TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



NGUYỄN KHÔI



* Sinh năm 1938
* Quê quán : Đình Bảng - Huyện Từ Sơn - Tỉnh Bắc Ninh

* Hội viên :
- Hội Nhà Văn Hà Nội
- Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội
- Hôi Dân tộc học Việt Nam
* Ủy viên BCH Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam
* Chuyên viên cao cấp, nguyên Phó Vụ Trưởng Vụ Dân Tộc Văn Phòng Quốc Hội


ĐÃ XUẤT BẢN :

. Trai Đình Bảng (thơ) 1995,2000
. Gửi Mường bản xa xăm (thơ) 1998
. Trưa rừng ấy (thơ) 2005
. Bắc Ninh thi thoại (khảo cứu) 1997,2000,2004
. Cổ pháp cố sự (tùy bút) 2003
. Xứ Thái mù sương (tùy bút) 2001
. Tiễn dặn người yêu, Khun Lù Nàng Ủa, Út Ơ về Kinh, Ỳ Nọong-Nàng xưa, Tiếng hát làm dâu...(dịch-chuyển thể) 1996,2003 ....



THƠ


* CON MẮT PHÚ YÊN
* GỬI BẠN XỨ ĐOÀI XA XỨ
* VỚI ĐÀ LẠT
* KHÓC NGUYỄN MAI
* VỀ HÀ NỘI
* AO LÀNG
* VỚI SA PA
* THĂM HÀN SƠN TỰ
* DẠO PHONG KIỀU LỘ
* NHỚ LỖ TẤN
* QUỐC NGỮ
* QUA BẾN TẦN HOÀI
* ĐẾN TÂY HỒ NGẮM CÔ SƠN NHỚ TỐ NHƯ
* CHÚT NIỀM RIÊNG Ở THƯỢNG HẢI
* THƯỞNG CHÈ LONG TỈNH
* PHỐ CỔ TÔ CHÂU
* Ô DẠ ĐỀ
* VỚI CÂY NGÔ ĐỒNG
THƯƠNG NGƯỜI THƠ KHÓC ĐƯỜNG THI


















MAO TRẠCH ĐÔNG
ĐẶT TÊN VỢ TỪ THƠ ĐƯỜNG



M ao Trạch Đông sinh năm 1893 quê ở Hồ Nam Trung Quốc. Sinh thời Mao Trạch đông có 3 nguòi vợ. Vợ thú nhất ở quê do cha mẹ lấy cho. Vợ thú hai là nũ chiến sỹ hồng quân, lấy nhau qua cuộc vạn lý truòng chinh.. Vợ thú hai đi chũa bênh ở Liên Xô thì Mao Trạch Đông làm quen với cô diễn viên Lâm Bình quê Thượng Hải đã ly dị chồng. Sau đó hai nguòi lấy nhau.
Xuất phát từ hai câu thơ của Tien Khơi :

Khúc chung nhân bất kiến
Giang thuọng sổ phong thanh

mà Mao Trạch Đông đặt tên cho vợ thú 3 vốn là Lam Bình thành Giang Thanh.

Tương truyền tác giả câu thơ trên quê ở Chiết Giang. Một lần đáp thuyền lên mạn Bắc, đến Trường An dụ thi. Đến Nhạc Châu ( quê Mao Trạch Đông ) . Tác giả dùng thuyền lên bờ thăm danh thắng cổ tích gần hồ Động Đình . Màn đêm buông xuống chị Hằng nhô lên mặt nuóc. Thĩy nổi húng thơ , khoác áo ra khỏi nhà , ngâm ở ở trong đình đình Chiết Liễu . Tương truyền , lúc thi sỹ ngâm thơ , bống nghe từ trong Viện Lạc gần bên cũng vọng ra tiếng ngâm thơ . Thy sỹ nín thở lắng nghe , nhưng cũng chỉ nghe đuọc hai câu :

Khúc chung nhân bất kiến hư
Giang thượng sổ phong thanh

( Người đàn ở đâu chẳng thấy
Trên sông nổi mấy ngọn núi xanh )

Thi sỹ rất ngạc nhiên , tán thưởng 2 câu thơ đã tả đuọc cái thần diệu ảo ảo thực thực mơ hồ trong cái tĩnh lặng trên dòng sông trăng như dải lụa nhuộm sắc núi xanh . Thy sỹ vén tay áo , cất bước đến Viện bên mà không thấy ai. Thi sỹ thầm nghĩ chắc là mình gặp quỷ thần , sợ đến nỗi hồn phiêu phách lạc, cố chạy về phòng , nhưng đuổi theo vẫn là tiếng ngâm 2 câu thơ của quỷ thần ! Năm 750 , thy sỹ đi thi tiến sỹ ở Trường An. Kết thúc bài thi của mình , thy sỹ bống nghe vẳng bên tai câu thơ thần

Khúc chung nhân bất kiến hư
Giang thuọng sổ phong thanh

Dùng hai câu thơ thần này , thi sỹ kết thúc bài thi của mình .

Bài thi tiên sỹ của ông được đánh giá rất cao.
Cả bài thơ có hai câu thơ thần này , NK xin tạm dịch nhu sau :

Tương Linh đánh đàn sắt
Tay giỏi đánh đàn sắt
Thường nghe Thái tử Linh
Khiến Phùng Di tụ múa
Khách Sở khó vô tình
Điệu khổ tê vàng đá
Âm vang cõi u minh
Thương Ngô hờn mến mộ
Bạch chỉ phòng hương linh
Khúc tàn , người chẳng thấy
Trên sô ng mấy non xanh

Điều kỳ lạ là hơn 1200 năm sau , không biết có phải ma đưa lối quỷ dẫn đường mà Mao Trach Đông lại lấy chữ từ hai câu thơ quỷ thần đó để đặt tên cho vợ thứ 3 của minh vốn là diễn viên người Thượng Hải tên Lâm Bình thành Giang Thanh.
Và kỳ lạ thay Giang Thanh cũng kết cục bi thảm như Duong Quý Phi nguòi đẹp của ông vua tài hoa Đường Minh Hoàng (cùng thời thi sỹ thi tiến sỹ Tiến Khoi viết hai câu thơ quỷ thần trên )./

_____________________________________________


NGUYỄN KHÔI
(ĐÌNH BẢNG)


© CẤM ĐĂNG TẢI LẠI NẾU KHÔNG CÓ SỰ ĐỒNG Ý CỦA TÁC GIẢ.



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC