phong tục hát thờ thần, thành hoàng với hình thức nghệ thuật đa yếu tố: có nhạc, hát, múa; thường được biểu diễn vào dịp đầu xuân, phổ biến ở vùng đất tổ Hùng Vương - Phú Thọ , một tỉnh thuộc vùng trung du Việt Nam . Ngày 24/11/2011, tại Hội nghị lần thứ 6 của Ủy ban liên chính phủ về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO tổ chức tại Bali - Indonesia , Hồ sơ Hát Xoan - Phú Thọ của Việt Nam đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất Tổ Hùng Vương . Hát Xoan Phú Thọ thuộc loại hình dân ca lễ nghi phong tục, là hát cửa đình, hội tụ đa yếu tố nghệ thuật như nhạc, hát, múa... Nguồn gốc của Hát Xoan gắn với những giai thoại của thời đại Vua Hùng dựng nước. Các làng xoan gốc đều là những ngôi làng cổ nằm trên địa bàn trung tâm nước Văn Lang , vì vậy hát xoan còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa cổ của thời đại bình minh dựng nước...

Hát xoan được vinh danh góp phần tôn vinh các giá trị, đạo lý của Việt Nam, khẳng định vị thế dân tộc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Ngày 24/11/2011, Hát Xoan được chính thức công nhận là di sản văn hóa phi vật thể là một thành công rất lớn.

Hát Xoan thường được biểu diễn vào các dịp:

Vào mùa xuân: các phường Xoan ở tỉnh Phú Thọ lần lượt khai xuân ở đình, miếu ngay từ mùng một Tết đầu năm. Buổi sáng các ngày Tết, phường Xoan làng nào hát ở đình làng ấy, tới chiều tối, các phường Xoan lại họp lại với nhau lần lượt hát ở đình, miếu như sau: mùng một, hát ở đình Cả và miếu Cấm làng An Thái (xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì); mùng hai, hát ở đình Đơi làng Kim Đới; mùng ba, hát ở miếu Lãi Lèn làng Phù Đức; mùng bốn, hát ở đình Thét làng Thét (xã Kim Đức, thành phố Việt Trì). Vào ngày mùng 5, thường hát ở đền Hùng (xã Hy Cương, thành phố Việt Trì). Thời điểm hát được quy định tại một điểm hát nhất định, mỗi “phường” chọn một vị trí cửa đình.

Tín ngưỡng thờ vua Hùng trở thành di sản nhân loại

Đúng 12 giờ 10 phút (giờ Paris) ngày 6/12/2012, tại kỳ họp lần thứ 7 Ủy ban liên chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể diễn ra ở Paris (Pháp), UNESCO đã chính thức thông qua quyết định công nhận Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không phải một tôn giáo mà chính là biểu trưng của lòng thành kính, sự biết ơn- tri ân công đức các Vua Hùng là những người có công dựng nước Văn Lang. Hiện tại theo kiểm kê của Sở VH,TT & DL Phú Thọ, trên địa bàn tỉnh có 326 di tích thờ Hùng Vương và các nhân vật liên quan đến thời đại Hùng Vương trải rộng khắp các địa phương trên địa bàn toàn tỉnh. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được phủ rộng với mật độ dày đặc ở tất cả các làng xã, song Đền Hùng là trung tâm thực hành Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lớn nhất và lâu đời nhất trong tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Niềm vui này đối với tỉnh Phú Thọ còn tăng lên gấp đôi, bởi năm ngoái hồ sơ Hát Xoan của tỉnh này cũng đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Việc Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận, cho thấy thế giới đánh giá rất cao, đồng thời cũng thừa nhận đời sống tâm linh của người Việt Nam, vốn đã có từ hàng nghìn năm nay.


Vua Hùng trong tín ngưỡng nguồn cội của người Việt


Vua Hùng - vị Vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, “Thánh Vương ngàn đời của Cổ Việt”. Các thế hệ người Việt Nam đương đại mặc nhiên thừa nhận và tự hào là con Lạc Hồng, dòng giống Rồng Tiên. Hàng năm ngày 10 tháng 3 âm lịch đồng bào cả nước lại nô nức hành hương về miền đất Tổ để viếng mộ thăm đền, thắp hương thờ cúng Tổ tiên.

