Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Alban Berg(1885 – 1935)




NHÀ SOẠN NHẠC NGƯỜI ÁO ALBAN BERG                            






 m nhạc của  Alban Berg phản ánh thế giới nội tâm đầy phức tạp của con người đầu thế kỷ 20 và con đường âm nhạc của ông biểu hiện cho ý chí, khát vọng tìm đến cái đẹp.

 Alban Maria Johannes Berg sinh ngày 9 tháng 2 năm 1885 tại Viên nước Áo.  Bố ông, Conrad Berg là một thương gia chuyển đến sống tại Viên từ năm 1867 còn mẹ ông, Johanna Anna Berg, là một người Áo chính gốc. Berg học bài học piano đầu tiên với cô giáo dạy trẻ của gia đình.

Năm Berg lên 5 tuổi, bố ông đột ngột qua đời vì bệnh tim.  Kinh tế gia đình trở nên khó khăn và phải nhờ đến sự hào phóng của người chú thì Berg mới được tiếp tục việc học của mình.

 

 Ngay từ nhỏ Berg đã đặc biệt quan tâm đến âm nhạc và văn học nhưng phải đến năm 18 tuổi ông mới quyết định theo đuổi con đường sáng tác âm nhạc.

 Tháng 10 năm 1904 ông vào làm việc tại văn phòng chính phủ với ý định trở thành một công chức nhà nước. Nhưng tâm trí Berg lúc nào cũng hướng đến âm nhạc, trong phòng làm việc của ông treo đầy chân dung của các tác giả mà ông yêu thích: Beethoven, Ibsen, Mahler và Brahms.

 

 Thời kỳ này Arnold Schoenberg đang ở Vienna, kiếm sống bằng cách chuyển soạn các bản nhạc và dạy sáng tác. Schoenberg đã bắt đầu nổi danh là một nhà cách mạng trong âm nhạc với các tác phẩm GurreliederVerklärte NachtPelleas und Melisande. Tình cờ đọc đuợc quảng cáo dạy học của Arnold Schoenberg, chú của Berg đã gợi ý ông đến học với nhạc sỹ này.  Arnold Schoenberg đã chấp nhận dạy Berg mà không nhận tiền công bởi ông nhận thấy trong Berg một cá tính cũng như trí thông minh khác thường. Các sáng tác ban đầu của Berg được Arnold Schoenberg nhận xét là chưa có tư duy khí nhạc, vẫn còn nặng tư duy ca khúc và lúc này Berg vẫn chưa thể sáng tác được cho các nhạc cụ, thậm chí cả việc phát triển một chủ đề đơn giản. Song dưới sự chỉ dạy của Arnold Schoenberg, Berg nhanh chóng học được các kỹ thuật sáng tác và đã có những tác phẩm đáng chú ý. Mở đầu là “Seven early songs” viết cho piano, tác phẩm cho thấy Berg đã vận dụng một cách thành thục kỹ thuật phát triển chủ đề theo phương pháp hết sức “nghiêm khắc” của thầy mình. Không lâu sau Alban Berg đã có tác phẩm đánh số đầu tiên của mình và đó cũng là một trong những sáng tác nổi tiếng nhất của ông, Piano sonata Op. 1. Sonata này được Berg viết vào năm 1908, có thời lượng khoảng 11 phút, thể hiện rõ ảnh hưởng của Schoenberg trong cách phát triển chủ đề cũng như cấu trúc: các chủ đề của sonata này gần giống với các chủ đề của “Chamber Symphony số 1” và Berg cũng dùng cách phát triển nhiều chủ đề từ một chủ đề mà Schoenberg dùng. Bản sonata một chương này được Berg viết theo hình thức sonata kinh điển, cái khác biệt chính của sonata này là Berg đã sử dụng gam một cung và các hợp âm hiện đại một cách khéo léo khiến tác phẩm vừa rất hài hòa vừa mang tính hiện đại nhưng vẫn kế thừa các sáng tác của thời kỳ trước.

Năm 1909, Berg viết tác phẩm đánh số thứ hai của mình Vier Lieder – 4 ca khúc nghệ thuật, Op. 2 viết cho piano và giọng soprano. Tác phẩm gồm 4 bài hát viết trên lời thơ của Hebbel và Mombert cho thấy rõ sự trưởng thành trong kỹ thuật sáng tác cũng như tư duy nghệ thuật, đây cũng là các sáng tác cuối cùng mà Berg viết cho giọng hát và piano.

