Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

40 Năm Nhìn Lại

– Ngày Thành Phố Sài Gòn Được Giải Phóng

(30/4/1975-30/4/2015)



4 0 năm qua (30/4/1975-30/4/2015) là một khoảng thời gian đủ dài để mọi việc trở nên bình ổn, lặng đọng và mọi người đều yên tâm, vui sướng để ăn mừng ngày chiến thắng chung của cả dân tộc Việt Nam trong hòa bình xây dựng và hướng tới phát triển bền vững.

Đất nước ta đã trải qua nhiều thời kỳ bất ổn trong chinh chiến và trong loạn lạc ngập đầy nước mắt và xương máu, đặc biệt có nhiều năm dài nô lệ bị phong kiến phương Bắc, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chiếm đóng, cai trị. Lịch sử văn minh Việt Nam có trên bốn ngàn năm kể từ thời đại các vua Hùng mở nước. Một cách chung nhất, chúng ta có thể điểm lại các thời kỳ sau :

-Thời đại vua Hùng : gồm có 18 đời từ năm 2879 tới năm 258 trước Công nguyên, tên nước Văn Lang (trong sử cổ gọi là Xích Quỷ) chiếm nửa nước phía Nam Trung quốc ngày nay.

-Thời đại nhà Thục (257-207 trước CN) kế thừa thời đại Hùng Vương, tên nước Âu Lạc.

-Thời đại lệ thuộc nhà Triệu (Nam Việt) năm 207-211 sau CN bắt đầu lệ thuộc nhà Hán (phong kiến Trung Quốc)

-Thời đại Bắc thuộc (phong kiến Trung Quốc) từ năm 111 trước CN tới năm 931 sau CN : 1.000 năm bị đô hộ, cai trị.

-Thời đại tự chủ, độc lập thống nhất : Nhà Ngô (939-965), nhà Đinh (968-980), nhà Tiền Lê (980-1.009), nhà Lý (1010-1225), nhà Trần (1225-1400) có ngoại xâm của Nguyên Mông, tên nước chung là Đại Việt.

-Thời kỳ bị lệ thuộc nhà Minh (1414-1427) : 10 năm cuối đời nhà Trần bị đô hộ.

-Thời kỳ độc lập nhà Lê (1428-1527) do cuộc khởi nghĩa thắng lợi của Lê Lợi.

-Thời kỳ Nam Bắc phân tranh (1528-1802) : Chúa Trịnh chúa Nguyễn phân tranh Đàng Trong, Đàng Ngoài. Cuộc khởi nghĩa thành lập nhà Tây Sơn (1788-1802): có cuộc xâm lăng của Xiêm ở Nam Bộ (1785) và nhà Thanh ở Bắc Bộ (1789).

-Thời kỳ nhà Nguyễn (1802-1945-1954) : có cuộc xâm lặng của thực dân Pháp và Pháp cai trị 100 năm (1859-1954), trong đó có cuộc cách mạng và kháng chiến do Đảng Cộng sản lãnh đạo (thành lập năm 1930) đánh đuổi thực dân Pháp từ cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940) đến Tổng khởi nghĩa Tháng tám 1945 thành công do Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Thời kỳ thuộc Pháp lần 2 (1947-1954) : Pháp đầu hàng ở trận Điện Biên Phủ (tháng 5) ký kết hiệp định Genève tạm chia đôi đất nước. Miền Bắc xây dựng Chủ nghĩa xã hội dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa.

-Thời kỳ chiếm đóng miền Nam của đế quốc Mỹ (1955-1975) : Tới năm 1972 Mỹ thua rút quân (Hiệp định Paris). Miền Bắc chi viện cho miền Nam thành lập Mặt trận dân tộc GP miền Nam và Chính phủ cách mạng LT miền Nam Việt Nam đánh Mỹ cứu nước và lật đổ ngụy quân ngụy quyền của Ngô Đình Diệm (bị sát hại), Nguyễn văn Thiệu (chạy trốn). Chính phủ Dương Văn Minh nối tiếp vài ngày chưa tuyên bố (26-30/4/1975) giữa lúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tiến hành thần tốc giải phóng hoàn toàn miền Nam thắng lợi thống nhất đất nước 30/4/1975.