Với ý thức tìm lại những dòng lạc khoản đầu tiên của các sứ thần Việt Nam ghi chép về Hùng Vương và chính thức hóa đưa Vua Hùng vào “tòa Chính sử” Việt Nam để dựng lại ý nghĩa của việc đồng bào Việt Nam trăm cành một gốc, trăm họ một nhà, cùng tôn vinh Vua Tổ.

-Sách “Việt Sử Lược” (biên soạn năm 1377) đã chép về Hùng Vương dựng nước Văn Lang nhưng Vua với tư cách là một pháp sư tài giỏi thâu tóm được quyền lực các bộ tộc để trở thành một vị thủ lĩnh tối cao của bộ lạc.

-Năm 1372, Hàn Lâm viện học sĩ Hồ Tông Thốc với sách “Việt Nam Thế Chí” đã là người đầu tiên đưa vào chính sử các vị Hùng Vương vừa như một nhân vật lịch sử, lại vừa như là tinh thần dân tộc để nhắc nhở, răn dạy con cháu theo quan niệm Trung hiếu của Nho giáo với những người có công mở nước.

-Năm 1435 trong sách “Dư Đại Chí” Nguyễn Trãi đã nhắc đến Hùng Vương theo thư tịch thời Trần như một niềm tự hào dân tộc.

-Năm 1470 Vua Lê Thánh Tông - niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) đã cho Hàn Lâm viện Trực học sĩ Nguyễn Cố lập Ngọc phả Hùng Vương với tên gọi đầy đủ là: “Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương triều Hùng” (Hùng đồ thập bái diệp thánh vương Ngọc phả cổ truyền). Với sự ra đời của bản Ngọc phả này Hùng Vương đã được chính thức hóa trong tòa Chính sử Việt Nam và từ đây Vua Hùng đã có tông phả ở giữa thế gian. Cũng nhờ có tông phả đó mà triều đình Hậu Lê mới có đủ điều kiện để làm lễ “Tế Giao” như các Vua phương Bắc, để xác nhận quyền độc lập quốc gia và quyền lực chuyên chế của ông vua nước Đại Việt:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

(Nguyễn Trãi - Bình Ngô đại cáo)

Năm 1497 trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã có đầy đủ yếu tố thuận lợi để đưa học Hồng Bàng vào chính sử Việt Nam. Đó là bước phát triển vượt bậc trong ý thức hệ và tư duy của Nho giáo phong kiến Việt Nam xưa luôn hạ mình là “hàng phiên Thần” trong sự mặc cảm tự ti, chia sẻ văn hóa theo thứ bậc để vượt lên ý thức tự tôn dân tộc, văn hóa bác học ngang hàng với nước lớn Bắc phương.

Từ đây về sau, vua Hùng được gọi Thánh Tố và đựơc chính quyền Trung ương công nhận; nhân dân ta trên khắp mọi miền đất nước xây đền thờ phụng. Đền Hùng thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì được lưu giữ Ngọc phả Hùng Vương và dân xã Hy Cương được vinh danh là dân tạo lệ hương hảo ngàn thu.

Trải qua hàng trăm năm, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV từ ngữ danh xưng Hùng Vương đã được tích tụ dần trở thành chính thống. Bằng việc soạn dựng “Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương triều Hùng” năm 1470 triều đại Hậu Lê đã khẳng định vị trí độc tôn dựng nước, sinh dân thuộc về các Vua Hùng. Vấn đề “Quốc Tổ” đã được gắn với “Hùng Vương” thay vì chữ nghĩa “Lạc Vương” trong tâm thức vương quyền vay mượn của một dân tộc chưa khẳng định nền quốc gia độc lập. Từ đây trong ảnh xạ văn hóa tâm linh của người Việt - Vua Hùng hiển diện như bình diện của ý thức tự cường của một quốc gia hùng mạnh:


Hùng Vương - Thục - Trưng - Tiền (Hậu) Lý – Ngô -

Đinh - Tiền Lê – Lý - Trần - Hồ -

Lê Sơ - Mạc - Lê (Trung hưng) - Tây Sơn - Nguyễn.

Lịch sử Tiên Rồng!

(Lời mới bài London Bridge)

Trong ký ức văn hóa của nhân dân, hình ảnh Vua Hùng được khắc họa là ông vua mở nước, dựng làng; để rồi ở các thế kỷ sau chính ông vua ấy lại trở thành ông Tổ của người Việt, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai - hình thành nên nghĩa “đồng bào”- tạo thành 15 Vương triều (như bài hát trên) của Non nước Lạc Hồng.

Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương triều Hùng” đã viết “Đến giờ Ngọ ngày 28 tháng Chạp, hương lạ đầy nhà, hào quang khắp phòng, bà Âu Cơ sinh một bọc...; đến giờ Ngọ ngày Rằm tháng Giêng, trăm trứng vỡ ra đều thành điềm trăm người con trai.

Các sách: “Khâm định Việt sử thông giám cương mục” (năm 1840): “Việt Nam sử học” (1919); “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938); “Thần linh Đất Việt” (2002); “Truyền thuyết Hùng Vương” (1971-2003)... đều ghi chép lại việc bà Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng nở thành một trăm người con trai, hình thành nên hai tiếng “đồng bào”.

Nhiều thế kỷ nay với người Việt Nam, “đồng bào” đã trở thành bình diện của ý thức dân tộc, niềm tự hào dân tộc; điểm hội tụ của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Điểm hội tụ ấy đã trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.

Vua là Tổ của dân. Dân là gốc của nước. Nước muốn vững bền nhờ dân luôn thịnh trị. Dân được thịnh trị trông ơn mưa móc Tổ Tiên.

Trong sự thăng tiến phẩm trật của thần linh, Vua Hùng từ quan niệm ban đầu là thần núi với các mỹ tự: “Đột Ngột Cao Sơn; Viễn Sơn; Ất Sơn” dần trở thành tín niệm trong tâm thức dân gian. Tín niệm ấy được lan tỏa rộng ra và trở thành niềm tin thiêng liêng của mỗi người dân đất Việt - niềm tin vào Tổ Tiên và sức mạnh thiêng liêng tiềm ẩn của các thế lực siêu nhiên tuy không cùng sống, cùng sinh hoạt song đang đồng hành trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của nhân dân: Tín ngưỡng thờ cúng Vua Hùng - thờ cúng Tổ tiên.

Trong tâm thức của nhân dân ta từ bao đời nay Vua Hùng là vị Vua Thủy Tổ dựng nước, là Tổ tiên của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Ghi nhớ và tôn vinh công lao dựng nước của Tổ tiên là một hành vi văn hóa, ý thức đạo đức và bổn phận của mỗi người. Dân tôn thờ Vua là Thánh: Thánh Tổ Hùng Vương. Dựa vào uy linh của Thánh, ý thức cộng đồng đã được hình thành và phát triển, từ trong gia đình đến gia tộc, hàng xóm láng giềng rồi mở rộng ra cả nước theo quan hệ huyết thống: Dòng máu Lạc Hồng, con cháu Lạc Hồng...

Người Việt Nam luôn sống với nhau có nghĩa có tình, có thủy có chung, có trên có dưới, có xóm có làng, có sau có trước, có nước có nhà, có tổ có tông... Sống có văn hóa - văn hóa cộng đồng. Văn hóa ấy là tấm gương phản chiếu sự hiểu biết, những niềm tin và phong tục cổ truyền của một dân tộc. Trong sâu thẳm tâm hồn người Việt Nam ai cũng luôn quan niệm rằng: Chúng ta là người được sinh ra cùng một bọc (đồng bào) là con cháu Lạc Hồng - dân cả nước đều là anh em một nhà.

Con người có Tổ có tông

Như cây có gốc, như sông có nguồn

Ngày nay quan niệm đó càng được nhân lên gấp bội. Con cháu ở đâu, Ông bà - Tổ tiên ở đó. Quan niệm đó dần trở thành ý thức hệ được hun đúc trong từng người và trong cả cộng đồng. Vua Hùng đã hiển nhiên tồn tại và ngự trị trên bình diện ý thức tâm linh của người Việt. Tín ngưỡng thờ Tổ phát triển không chỉ trên vùng Đất Tổ mà xuyên cả quốc gia, vươn tới các cộng đồng người Việt đang sống xa Tổ quốc ở các quốc gia khác. Người Việt lập làng ở đâu sẽ xây đền thờ Tổ Hùng ở đó; cúng giỗ Tổ ở đó để cùng nhau “Uống nước nhớ nguồn” tri ân công đức Tổ tiên.

Vua Hùng trong tín ngưỡng nguồn cội của nhân dân đã trở thành niềm tin thiêng liêng của dân tộc Việt Nam. Vật chất có thể sẽ thay đổi, thậm chí sẽ mất đi song niềm tin thiêng liêng sẽ còn lại mãi mãi với thời gian, trường tồn cùng lịch sử, trong ký ức của mỗi con người.


