Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI TIN NHÂN QUẢ






Đ ạo Phật dù bàn rộng ra thì đến thiên kinh, vạn quyển hay tóm gọn chỉ là Giới, Định, Huệ, Bát Chánh Đạo, Lục Độ, Vạn Hạnh, 37 Phẩm Trợ Đạo… người Phật Tử có thể không cần biết đến những điều đó, thậm chí không cần biết đến Giới, Định, Huệ là gì, nhưng không thể không tin NHÂN QUẢ, vì Đạo Phật cũng được gọi là Đạo Nhân Quả.

Thật ra không phải Đức Thích Ca là người đặt ra Luật Nhân Quả để buộc người theo Đạo Phật phải tin, mà Ngài chỉ là người quán sát, thấy Nhân Quả tuy vô hình, vô tướng, mà tác động lên tất cả những gì có hiện tướng. Đã gieo Nhân là phải Lãnh Quả, không vì không biết, hay vô tình, mà không bị Nhân Quả giáng trả; cũng không có biệt lệ, nên lấy đó để giáo hóa, cảnh báo cho chúng ta. Người có tin Đạo Phật hay không cũng dễ dàng nhận ra điều đó. Thậm chí Nhân Quả đôi khi chẳng phải chờ thời gian lâu xa nào đó mới xảy ra, mà cấp thời, vừa gây tội xong đã phải trả quả, vì thế, ông bà ta từ thời xa xưa đã có câu: “Đời xưa quả báo thì chầy. Đời nay quả báo một giây nhãn tiền” nói về sự báo ứng của Nhân Quả để cho con người sợ mà bớt nghĩ ác, làm ác.

Nhưng cũng có những trường hợp có người cả đời sống ác đức, mà vẫn nhởn nhơ, vẫn bình yên vô sự, tiếp tục thăng quan, tiến chức, như không có điều gì xảy ra, làm cho đôi khi người bị hại chờ hoài không thấy họ bị báo ứng đã trách là “Ông trời không có mắt”, vì không chịu trừng phạt họ! Vì thế, chúng ta cũng cần biết Đạo Phật giải thích những hiện tượng đó như thế nào?

Đạo Phật cho rằng NHÂN QUẢ có ba thời: Báo ứng ngay lập tức. Quả sẽ trả trong một thời gian ngắn sau đó, hoặc kéo dài đến kiếp khác mới xảy ra.

Lý do vì sao, thì Đạo Phật cho rằng: Hiện tại những kẻ làm ác mà ta thấy không bị báo ứng là vì họ còn đang hưởng những điều họ đã làm tốt từ kiếp trước. Bao giờ hết phước báo thì sẽ tới chịu Quả mà họ đang làm. Chắc chắn không bao giờ có chuyện Vay mà không phải Trả. Do đó chúng ta không phải thắc mắc cho rằng hay là Nhân Quả đã bỏ sót họ? Luật đời còn có khi sai sót, do chạy chọt, do được bao che, nhưng với Nhân Quả thì hoàn toàn không thể, bởi ai biết Nhân Quả mặt ngang mũi dọc ra sao để mà đứng ra can thiệp giúp? Dù cho có biết đi nữa thì ai có khả năng xuyên thời gian, không gian để làm việc đó? Nhưng vẫn có một số không nhỏ những Phật Tử, do tin rằng Phật là Thần Linh, có toàn quyền ban ân, giáng họa, nên khi có việc cần sám hối, cần điều gì đó may mắn, tốt đẹp cho gia đình khi đang còn sống, hay với thân nhân đã qua đời thì đều chạy đến Chùa để nhờ giúp chuyển lời cầu của họ đến Phật. Nhất là lễ VU LAN thì mọi người vẫn đua nhau bắt chước Đại hiếu MỤC KIỀN LIÊN để Cúng Dường Trai Tăng, vì thấy Kinh VU LAN BỒN tả rằng Đại Hiếu Mục Kiền Liên, nhờ làm việc đó mà mẹ Ngài là Bà Thanh Đề, dù tội rất nặng, bị đọa Địa Ngục nhưng vẫn được xá tội, được sinh lên cõi Thiên.

Thật sự, buổi đầu khi đọc Kinh Vu Lan Bồn tôi cũng thấy lấn cấn, vì rõ ràng Kinh viết: “Lời Phật không hề hư vọng”, tại sao có việc thay đổi Nhân Quả chỉ bằng lời cầu nguyện của Chư Tăng trong khi cả Phật và Thánh Chúng cũng không làm được? Chẳng lẽ Đạo Phật nói lúc vầy lúc khác? Nếu như thế còn làm sao gọi là Chân Lý được nữa? Mãi cho đến khi tôi đọc được Kinh MỤC LIÊN thì mới thấy rõ ràng là tại vì mình chỉ mới đọc KINH VU LAN BỒN, là phần sau của câu chuyện, nên đưa đến hiểu lầm. Xin tóm lược nội dung Kinh MỤC LIÊN đã đề cập 2 lần trong những Bản Tin trước, vì có liên quan đến Kinh VU LAN BỒN và Nhân Quả của Đạo Phật.

Trước khi đi tu theo Phật, Ngài Mục Kiền Liên có tên là La Bốc. Người cha tên là Phó Tướng qua đời, để lại một gia tài khá lớn. Chôn cất cha xong, La Bốc thưa với mẹ là Bà Thanh Đề, xin chia tài sản làm 3 phần: Một phần để mẹ dưỡng già, một phần cúng cho Chư Tăng, phần còn lại để mình làm vốn đi buôn.

Khi con trai đi rồi thì bà Thanh Đề không giữ lời hứa với con. Phần tiền hứa dành cúng Chư Tăng, Bà nói với gia nhân tội gì phải cúng cho họ, mà mua heo, gà, vịt, ngan, giết thịt rồi ăn cho sướng cái miệng. Bà dặn gia nhân, nếu có thấy Chư Tăng đến thì đánh đuổi họ đi.

Ba năm sau, buôn bán phát đạt, La Bốc quay về nhà. Lúc tới đầu làng thì ông dừng ở đó, chưa vội về nhà, mà sai thủ hạ về trước để xem mẹ có giữ lời đã hứa không? Bà Thanh Đề nghe có người báo là La Bốc đã quay về thì lật đật sai gia nhân dọn giường, chiếu, phan, phướng, chén bát ngổn ngang như vừa đãi tiệc. Khi gia nhân về nhà thấy như thế, trở ra báo lại với chủ nhân thì lúc đó La Bốc mới mừng rỡ về nhà, vừa đi vừa lạy.

Họ hàng trông thấy hỏi: “Trước mặt không có Phật, không có Tăng, ông lạy ai?”. La Bốc trả lời: “Tôi lạy mẹ tôi vì mẹ tôi cúng dường 500 vị Tăng”. Họ hàng mới cho biết khi ông đi rồi thì mẹ ông không có cúng dường Chư Tăng, mà sai gia nhân mua gà, vịt giết thịt để ăn, còn dặn gia nhân nếu có thấy Chư Tăng đến nhà thì đánh đuổi họ”. La Bốc nghe vậy hoảng kinh té xỉu. Bà Thanh Đề nghe vậy chạy tới cầm tay con thề: “Trời cao lồng lộng, đất rộng thênh thang. Khi con đi rồi thì mẹ có thết tiệc đãi 500 vị Trai Tăng. Nếu không đúng lời thì mẹ xin chịu chết, sau khi chết rồi phải đọa Địa Ngục”. Nghe vậy La Bốc mới chịu quay về nhà. Bảy ngày sau thì Bà Thanh Đề qua đời. La Bốc thọ tang mẹ, chôn cất mẹ xong rồi cất chòi ở cạnh mộ của mẹ suốt 3 năm để trả hiếu, sau đó xin Quy y với Phật, được Phật đặt tên cho là Mục Kiền Liên.

Ngài Mục Kiền Liên tu hành rất tinh tấn, đắc thần thông rất cao. Ngài nghĩ rằng mẹ cúng dường Tăng như thế ắt đã siêu thăng, nên bay lên trời để tìm mẹ, nhưng không thấy mẹ đâu. Xuống Địa Ngục tìm thì cũng không thấy, nên buồn rầu, khóc lóc hỏi Phật, thì Phật cho biết mẹ ông đang bị đọa Địa Ngục mà người thường không thể vào được. La Bốc mượn một cái áo và gậy của Phật, đến đó giộng cửa thì chủ ngục mở cửa ra hỏi làm sao Ngài tới đây được thì La Bốc nói mình đệ tử của Phật, xin được gặp mẹ đang bị nhốt ở đây.

Chủ ngục gọi Bà Thanh Đề, báo là có con trai bà tên là Mục Kiền Liên đến gặp. Nhưng Bà Thanh Đề im lặng không lên tiếng. Chủ Ngục hỏi vì sao không lên tiếng, thì bà Thanh Đề bảo rằng bà có một đứa con trai, nhưng tên khác, nên không dám nhận, sợ nói sai sẽ bị phạt nặng thêm. Lúc đó Ngài Mục Liên mới thưa với chủ ngục là trước khi đi tu, ông tên là La Bốc, nhưng sau khi mẹ qua đời rồi ông mới xuất gia, được Phật đặt tên cho là Mục Kiền Liên, Bà Thanh Đề biết đó đúng là con mình, mới dám bước ra.

La Bốc thấy mẹ mình mang gông sắt, lửa cháy toàn thân thì hoảng sợ khóc lóc thảm thiết, hai tay dâng cơm cho mẹ. Nhưng bà Thanh Đề vừa đưa cơm lên miệng, cơm lập tức biến thành lửa, không ăn được. Bà bảo Mục Liên về bạch Phật tìm cách cứu cho mẹ. Phật thương tình cùng thánh chúng bay lên hư không, dùng nước cam lồ rưới tắt Địa Ngục. Nhưng Bà Thanh Đề thoát ngục này liền sanh ngay vào ngục khác. Ngài Mục Liên lại khóc lóc bạch Phật tìm cách cứu mẹ. Phật bảo ông: “Ngày rằm Tháng Bảy là lúc Chư Tăng Tự Tứ thanh tịnh, ông nên mời 500 vị Tăng đến, cúng dường cho họ để nhờ họ chú nguyện cho. Sau khi Ngài Mục Liên làm theo lời Phật thì Bà Thanh Đề được thoát Địa Ngục, sinh lên cõi trời”.

Phải đọc cả hai quyển Kinh, ta mới thấy lý do vì sao Cúng Dường Trai Tăng mà Bà Thanh Đề thoát Địa Ngục. Cũng như nhiều người tu Phật rất thích có Thần Thông để biết trước những việc sẽ xảy ra, cho đó là một thành tựu của công năng tu hành, qua đó cũng được biết Thần Thông chẳng có lợi ích gì cả:


NHÂN QUẢ được giải thích một cách hết sức thực tế và rõ ràng:

1/- Dù Ngài Mục Liên là người tu hành rất cao, đắc Thần Thông, có thể vào được cả Địa Ngục, nhưng cũng không thể cứu được mẹ ruột của mình. Điều này cũng được viết rõ trong kinh qua lời Cai Ngục: “Tội ai làm nấy chịu, không ai có thể chịu thay cho ai, dù ngay cả mẹ con ruột”. Phần này cũng cho ta thấy: Thần Thông của người tu cũng không giúp gì được cho bản thân và cho người thân của họ. Dù có thấy cũng không thay đổi gì được. Vì thế, cái Thấy đó chỉ làm cho hành giả thêm bận tâm, mất thì giờ mà thôi. Ngài Mục Liên thấy mẹ bị hành hạ, bị đói khổ, mà cũng không thể dâng cơm cho mẹ, vì nghiệp lực của mỗi người phải tự chịu.