Năm 1914, lần đầu tiên Berg được xem vở kịch Wozzeck của nhà văn Đức Georg Büchner  (Georg Büchner là nhà văn của Thời kỳ Vormãrz ( Thời kỳ Tháng Ba) - một khuynh hướng văn học phục vụ cho Cách mạng tháng 3 năm 1848) và Berg  đã quyết định chuyển thể nó thành một vở opera. Nhưng Berg chỉ hoàn thành một phần nhỏ. Vào tháng 8 thì đại chiến thế giới thứ nhất nổ ra, Berg gia nhập quân đội Á0o được chỉ định làm cảnh vệ  ở Viên và sau đó là làm trong văn phòng của Bộ chiến tranh. Chiến tranh kết thúc, Berg rời quân đội và đứng ra quản lý Hiệp hội biểu diễn âm nhạc tư nhân (Society for Private Musical Performance) ở Vienna nhằm đưa các sáng tác của các nhạc sĩ đương đại đến với công chúng.  Các tác phẩm mới thường được tập luyện rất cẩn thận trước khi biểu diễn.  

Năm 1923 vận may đã mỉm cười với Berg khi 3 tác phẩm viết cho dàn nhạc Op.6 và tứ tấu đàn dây Op.3 được biểu diễn thành công tại liên hoan âm nhạc ISCM tổ chức tại Salzburg. Một năm sau đó Berg cũng hết sức thành công khi 3 phác thảo trong opera Wozzeck được hưởng ứng nhiệt liệt tại Frankfurt. Đấy là một tín hiệu đáng mừng để một năm sau đó, ngày 14 tháng 12 năm 1925 opera  Wozzeck lần đầu tiên được công diễn dưới sự chỉ huy của nhạc trưởng tài ba Erich Kleiber đã đưa Berg trở thành một trong những nhạc sĩ hàng đầu châu Âu.

Tháng 1 năm 1923, Berg cho xuất bản phần thanh nhạc của vở Wozzeck và vài tuần sau ông bắt tay vào viết tác phẩm mới của mình, “Chamber Concerto”. Tác phẩm gồm ba chương này mang đậm ngôn ngữ của trường phái 12 âm của Arnold Schonberg và có chủ đề là các nốt nhạc lấy từ các ký tự trong tên của ba thầy trò: Arnold Schonberg, Anton Webern, Alban Berg (cách lập chủ đề này lập lại trong khá nhiều sáng tác khác của Berg và là thủ pháp khá phổ biến của các nhạc sỹ trường phái 12 âm cũng như trường phái tối giản - minimalism sau này). Tháng 4 cùng năm, Berg có hợp đồng với Universal Edition để xuất bản Op. 6 vàWozzeck. Nhân kỷ niệm 25 năm ngày thành lập của nhà xuất bản này, Berg sáng tác Schliesse mir die Augen beide của nhà thơ Đức Theodor Storm gồm hai tập, một tập ông đề tặng Helene Nahowski, người vợ tương lai của mình. Cũng trong giai đoạn này Berg đem lòng yêu Hanna Fuchs-Robettin, một người họ hàng với bạn thân nhất của ông là Alma Mahler Werfel. Chính tình yêu đó là cảm hứng để Berg viết một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của mình “Lyric Suite”. Có người coi “Lyric Suite” như là một vở opera mà Berg viết cho cuộc  tình không thành. “Lyric Suite” lần đầu được trình diễn tại Viên vào ngày 8 tháng 1 năm 1927 và  một năm sau đó “Seven Early Songs” cũng lần đầu tiên được công diễn.  

Ngày 26 tháng 10 năm 1928, Berg có cuộc gặp với vợ của nhà văn Frank Wedekind để xin phép chuyển thể bộ đôi kịch Lulu (gồm hai vở Thổ địa và Chiếc hộp của Pandora) thành vở opera cùng tên Lulu . Sự thành công của vở opera giúp ông kiếm được khá nhiều tiền (vở Lulu được trình diển trên 17 thành phố của Đức và được biểu diển trên nhiều trung tâm âm nhạc của thế giới). Tuy nhiên vở opera Lulu cũng chịu sự gièm pha của khá nhiều nhà phê bình lúc bấy giờ, bản thân Berg khi trả lời phỏng vấn cũng cho rằng thành công của mình vẫn chỉ bó hẹp trong nước Đức.

Năm 1933 cùng với sự nổi lên của phe cực hữu ở Đức mà sau này phát triển thành đảng Quốc xã. Alban Berg phổ nhạc bài thơ “Die Blumen des Bösen-Những bông hoa của kẻ Ác” của Charles Baudelair  theo yêu cầu của ca sĩ giọng soprano Ruzena Herlinger. Alban Berg viết bản concerto cho violin có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và bản thân Berg cũng không đuợc nghe bản nhạc này biểu diễn một lần nào lúc sinh thời.

Tháng 8 năm 1935 chỉ vài ngày sau khi hoàn thành Violin Concerto, Berg bị nhiễm khuẩn và biến chứng thành áp xe. Berg vẫn cố hoàn thành phần nhạc cho “Lulu suite” bao gồm các phần nổi bật của vở opera. Alban Berg qua đời vào ngày 23 tháng 12 năm 1935 khi mới 50 tuổi.

 Opera Lulu được trình diễn lần đầu tại Zurich vào ngày mùng 2 tháng 6 năm 1937. Lulu và Wozzeck trở thành những  tác phẩm opera tiêu biểu của thế kỷ 20. Cả hai vở opera này không chỉ giàu cảm xúc mà nó còn là một cột mốc trong lịch sử phát triển của opera, nó đánh dấu sự phát triển của opera sau thời kỳ của Wagner khi mà vai trò của âm  nhạc và kịch đạt đến sự cân bằng. Opera “Lulu” được dàn dựng ngày nay đa số dựa trên bản hoàn thiện của Cerha. Chỉ với hơn hơn một chục tác phẩm nhưng Alban Berg để lại dấu ấn của mình trong Lịch sử âm nhạc.

 

 

OPERA WOZZECK

 

Opera đầu tiên  của nhà soạn nhạc người Áo Alban Berg . Wozzeck xoay quanh bi kịch của anh lính Friedrich Franz Woyzeck  Captain người chế nhạo Woyzeck về cuộc sống vô đạo đức, đặc biệt có một đứa con với Marie. Khi Marie ngắm nhìn bông tai mà Drum-lớn tặng cô. Cô giật mình khi Wozzeck đến và khi anh hỏi  cô về đôi hoa tai. Woyzeck  nghe các bác sĩ nói bóng gió rằng Marie là không chung thủy với anh. Wozzeck và Marie đi bộ trong rừng Wozzeck đâm cô chết .Wozzeck bị ám ảnh với ý nghĩ rằng con dao đã giết Marie sẽ buộc tội anh ta, và ném nó xuống ao. .Wozzeck rửa sạch máu ở  quần áo và bàn tay ở ao . Các thuyền trưởng và các bác sĩ, đi ngang qua, nghe tiếng rên, Wozzeck tự sát ở ao.

Opera Woyzeck được Alban Berg sáng tác vào thời gian những năm 1914 - 1922, và lần đầu tiên được công diễn tại Berlin State Opera vào 14 tháng 12 năm 1925, chỉ huy dàn nhạc là nhạc trưởng nổi tiếng người Đức Erich Kleiber

. Vở nhạc kịch 3 màn, 90 phút diễn,  dựa trên bộ phim truyền hình Woyzeck của nhà soạn kịch người Đức Georg Büchner

.  Buổi lễ ra mắt opera  Wozzeck  trên đất Mỹ  ngày 19 tháng 3 năm 1931 tại Nhà hát Opera Metropolitan Philadelphia, Leopold Stokowski chỉ huy dàn nhạc. Wozzeck thường được coi là vở opera đầu tiên được sản xuất vào đầu thế kỷ 20 mang tính chất avant garde- tiên phong. Berg sử dụng một loạt các kỹ thuật âm nhạc để tạo ra sự thống nhất và chặt chẽ trong opera. Đầu tiên là việc sử dụng các leitmotifs – mô típ chủ đạo.  Hầu hết các nhà soạn nhạc  đã sử dụng phương pháp này -  sử dụng mô típ chủ đạo một cách tinh tế  để  gắn trực tiếp vào một nhân vật hay đối tượng: thuyền trưởng,  bác sĩ và  Drum Major. Wozzeck rõ ràng là liên kết với hai mô-típ: Marie được đi kèm với các họa tiết thể hiện nhục dục của mình đáng kể nhất là mô-típ lần đầu tiên nghe được hát bởi Wozzeck trong cảnh đầu tiên với Captain, "Wir Arme Leut ' -  Chúng tôi những người dân nghèo - tín hiệu của sự bất lực của các nhân vật trong vở opera để vượt qua tình hình của họ.

Berg đã quyết định chống lại việc sử dụng các hình thức cổ điển như opera aria hay bộ ba cho opera này. Thay vào đó, mỗi cảnh được đưa ra sự gắn kết bên trong của chính mình bằng cách sử dụng các hình thức thông thường gắn liền với những nhạc cụ trừu tượng. Mỗi cảnh là một tập hợp các biến thể, nhưng mà thuật ngữ 'biến' thường chỉ ra rằng có một biến thể trải qua giai điệu. Berg xác định yếu tố âm nhạc khác nhau cho 'thay đổi': cảnh hai là một biến thể, B♮, được nghe liên tục trong bối cảnh. Cảnh ba là một biến thể của một nhịp điệu, với tất cả các yếu tố chuyên đề lớn được xây dựng xung quanh mô hình này. Cảnh bốn là một biến thể của một hợp âm, chuyên dùng cho toàn bộ khung cảnh.

   

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 12.4.2015.