LỜI KẾT

- Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” được UNESCO công nhận cho thấy thế giới thừa nhận và đánh giá rất cao đời sống tâm linh của người Việt hàng nghìn năm nay.

- Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” thể hiện nền tảng tinh thần đại đoàn kết dân tộc và gắn kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh của dân tộc Việt Nam, luôn vượt qua khó khăn, thách thức trong tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, chống giặc ngoại xâm”.

-Thờ cúng Tổ tiên - Một mỹ tục từ ngàn xưa: Từ ngàn đời xưa, thờ cúng ông bà, tổ tiên là một mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Chính trong việc thờ cúng tổ tiên mà ông cha ta đã gửi vào đó rất nhiều nét đạo nhằm giáo dục con cháu.

Trước tiên, mỹ tục này được thể hiện ở việc lập Bàn thờ cúng Tổ tiên, Ông bà, Cha mẹ… những người thân đã quá cố trong gia đình. Vào những ngày cúng giỗ này, con cháu thường quy tụ về một nhà để cùng nhau làm mâm cúng, rồi anh em, con cháu cùng nhau ngồi nhớ về người xưa, nhở con cháu hôm nay phải hiếu nghĩa với người thân, cố gắng trở thành con ngoan, trò giỏi. sau dó cùng bàn chuyện làm ăn, tâm sự, san sẻ cùng nhau. Vào những ngày Giỗ, các con cháu hãy nghĩ thiện, làm lành nhiều hơn các ngày khác, hãy chia sẻ chút đỉnh cho người nghèo, hãy gom quần áo dư để dành cho các hội từ thiện. Nếu anh chị em nhân ngày Giỗ mà về họp mặt một nơi thì thật là tốt vì tình thân gia đình sẽ nhờ đó mà tăng lên.

Có lẽ ngoài ngày Tết Nguyên đán ra thì dịp duy nhất để anh em, con cháu ở xa quy tụ về chính là ngày Giỗ Tổ. Đó là một hình thức sinh hoạt gia đình mang nhiều nét văn hóa tốt đẹp.

- Tín ngưỡng thờ Hùng Vương khác với 7 Di sản văn hóa - phi vật thể đã được công nhận trước đó. Tính độc đáo của tín ngưỡng này thể hiện rất rõ ở yếu tố thờ Hùng Vương chính là thờ Quốc tổ. Đây là hiện tượng không phải dân tộc nào cũng có. Trải qua thời kỳ lịch sử hết sức lâu dài, Việt Nam đã xây dựng được một biểu tượng, cố kết cộng đồng dân tộc tạo nên sức mạnh hết sức to lớn trong quá trình lịch sử. Nền tảng của việc thờ Quốc tổ chính là tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam có từ xa xưa, từ đó phát triển thành việc thờ Quốc tổ của toàn dân tộc.

-Lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng dù trong lúc đất nước thái bình hay trong những khi vận mệnh cam go nhất, Vua Hùng vẫn hiển hiện như một nguồn lực vô tận xuyên suốt cả thời gian lẫn không gian đến với từng người dân Việt Nam, từng gia đình người Việt Nam ở bất cứ nơi đâu trong nước hay ngoài biên giới Tổ quốc, như một động lực tinh thần cổ vũ niềm tin và sức mạnh cho toàn dân tộc tiến lên phía trước, phát triển và hội nhập toàn cầu.

-Để tưởng nhớ công lao cùa Quốc Tổ, chúng ta cùng nhau hát vang:

Ca khúc HÙNG VƯƠNG - Thẩm Oánh

Bốn nghìn năm văn hiến nước non khang cường là nhờ công đức Hùng Vương.

Hoa gấm giang sơn này cùng chung đắp xây bao thời hùng uy vẻ vang.

Đời đời nhớ Hùng Vương đã vì quốc dân lập non nước này.

Cho cháu con quây quần vẽ nên cơ đồ bền vững tới nay.

Việt Nam bao sáng tươi, thề cùng bền gan cương quyết xây Nhà Nam.

Đây cháu con Lạc Hồng từ Bắc chí Nam, xin đoàn kết tâm đồng.

Non nước Việt Nam nhờ Hùng Vương quyết thắng muôn năm giòng giống Lạc Hồng.


(Tham khảo: Sách báo - Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 18.4.2015.