Ngày 30/4/1975 lịch sử cách đây tròn 40 năm vẫn còn nhiều vấn đề để phân tích, đánh giá về một số nhân vật lịch sử của thời khắc lịch sử nghiêm trọng đó. Báo Giáo dục Việt Nam số ra ngày 30/4/2012 viết theo lời của một nhân vật lịch sử của ngày đó vừa là nhân chứng vừa là người hành động với tư cách một chiến sĩ giải phóng.

Báo Giáo dục Việt Nam :

LTS: Một buổi chiều cuối tháng 4, chúng tôi đến thăm Trung tướng Phạm Xuân Thệ - Nguyên Tư lệnh Quân khu I tại phố Nguyễn Hoàng Tôn (quận Tây Hồ, HN). Mân mê chén trà đặc quánh trên tay, vị chỉ huy từng bắt, áp giải tướng Minh "lớn" đến Đài phát thanh Sài Gòn đọc lời đầu hàng, xúc động, kể lại:

-Khi nhận nhiệm vụ ở chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân đoàn 2 thành lập một binh đoàn thọc sâu, trung đoàn 66 cùng các đơn vị tiến đánh căn cứ Nước Trong và tổng kho Long Bình. Khi các trung đoàn 9, trung đoàn 24 đánh xong trận Nước Trong, một phần tổng kho Long Bình thì cùng  trung đoàn 66 tiến thẳng vào nội đô TP. Sài Gòn. Đích cuối cùng là Đài phát thanh Sài Gòn, Bộ Tư lệnh Hải quân quân đội Sài Gòn và Dinh Độc lập. Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn 2 gồm trung đoàn 66, Lữ đoàn xe tăng 203, pháo binh, công binh, đặc công và các binh chủng phục vụ chuẩn bị tiến đánh vào Sài Gòn.

-Chiều 27/4/1975, chúng tôi đánh chiếm căn cứ Nước Trong. Đến trưa hôm sau, quân ta hoàn toàn làm chủ căn cứ Nước Trong. Đây là trận đánh quan trọng góp phần đưa các binh đoàn của ta triệt tiêu sinh lực địch, áp sát Sài Gòn.

-Bắt đầu 17h ngày 29/4 thì xuất phát, đến 21h chúng tôi vượt qua cầu Sông Buông, khi đó địch phá hỏng nên chúng phải khắc phục lại cho đến đến 24h mới đến được cầu Xa Lộ, vượt qua đầu cầu Xa Lộ đến Thủ Đức cũng đã 4h sáng.

Tuy nhiên, lực lượng đi đầu vào đầu cầu Sài Gòn bị địch chống cự rất quyết liệt. Đồng chí Ngô Văn Nhỡ - Đại úy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn xe tăng của Lữ đoàn 203 đã hy sinh ngay trên tháp pháo. Tuy nhiên, sau đó chúng tôi cũng đã bắn hạ được 4 – 5 chiếc xe tăng trên cầu Sài Gòn và 3 tàu chiến của địch. Thế trận giằng co, đến 8h sáng thì chúng tôi mới giải quyết xong cứ điểm này. Thông cầu Sài Gòn, chúng tôi thọc thẳng vào nội đô thành phố. Khi vượt qua cầu Thị Nghè thì có dân chỉ đường cho. Tại đây quân địch chống cự ít nhiều nhưng không đáng kể.

-Khi đến cổng Dinh Độc Lập, xe tăng thứ nhất do anh Bùi Quang Thận chỉ huy húc vào cánh cổng bên trái của cổng chính Dinh Độc Lập và mắc kẹt vào đó. Xe tăng thứ hai do anh Lê Đăng Toàn chỉ huy đâm bật tung cánh cổng chính tiến vào sân...