2/- Nhiều người hiểu lầm, nên khi lỡ gây Nghiệp thì tới Chùa Sám Hối với Phật để cầu xin được tha thứ. Nhưng theo Nhân Quả, người gây Nghiệp thì đó là họ tự làm cho mình phải chịu thiệt hại, không hề có lỗi với Phật hay thần thánh. Do đó, không cần Sám Hối hay xin chuộc lỗi với Trời, Phật hay thần thánh, mà là ý thức để không tái phạm nữa, vì người mai kia phải Trả Nghiệp cũng chính là bản thân họ. Không ai có quyền tha thứ hoặc chịu thế cho ai được.

3/- Cả Phật và Thánh chúng cũng không thể cứu được Bà Thanh Đề, vì bà không có nợ họ.

4/- Bà Thanh Đề đã hứa dùng 1/3 tài sản để cúng dường 500 vị Tăng, nhưng bà không thực hiện. Vì vậy, khi Ngài Mục Liên thực hiện việc cúng dường Chư Tăng thay cho mẹ, thì bà thấy mình hết nợ thì mới Thoát được Địa Ngục, sinh lên cõi trời.


Ngay cả Phật cũng không cứu được cho Bà Thanh Đề cho ta thấy NHÂN QUẢ được thực hiện một cách vô cùng công minh: Nợ ai thì phải trả nấy. Nợ thứ gì thì phải trả thứ đó.

Điều đó cũng giúp ta suy nghĩ thêm, là nếu ta muốn báo hiếu cho ông bà, cha, mẹ, thân nhân đã qua đời, thì cũng nên làm một cách sáng suốt. Thực hiện đúng việc, đúng người. Không làm một cách máy móc, thiếu suy nghĩ. Đâu phải ai muốn báo hiếu cho cha mẹ đều phải Cúng Dường Trai Tăng? Cha mẹ ta có hứa cúng Trai Tăng hay không, hay là nợ thứ khác, người khác? Chẳng lẽ ông bà ta giật đất, giật hụi, lừa đảo tiền bạc của ông C, ông B rồi sau đó con cháu mang tiền đến cúng Chùa, cúng Trai Tăng, là ông bà ta sẽ thoát nợ? Kinh viết rất rõ: Ngay cả con ruột còn không gánh nợ được cho mẹ ruột, làm sao Chư Tăng có thể gánh giúp cho người khác? Kinh viết rất rõ: Trường hợp bà Thanh Đề mà Chư Tăng cứu được, là vì Bà có lời hứa Cúng Dường Trai Tăng, nên sau khi con bà thay mẹ thực hiện, Trai Tăng thọ nhận sự cúng dường đó thì tự bà cũng thấy lời hứa đã giải tỏa nên mới hết bị lương tâm dày vò, được Giải Thoát. Trước đó, dù Phật và Thánh Chúng dập tắt lửa Địa Ngục, nhưng bà sinh ngay vào Địa Ngục khác.

Chúng ta nên biết, sở dĩ Phật đưa Luật Nhân Quả, đưa Ba đường Dưới (Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh) là để con người sợ mà ngưng nghĩ ác, lảm ác. Nhìn vào cuộc đời, chúng ta thấy: Xã hội sở dĩ loạn, một phần là cũng do con người ỷ thế, cậy quyền, cho là “điều gì không mua được bằng tiền, thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Chính vì vậy mà họ lộng hành, ỷ thế, hiếp người, coi thường pháp luật, rồi đụng chuyện là tung tiền ra, nhờ người có thể lực để giải cứu. Đó là việc của đời, trong một xã hội thiếu kỷ cương. Ngay trong xã hội mà luật pháp được thực thi một cách nghiêm minh thì cũng không thể xảy ra những việc như thế. Và với Nhân Quả thì hoàn toàn khác:

1/- Nhân Quả là một báo ứng, không có một vị nào hay thần thánh nào đứng ra cầm cân, nảy mực, vì vậy, nói chuyện can gián, xin khất, xin giảm thì tôi e rằng không thể. Bởi Nhân Quả vô hình, vô ảnh, thì tìm ở đâu để mà can gián, xin xỏ, năn nỉ?

2/- Giả sử thì nếu điều đó thực hiện được, thì chẳng lẽ người hiền lương mai kia sẽ “ngồi cùng chiếu” với những kẻ lưu manh, bất lương, chỉ vì những tên đó mới có nhiều tiền để nhờ người cúng vái, cầu xin, nên Nhân Quả phải thay đổi vì đã trót nhận lời can thiệp của ai đó?

3/- Nếu nói rằng Chư Tăng dùng sức thanh tịnh để can thiệp thì chẳng lẽ Phật và Thánh Chúng không thanh tịnh bằng Chư Tăng?

4/- Ngay thế gian là xô bồ, mà người dùng tiền và nhận tiền để chạy án còn bị đánh giá thấp, huống là người tu làm sao có quyền nghĩ đến việc làm có tính cách bênh vực cho người xấu, việc xấu như thế. Phật làm sao có quyền để tha tội cho ai mà cầu xin Ngài Xá tội? Nếu Phật làm được điều đó thì Ngài khỏi cần dạy chúng ta tu hành, Tự Độ.


Do vậy, theo tôi, cùng là đọc và áp dụng kinh Phật, nhưng mỗi người có quyền cảm nhận theo mình. Không nên vội bài bác mà cũng không nên vội tin. Khi thấy có vấn đề trái ngược với nguyên tắc của đạo thì nên tìm thêm, có khi là chúng ta chưa đọc hết câu chuyện. Như Kinh VU LAN BỒN Và KINH MỤC LIÊN chẳng hạn, dù là 2 Kinh riêng biệt, nhưng là diễn tiến của hai mẹ con, ở hai giai đoạn: lúc sống và lúc chết. Trong đó nêu rõ lý do bà Thanh Đề bị đọa cũng như cách tháo gỡ đúng theo Luật Nhân Quả. Đồng thời cũng khẳng định: Phật dù có thương đệ tử đau khổ vì thấy mẹ bị đọa Địa Ngục, nhưng cũng không cứu được. Công đức tu hành cũng thế. Ngài Mục Kiền Liên dù tu hành rất cao những cũng không thể cứu được mẹ ruột của mình. Do đó, Chư Tăng làm sao có thể cứu được thân nhân người khác? Để chúng ta bỏ đi những hiểu lầm về Nhân Quả.

Điều đó, một lần nữa, xác nhận tính công minh tuyệt đối của Luật Nhân Quả, đồng thời là câu trả lời cho những người vẫn nghĩ Phật là thần linh. Lẽ nào Phật là thần linh, có thể “cứu độ Tam Thiên Đại thiên Thế Giới”, trong khi đó, chỉ một bà Thanh Đề, là mẹ của đệ tử mà Ngài cũng không cứu được? Do đó, người Phật Tử sáng suốt thì nên xem lại niềm tin của mình. Đạo Phật dạy mỗi người phải Tự Độ. Dạy Nhân Quả. Không có dạy cầu xin, nương tựa, vì chính Đức Thích Ca cũng là một con người bình thường như tất cả chúng ta, nhờ tu hành Giác Ngộ mà được Giải Thoát gọi là Thành Phật. Thành Phật cũng không phải là trở thành một vị Thần Linh, có quyền phù hộ, độ trì cho ai. Do đó, những nguời cúng kiến, dùng hương khói Cầu An, Cầu Siêu, vô tình biến Đạo Phật thành Nhị Thừa, Quyền Thừa giống y như những tôn giáo khác, không còn là Đạo Phật chân chính Tự Tu, Tự Độ nữa.

Về người tin rằng Chư Tăng có thể cứu độ cho vong linh người đã khuất thì cũng nên xem kỹ Kinh Mục Liên và kinh Vu Lan Bồn để thấy trường hợp bà Thanh Đề, sở dĩ mà Chư Tăng cứu được vì Bà Thanh Đề có lời hứa dùng 1/3 gia sản để cúng dường Tăng. Việc Cúng Dường đó là giải tỏa lời hứa chỉ riêng cho trường hợp của bà Thanh Đề, không phải bất cứ trường hợp nào Chư Tăng cũng cứu được. Do vậy, khi hành một pháp nào của Đạo Phật ta nên xét cho kỹ để đôi khi làm sai mục tiêu, sai đối tượng thì sẽ không có kết quả như mình mong đợi. Điều đó không phải Đạo Phật không có nói rõ. Chỉ tại bản thân mình chưa tìm hiểu cho kỹ mà thôi.

Tôi tin rằng người tin Nhân Quả không thay đổi thì sẽ không dám làm quấy. Hoặc đôi khi bị áp bức, bị người xử tệ ác, cũng nhờ tin vào Luật Nhân Quả Ba Thời để tự an ủi là “không bao giờ có việc bỗng dưng mà mình bị hại. Biết đâu kiếp nào đó mình đã hại người, nên bây giờ họ trả lại”. Nhờ đó mà cũng bớt đau khổ. Đó là một điều nên làm. Vì khi bị bức hại, không cách nào phản kháng được, mà có lý do để tự trấn an mình chẳng phải là lợi ích, so với để cho đau khổ, tức tối dày vò rồi oán trách thần thánh sao? Ngược lại, kẻ tin rằng có người bao che, xin tội giúp, thì chắc chắn sẽ không chịu dừng làm ác.

Nhìn cuộc đời, ta sẽ thấy: Phải chăng những kẻ ác dám lộng hành là vì họ ỷ có thế lực bao che. Chỉ cần tung tiền ra “chạy án”, khi sống cũng như lúc đã qua đời, vì tin rằng có những người, những nơi sẵn sàng nhận tiền để làm việc đó. Sống thì đút lót cho tham quan. Chết rồi thì cúng kiến cho Chùa Chiền! Chính vì vậy, theo tôi, người cho rằng Phât là thần linh, nên những người tu hành là Đệ Tử của Phật sẽ là người chịu thiệt thòi vì đứng ra can gián, bảo lãnh giùm cho Nhân Quả nới tay cho người khác, là người chưa hiểu lẽ công bằng tuyệt đối của Nhân Quả, không những không thực hiện được mà còn vô tình khuyến khích cái ác mà không hay. Vì vậy, khi nhân danh Đạo Pháp để khẳng định điều gì đó, người thuyết cần hết sức thận trọng, phải đối chiếu thật kỹ với chính Kinh, vì tự mình lầm thì không sao, kéo thêm nhiều người khác cũng hiểu lầm thì bản thân mình cũng khó tránh Nhân Quả. Tích “Con chồn hoang” của Mã Tổ Bách Trượng, kể chuyện một người tu, chỉ vì hạ sai một chuyển ngữ mà bị đọa làm thân chồn hoang là một bài học cho chúng ta, nhất là người đang giảng pháp cho mọi người. Càng đông đảo người tin theo thì trách nhiệm càng lớn. Không được quyền khinh suất.

Không chỉ có thế. Người biết rằng Nhân Quả tác động lên tất cả mọi việc thì khi làm bất cứ điều gì họ cũng sẽ tự vấn để không phí uổng công phu. Thí dụ như muốn bước vào Tu Phật vì nghe ca tụng Đạo Phật, Đức Phật quá nhiều, nếu không hấp tấp thì họ sẽ tự hỏi:

a)- Có thật Phật là một vị Thần Linh và mọi người có thể tu hành để đạt địa vị đó không? Tu Phật là gì? Tu Phật phải làm gì? Để được gì? Phải làm như thế nào? Làm đến bao giờ? Kết quả ra sao? Xét hết các mặt rồi nếu thấy điều đó cần thiết cho mình thì mới dấn thân, mới bỏ thì giờ, công sức ra mà làm. Như thế sẽ không bị rơi vào cái tưởng chứng đắc, cao, thấp, quả vị của Đạo.