-Chiếc xe Jeep của chúng tôi theo xe anh Toàn đi vào. Vừa đặt chân đến tiền sảnh tầng 1 của Dinh Độc Lập, xe dừng lại. Chúng tôi bước xuống thảm cỏ rồi tiến nhanh vào Dinh Độc Lập để cắm cờ. Lên hết cầu thang tầng 1, chúng tôi gặp một người cao to, mặc áo cộc tay. Đó là ông Nguyễn Hữu Hạnh, ông ta nói: "Tôi là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá cho Tổng thống Dương Văn Minh. Toàn bộ nội các của Tổng thống Dương Văn Minh đang ngồi trong phòng họp, mời cấp chỉ huy vào làm việc".

-Ông Nguyễn Hữu Hạnh dẫn chúng tôi đi khoảng hơn 10m, đến một cửa phòng lớn, ông Hạnh giới thiệu đây là Tổng thống Dương Văn Minh. Đến lúc này tôi mới biết ông Dương Văn Minh, trước đó chỉ nghe trên đài nói là ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn, nhưng chưa hề biết mặt mũi ông Minh như thế nào.

-Khi vào bên trong, ông Hạnh giới thiệu Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Tổng thống Dương Văn Minh nói: "Chúng tôi đã biết quân giải phóng tiến quân vào nội đô và đang chờ quân giải phóng vào để bàn giao". Ngay lập tức, tôi trả lời: "Các ông đã bị bắt làm tù binh, các ông phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, không có bàn giao gì cả".

-Khi đó quân giải phóng đã chiếm được Sài Gòn, những tiếng súng nổ ăn mừng khắp xung quanh Dinh Độc lập, khiến cho nội các của Dương Văn Minh lo sợ. Ông Minh nhất quyết không ra Đài phát thanh để đọc lời đầu hàng. 5 phút rồi 10 phút trôi qua, tiếng súng vẫn nổ ra không ngớt. Tay phải tôi cầm một khẩu súng ngắn. Mặc dù trong phòng có điều hòa nhưng mồ hôi trên trán ông Minh vẫn rịn ra. Không khí căng thẳng.


-Khoảng 30 phút sau khi thuyết phục Dương Văn Minh miễn cưỡng đồng ý ra đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Khi đó Dương Văn Minh nói: “Ra đài phát thanh sợ không đảm bảo an toàn”. Tuy nhiên, chúng tôi nhất quyết buộc Dương Văn Minh phải ra Đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Tôi nói: "Chúng tôi đã làm chủ Sài Gòn và sẽ đảm bảo an toàn cho ông...". Rồi chính Dương Văn Minh lên xe Jeep đưa đường đưa ra Đài phát thanh. Tôi và Dương Văn Minh ngồi cùng một ghế ở bên ghế phụ, bên cạnh lái chính. Dương Văn Minh ngồi trong, tôi ngồi ngoài. Khi đó trên xe còn có cả Vũ Văn Mẫu. Tay tôi vẫn cầm khẩu súng ngắn.

-Lúc này quân Giải phóng ở đó rất nhiều rồi: xe tăng, xe ô tô, bộ đội ta vào rất đông nên chúng tôi đi phải lách vì từ Dinh độc lập ra Đài phát thanh mất khoảng 20 phút.

-Trên đường đi, thấy xe tăng, pháo binh của ta hai bên đường rất đông thì tôi mới hỏi Dương Văn Minh: “Thấy sức mạnh quân giải phóng như thế nào?”. Dương Văn Minh trả lời: “Chúng tôi biết khi quân giải phóng tiến công vào là chúng tôi sẽ thất bại”. Tôi hỏi tiếp: “Tại sao các ông biết thất bại mà không tuyên bố đầu hàng trước để chúng tôi phải đánh vào đến và bắt các ông thì các ông mới tuyên bố đầu hàng?”. Dương Văn Minh nói: “Khi các ông chưa tiến công vào mà bên dưới tôi còn rất nhiều người chưa đồng tình với tôi mà nếu tôi tuyên bố đầu hàng trước thì người ta khử tôi mất”.

-Sau khi đưa Dương Văn Minh đến Đài phát thanh, tôi đã soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh. Khi đang soạn thảo lời tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh thì có một ông đến nói: “Anh là ai?” Tôi nói: “Tôi là Phạm Xuân Thệ - đoàn phó đoàn Đông Sơn”. Sau đó, tôi mới biết đó là đồng chí Bùi Tùng – chính ủy lữ đoàn 203. Rồi chúng tôi cùng soạn thảo để cho Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng. Tuy nhiên khi tôi đưa cho Dương Văn Minh đọc thì Dương Văn Minh không đọc được và nói: “Chữ viết do cấp chỉ huy viết xấu tôi không đọc được”. Thế là tôi phải đọc lại cho Dương Văn Minh viết lại.

-Sau đó, chúng tôi lại đưa Dương văn Minh quay trở về Dinh độc lập. Tại đây, gặp bộ tư lệnh quân đoàn, có một đồng chí chỉ huy quát tôi: “Anh là ai? Ở đâu?Anh ở đơn vị nào? Ai cho phép anh tự ý đưa Tổng thống Dương Văn Minh đến Đài phát thanh? Nếu anh làm sai tôi cách chức anh, bỏ tù anh…”. Tôi tức cũng quát lại (vì không biết ông ta là ai, hồi đó không phải lính nào cũng biết mặt các chỉ huy cấp trên): “Tôi đưa Tổng thống Dương Văn Minh đi đọc tuyên bố đầu hàng, anh làm gì mà nhắng lên thế”. Lúc đó tôi nhìn thấy mặt ông ta rất tức giận. Sau mới biết đó là Phó chính ủy quân đoàn 2 Công Trang.

Lúc đó, sư trưởng trực tiếp của tôi là ông Nguyễn Ân (Sư trưởng sư đoàn 304) nói:“Nó là thằng Thệ, E phó E66. Sai đâu để sau. Cho nó về chỉ huy đơn vị”. Thế là tôi chạy một mạch ra chiếc xe Jeep, về đơn vị đang đóng quân ở cảng Sài Gòn. Vậy là miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước được thống nhất. Lúc đó tôi vừa vui vừa buồn. Vui vì sau bao nhiêu năm, đất nước đã được giải phóng, độc lập hoàn toàn. Nhưng tôi cũng buồn vì trong trận cuối cùng, có những đồng đội đã hy sinh khi chỉ còn cách giờ phút chiến thắng vài giờ đồng hồ.

Trích Hồi ký của nhà báo Lý Quý Chung

-Nhưng cuối cùng chính phủ Dương Văn Minh chính thức lúc đầu chỉ gồm bốn thành viên: Tổng thống Dương Văn Minh, phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền, thủ tướng Vũ Văn Mẫu và tổng trưởng Bộ Thông tin là tôi.

Việc tôi được bổ nhiệm làm tổng trưởng thông tin trước khi công bố thành phần đầy đủ của nội các xuất phát từ một nhu cầu đặc biệt của tình hình lúc bấy giờ. Ngày 26-4-1975, quốc hội biểu quyết bầu ông Minh làm tổng thống, nhưng ông Minh dự định mãi đến ngày 30-4-1975 mới trình diện thành phần chính phủ. 

Như thế có một “khoảng trống chính trị” đến bốn ngày. Các đài truyền hình và phát thanh Sài Gòn, nhất là đài chiến tranh chính trị quân đội, tiếp tục bình luận và phát nhạc chống cộng như lúc ông Thiệu, ông Hương vẫn nắm quyền. 

Tôi đã chủ động trình bày với ông Minh và ông Mẫu về tình hình này: cần chấm dứt ngay các hoạt động tuyên truyền chống cộng và hiếu chiến trên truyền hình và phát thanh, nếu không đường lối hòa bình và dự định hòa giải hơn của chính phủ mới sẽ phá sản trước khi ra mắt. 

-Trong ngày 27-4-1975, dù chưa được chính thức bổ nhiệm vào bộ Thông tin (lúc đó còn có tên ‘Bộ thông tin và chiêu hồi”) tôi đã chủ động gặp ông Lê Vĩnh Hòa, tổng giám đốc đài phát thanh và truyền hình, tại nhà riêng của ông tại đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), nơi vợ ông có một cửa hàng bán đồ cổ, để vận động ông ra lệnh thay đổi giọng điệu của cả hai đài thuộc quyền của ông. 

-Tôi đến nhà ông vào lúc khoảng 01 giờ trưa, ông đang ăn cơm với vợ. Tôi tự giới thiệu mình và cho biết tôi sẽ được tổng thống Dương Văn Minh chính thức bổ nhiệm trong ngày mai làm tổng trưởng Thông Tin. 

Nhưng tôi cần gặp ông ngay hôm nay vì tình thế đòi hỏi phải có một thay đổi hoàn toàn về nội dung tuyên truyền trên hai đài truyền hình, truyền thanh, càng sớm càng tốt – về đường lối kết thúc chiến tranh và đặc biệt là thái độ của chính phủ mới đối với quân giải phóng. 

-Tôi nói “Ông có quyền không nghe tôi vì tôi chưa chính thức là tổng trưởng Thông Tin, nhưng tôi tha thiết yêu cầu ông, do đòi hỏi của tình thế cấp bách, nên có một quyết định có lợi cho cái chung ngay từ bây giờ”.

-Tổng giám đốc Lê Vĩnh Hòa không cần tôi nói gì thêm, đã  đồng ý hợp tác ngay. Ông ra lệnh bỏ tất cả loại nhạc chống cộng và ngưng phát các bài, tin, mang tính chống cộng và cổ xúy tiếp tục chiến tranh. Tôi cũng điện thoại trực tiếp cho trung tướng Trần Văn Trung, tổng cục trưởng Tổng cục chiến tranh chính trị là người đang chỉ  đạo đài quân đội. Tướng Trung chỉ hứa nhưng không chấp hành.

-… Ngày 28-4-1975, ông Minh chính thức cử tôi làm tổng trưởng Bộ Thông tin dù chưa chính thức công bố nội các. Quyết định bổ nhiệm tôi do thủ tướng Vũ Văn Mẫu ký. 

-Cũng như Bộ Quốc phòng dự định giao cho một người chẳng biết gì về quân sự - giáo sư đại học Bùi Tường Huân – Bộ Thông tin giao cho tôi, một người hiểu biết rất ít về người cộng sản và càng không có khả năng đảm trách “cuộc chiến ý thức hệ” mà thường bộ trưởng bộ thông tin của các chế độ trước đây ở miền Nam luôn phải tiến hành. 

-Ông Dương Văn Minh cũng biết rõ điều đó và rõ ràng ông có chủ đích khi chọn tôi là tổng trưởng Bộ Thông tin, bởi tôi hoàn toàn có khả năng đóng góp vào mục tiêu tìm kiếm hòa bình của chính phủ Dương Văn Minh.

-Sáng 29-4-1975 tôi đến Bộ Thông tin Chiêu hồi trên đường Phan Đình Phùng (nay là Nguyễn Đình Chiểu) ở gần ngã tư Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa), nhận nhiệm vụ mới của mình. 

-Lúc ấy cái tên của bộ giao cho tôi còn là Bộ Thông tin Chiêu hồi. Việc đầu tiên của tôi khi đến đây là chỉ thị cho người trợ lý mới của tôi là Lưu Trường Khương đổi tên bộ này thành “Bộ Thông tin”, bỏ hai chữ “Chiêu hồi”. 

-Anh Lưu Trường Khương cùng học một khóa ở Học viện Quốc gia hành chánh với tôi. Khi tốt nghiệp anh bị Trung ương tình báo trưng dụng mặc dầu anh không muốn về làm việc ở đây. Sau đó dù đã về đây nhưng Khương vẫn tìm cách vận động, qua nhiều người có thế lực trong chính quyền, để được rời khỏi chỗ này. 

-Cuối cùng anh phải chấp nhận về bộ Dân vận Chiêu hồi (sau này mới đổi tên Thông tin Chiêu hồi) thời Hoàng Đức Nhã để thoát khỏi một ngành hoàn toàn không phù hợp với tánh tình anh. 

Ngay khi còn làm ở Trung ương tình báo, thỉnh thoảng Khương đến thăm tôi và tiết lộ cho biết anh bị cấp trên giao nhiệm vụ theo dõi tôi. Anh nói: “Có lúc tôi đứng hàng giờ bên kia đường nhà ông. Tôi cảm thấy hết sức nhục nhã…”. 

Về bộ Dân vận Chiêu hồi, Nhã giao cho Khương làm đại diện vùng 4, tức miền Tây Nam Bộ.

-Không có ai chỉ thị cho tôi đổi tên Bộ Thông tin Chiêu hồi, kể cả tổng thống Dương Văn Minh hay thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Tôi tự động làm việc này. 

-Trong buổi họp đầu tiên và duy nhất tại văn phòng tôi ở Bộ Thông tin, với tư cách là tổng trưởng Thông tin tôi còn chỉ đạo cho tất cả các bộ phận trực thuộc và địa phương từ nay không gọi Việt cộng nữa mà là “quân Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”, gọi Nguyễn Hữu Thọ và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam. 

-Để tránh phản ứng điên cuồng của những phần tử chống cộng quá khích, khi giải thích lý do về những sửa đổi này, tôi đã nói rằng vì chính phủ Dương Văn Minh chủ trương hòa bình nên nhất thiết phải dùng chính danh khi nói về bên kia.

-... Trở lại ngày 29-4-1975, sau phiên họp tại văn phòng bộ, tôi đến đài truyền hình cố gắng thuyết phục đồng bào không di tản ồ ạt. 

Theo yêu cầu của tôi, sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm người vừa được tân tổng giám đốc cảnh sát Triệu Quốc Mạnh (cũng là một đảng viên cộng sản nhưng lúc ấy chưa lộ) trả tự do theo lệnh ông Minh cũng có mặt tại đài truyền hình. 

-Bài nói của tôi trên truyền hình không được viết sẵn nên nội dung cũng không được tổng thống Dương Văn Minh hay thủ tướng Vũ Văn Mẫu duyệt. Tôi được tổng thống Dương Văn Minh dành cho một quyền hạn khá rộng rãi và một sự tin cậy cao. Bởi tôi cũng là một trong những người góp phần hình thành lập trường chung của nhóm ông Minh, nên ông Minh và ông Mẫu tin chắc tôi nắm rõ quan điểm của nhóm trong phát biểu của mình.

-Trong bài nói trên truyền hình, trước hết tôi khẳng định chính phủ Dương Văn Minh là một chính phủ chủ trương hòa bình. Những ngày sắp tới chắc chắn không có tắm máu như những lời đồn đãi vì rằng chính phủ Dương Văn Minh dứt khoát sẽ không đối đầu quân sự với quân giải phóng: 

Bà con hãy ở lại. Mồ mả ông bà của ta ở đây, quê hương của ta ở đây”. Những lời kêu gọi này tôi nói gần như trong nước mắt...


Bài viết của Nguyễn Thị Bình Đánh giá về nội các Dương Văn Minh trong chính sách hòa hợp dân tộc

Ngày 05/04/2014

-Có một vấn đề nữa mà tôi muốn làm rõ là đánh giá về ông Dương Văn Minh và nhóm của ông, với vai trò trong việc thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc. 

Tại sao ông Dương Văn Minh và nhóm của ông, thay vì đứng trên lập trường lực lượng thứ ba lại đứng ra thay thế chính quyền Thiệu, thành lập nội các Dương Văn Minh ngay ngày quân ta triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn?

-Nhớ lại ngày 8.10.1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam “đòi Mỹ chấm dứt dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Paris”. Theo nhiều tài liệu mà chúng tôi có được, sự việc đã diễn ra như sau:

-Đứng trước sự suy yếu về mọi mặt và khả năng sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, sự bế tắc trong việc thực thi Hiệp định Paris, nhóm tham mưu của Dương Văn Minh đề xuất phải đứng ra lật đổ Thiệu, thành lập nội các hòa bình, thương lượng với Chính phủ Cách mạng Lâm thời để chấm dứt chiến tranh. Lập luận của họ là cho dù với những ai khác lên thay Thiệu để thành lập nội các hòa bình, ta còn chấp nhận thương lượng, huống hồ họ là những người đã trực tiếp hoặc đã gián tiếp liên hệ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời, đã từng tham gia đấu tranh chống Mỹ – Thiệu trong các phong trào đô thị thì chẳng có lý do gì mà Chính phủ Cách mạng Lâm thời khước từ việc thương lượng.

-Quá trình vận động để thực hiện chủ trương này cũng có những ý kiến khác biệt giữa những người trong nhóm, mãi cho đến đầu tháng 4.1975, họ mới công khai công bố quyết định ra thay Thiệu cho dù phải “cầm cờ trắng” đầu hàng để chấm dứt chiến tranh.


-Về vai trò của ông Dương Văn Minh, một văn bản của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đánh giá: “Mặc dù ông Dương Văn Minh chưa đáp ứng được yêu cầu của ta, nhưng tuyên bố của ông và nhật lệnh của ông Nguyễn Hữu Hạnh cũng đã có tác dụng nhất định, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào giờ chót của chiến tranh, tạo điều kiện cho quân ta tiến nhanh giải phóng Sài Gòn…”.

Hành động của ông Dương Văn Minh là thức thời và thể hiện ông là người có lòng yêu nước”

-Tôi nghĩ rằng đánh giá như thế là thỏa đáng, nhưng nếu nghiên cứu thêm lý lịch của ông Dương Văn Minh và nghe thêm một số câu chuyện về ông qua lời kể của những người tiến bộ xung quanh ông thì hành động của ông Dương Văn Minh là thức thời và thể hiện ông là người có lòng yêu nước.

-Ông Nguyễn Văn Diệp, nguyên Tổng trưởng Thương mại – Kinh tế trong chính quyền Sài Gòn – một cơ sở nòng cốt của ta – người đã được ông Minh cử trong đoàn vào sân bay Tân Sơn Nhất lần đầu tiên để gặp phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, người đã bám theo cuộc tiếp xúc giữa nhà tình báo Vanuxem của Pháp đến gặp các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền – nguyên Chủ tịch Thượng viện Sài Gòn, Vũ Văn Mẫu vào sáng 30.4 để gạ gẫm ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp, đã kể lại với tư cách một nhân chứng sắp qua đời rằng: “Ông Minh đã khéo léo từ chối là tôi không còn thời giờ nữa”. Và khi Vanuxem đi rồi, ông Minh nói với các ông Huyền, Mẫu rằng: “Chúng ta đã làm tay sai cho Pháp, cho Mỹ quá đủ rồi, không thể tiếp tục làm tay sai cho kẻ khác nữa”.

-Tôi cho rằng không nên tách ông Dương Văn Minh và nội các của ông ra khỏi nhóm Dương Văn Minh mà 80% là những người có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp, thậm chí là cơ sở của cách mạng trong thành phố Sài Gòn.

-Ông Vũ Văn Mẫu, người đã cạo trọc đầu để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo khi ông làm Ngoại trưởng năm 1963, người đã trực tiếp gặp anh Phạm Văn Ba tại Paris, là đương kim Chủ tịch Phong trào Hòa giải Hòa hợp của Phật giáo Ấn Quang đã được ông Minh cử làm Thủ tướng.

-Ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Chuẩn tướng quân đội Việt Nam Cộng hòa, một cơ sở nòng cốt đắc lực của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam, được ông Minh phong quyền Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn. Khi cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn của quân ta đang thần tốc triển khai, luật sư Triệu Quốc Mạnh, một đảng viên Cộng sản nằm vùng được ông Minh giao chức Tổng chỉ huy Cảnh sát đô thành có nhiệm vụ phải nhanh chóng thả tù chính trị và làm tan rã lực lượng cảnh sát của chính quyền cũ…

-Năm 1976, khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và các tổ chức liên quan với cuộc chiến đấu ở miền Nam hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, một số cán bộ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tham gia các cơ quan của nhà nước. Một thời gian sau, một số người của các lực lượng chính trị trước đây ở miền Nam cũng được mời tham gia Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, Mặt trận Tổ quốc Trung ương như ông Nguyễn Văn Huyền (ông đã từ chối vì lý do sức khỏe), Nguyễn Hữu Có – nguyên Tổng trưởng Quốc phòng chính quyền Sài Gòn…

-Tôi cùng với nhiều anh em từng hoạt động trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam thường bàn với nhau về chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc. Sau hàng chục năm chiến tranh kéo dài, đặc biệt chính sách Việt Nam hóa chiến tranh vô cùng thâm độc của đế quốc Mỹ đã gieo rắc sự chia rẽ và oán thù giữa người Việt Nam với nhau, chúng ta phải thực hiện và thực hiện tốt chính sách hòa hợp dân tộc. Đó cũng là đạo lý của người Việt Nam. Đối với Mỹ, kẻ thù đã gây cho nhân dân ta bao nhiêu đau thương tang tóc, ta đã có thể thực hiện chủ trương “gác lại quá khứ, nhìn về tương lai” thì không có lý do gì mà người trong một nước không thể hòa giải với nhau, thương yêu nhau, đoàn kết với nhau để cùng nhau xây dựng quê hương của mình.

-Khi miền Nam sắp giải phóng, một số báo và đài xấu đưa ra luận điểm: quân cộng sản vào Sài Gòn, sẽ có “tắm máu”. Nhưng việc đó đã không hề xảy ra. Trên thực tế, như mọi người đều biết ở miền Nam ước tính 90% gia đình có người ở cả hai phía, thậm chí nhiều gia đình có chồng con đi lính cho chính quyền Sài Gòn vẫn là cơ sở của cách mạng, vẫn tham gia đấu tranh chính trị và còn bảo vệ cán bộ cách mạng.

-Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách thực hiện chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc. Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều người trong số hai triệu người ra đi đã lần lượt về quê hương, tìm cơ hội làm ăn để góp phần xây dựng đất nước, một số người đã về định cư hẳn trong nước.


Vài nét về cuộc đời của Dương Văn Minh :


- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp…qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “VNCH”.

-Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người, sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (Mẹ VN anh hùng vừa qua đời, nguyên Bộ trưởng TB-XH Chính phủ cách mạng LT CH Miền Nam Việt Nam) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “VC” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù... Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30.4.1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dàỵ Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”. Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Saigon đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ VN lo rồi”.Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.

+ Quá trình binh địch vận đối với Tướng Dương Văn Minh Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962.

+ Tướng Dương Văn MInh với 3 ngày làm tổng thống 15 giờ chiều ngày 28.4.1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng. Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh). 17 giờ ngày 28.4.1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất. Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính). Đêm 28.4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh). Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28.4.1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Saigon, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”. Tướng Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng tại đài phát thanh Saigon trưa ngày 30.4.1975.

+ Ngày 29.4.1975 Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi VN trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở VN. Đến 16 giờ chiều ngày 29.4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29.4.1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu. Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Saigon không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh.

+ Ngày 30.4.1975 - 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sư.. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn). Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này. - 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh nàỵ. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh. - 9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”;“Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam VN để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”. Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

-Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”. - 11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập tối ngày 2.5.1975.

+Kết luận 1. Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.

2. Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29.4.1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân.

3. Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Saigon - Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30.4.1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Saigon vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Saigon còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất.

-Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Saigon và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 18.4.2015.