b)- Cả khi muốn Ngồi Thiền thì họ cũng sẽ không chạy theo phong trào, mà tự hỏi: Tại sao cũng là Ngồi Thiền mà Đức Thích Ca chỉ Ngồi có 49 ngày mà Thành Phật? Tại sao người thời sau Ngồi mải miết năm này sang tháng kia mà không thấy ai Thành Phật? Họ đã sai điều gì? Thế Ngồi? Ngồi không đúng hướng? Không đúng cách? Phải làm gì trong lúc Ngồi đó? Đếm hơi thở? Dứt hết tư tưởng? Quán tưởng Phật hay cõi Phật? Có đến mấy loại Thiền: Thiền Yoga, Thiền Xuất Hồn, Thiền để tịnh Tâm, Thiền để điều khí, phàm phu Thiền, ngoại đạo Thiền, Như Lai Thiền…Thiền mà ta đang Ngồi thuộc loại nào? Phải Ngồi trong bao lâu?

c)- Rồi thì Chư Tổ nói rằng Đạo Phật nói Tu Phật là Tu Tâm, “Tức Tâm tức Phật. Muốn tìm Phật thà tìm Tâm”. Vậy thì Tâm là gì? Ở đâu? Tu Tâm là Tu như thế nào? Tại sao Tu Tâm mà lại thành Phật?

d)- Độ Sinh là gì? Chúng Sinh ở đâu? Độ như thế nào để thành Phật?

e)- Phật đã Thọ Ký: Tất cả Chúng Sinh là Phật sẽ thành vậy thì chừng nào chúng sanh sẽ thành Phật? Ta và mọi người có phải là chúng sanh không? Phải làm gì để thành? Tại sao bao nhiêu đời nay biết bao nhiêu người tu hoài vẫn chưa Thành? Phải tu bao nhiêu kiếp mới Thành?

Những câu hỏi xem ra có vẻ phức tạp, nhưng khi ta giải quyết được thì sau đó vấn đề còn lại là chỉ cần tinh tấn thực hành mà thôi. Cũng giống như người có căn nhà đang hư. Nếu họ xác định được chỗ cần sửa. Biết cần gọi thợ nào? Phí tổn độ bao nhiêu? Sau khi tính toán đâu vào đó mới bắt tay vào việc thì công việc sẽ được giài quyết một cách nhanh chóng. Việc tu hành cũng thế. Mọi người bảo nhau: “Tu mau kẻo trễ”, nhưng bỏ đời vô Chùa đã gọi là tu chưa? Tụng Kinh, Niệm Phật có phải là công năng tu hành? Nếu không phải thì làm thế nào mới gọi là Tu? Tu thế nào cho mau?

Còn rất nhiều vấn đề nữa mà tôi tin rằng nếu người nào chưa tự mình trả lời cho bản thân những câu hỏi đại loại như trên, thì dù có tu hành tinh tấn cách mấy trong bao nhiêu đời cũng sẽ chẳng có ích lợi gì. Bởi không chỉ mến mộ, kính ngưỡng, tôn thờ Phật, kêu gọi được nhiều người cũng làm như mình, hay cất được nhiều kiểng Chùa mà sẽ có kết quả là thành tựu con đường Tu Phật. Điển hình là Vua Lương Võ Đế, một mình xây dựng đến 72 kiểng Chùa mà kinh sách đâu có nói ông ta Thành Phật? NHÂN nào, QUẢ nấy. Nếu ta vào Đạo Phật một cách mơ hồ. Hành trì mà không biết kết quả về đâu, và khi chưa hiểu lời Kinh cho rõ ràng, cứ “Y Kinh giải nghĩa rồi theo đó mà làm thì chứng tỏ là ta chưa hiểu gì về NHÂN QUẢ vậy.


(Tháng 2/2015)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 12.4.2015.