Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (16)



Triệu Việt Vương- Lòng Dân Trụ Thiên Nhiên





T háng 2- 544 . Lý Bí đuổi nhà Lương, xưng Hoàng đế, đặt tên nước Vạn Xuân. Vạn Xuân độc lập từ năm 544-602,khi nhà Tùy đánh Lý Phật Tử,trở lại đô hộ nước Việt.

Triệu Quang Phục- Vua Đầm Dạ Trạch

Triệu Việt Vương (?- 571 ), tên thật Triệu Quang Phục, vua nước Vạn Xuân năm 548 - 571 . Ông kế tục Lý Nam Đế đuổi nhà Lương, giữ nước Vạn Xuân. Năm 571 . Ông bị Lý Phật Tử dùng mưu Mỵ Châu Trọng Thủy, đánh úp và thua trận. Ông tự tử ở cửa sông Đáy. Kết thúc triều đại Triệu Việt Vương.

Triệu Quang Phục là con Triệu Túc , người huyện Chu Diên. Ông cùng cha theo Lý Nam Đế khởi nghĩa từ ngày đầu (541 ) đuổi quân Lương về Tàu, được trao chức Tả tướng quân nước Vạn Xuân.

Tháng 5- 545 . Quân Lương do Dương Phiêu và Trần Bá Tiên cầm đầu, lại sang đánh Vạn Xuân. Năm 546 . Lý Nam Đế thua, giao Triệu Quang Phục giữ nước, cầm quân đánh Trần Bá Tiên .

Tháng giêng- 547 . Triệu Quang Phục về giữ đầm Dạ Trạch (bãi Màn Trò, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Đầm rộng. Cỏ cây um tùm. Bùn lầy. Bụi rậm kín mít. Giữa nhô lên nền đất cao. Người ở được. Triệu Quang Phục tận dụng thế đầm bí hiểm. Tụ quân. Đánh du kích. Bốn mặt đầm lầy, người ngựa khó đi. Dùng thuyền độc mộc nhỏ, chống sào, lướt trên cỏ nước mới vào được. Nếu không biết đường đi, lạc lối tù mù. Hiểm nguy bất chợt. Lỡ rơi xuống nước, rắn độc cắn chết.

Triệu Quang Phục thuộc đường rậm, chằng chịt trong đầm. Đem hơn 2 vạn quân vào đóng ở nền đất giữa đầm. Cầm cự lâu dài. Ban ngày không để khói lửa và dấu người. Đêm dùng thuyền độc mộc tung quân đánh doanh trại giặc. Cướp hết lương thực, vũ khí của quân Trần Bá Tiên. Giết và bắt sống nhiều lính Tàu. Dân Việt gọi Triệu Quang Phục là Dạ Trạch Vương (vua Đầm Dạ Trạch).

Đầm Dạ Trạch là "đầm Nhất Dạ". Bãi sậy gọi là "bãi Tự Nhiên". Đầm bãi, bến sông thiêng liêng chuyện tình Chử Đổng Tử- Tiên Dung. Nhờ lao động, sáng tạo, dân sống an hòa. Chử Đồng Tử tu học Phật. Phép lạ hiện ra, ở Đầm Dạ Trạch. Vợ chồng Tiên Dung không dùng sức mạnh của mình, chống vua cha và triều đình. Chử Đồng Tử- Tiên Dung đã rời cung vàng, điện ngọc và dân làng dấu yêu, biến vào Trời Đất Việt.

Linh khí Chử Đồng Tử (một trong Tứ vị Thần bất tử Việt Nam) đã truyền dưỡng Triệu Quang Phục và lòng dân Vạn Xuân trụ vững Đầm Dạ Trạch, đuổi giặc Tàu.

Năm 550 . Trần Bá Tiên mưu tính đánh dai dẳng, làm cho quân Triệu Quang Phục hết lương thực, quân đói, mệt, thì có thể phá được. Gặp lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về (năm 557, Trần Bá Tiên cướp ngôi vua nhà Lương) ủy cho tì tướng Dương Sàn ở lại. Triệu Quang Phục đánh quyết liệt. Dương Sàn chết. Quân Lương tan tác, chạy về Tàu.

Triệu Quang Phục vào thành Long Biên ở, lên ngôi vua Triệu Việt Vương, lập lại chính quyền. Dân Việt được vui sống cùng thiên nhiên, đồng lúa, ao hồ, sông nước, đầm lầy… với vua Triệu Việt Vương- Người biết dựa vào sức mạnh Lòng Dân & Thiên nhiên Đất Việt, đánh giặc Tàu, giữ nước.

20 năm sau. Lý Phật Tử từ phía Nam kéo quân về cướp ngôi Triệu Việt Vương. Lý Phật Tử làm vua, sử cũ gọi là Hậu Lý Nam Đế. Vua Tùy đòi Lý Phật Tử sang chầu. Ông thoái mác không đi. Lý Phật Tử tăng thêm quân ở những thành trọng yếu như Long Biên (Bắc Ninh), Ô Diên (Hà Nội), còn mình cầm quân giữ thành ở Cổ Loa (Hà Nội). Năm 603. Mười vạn quân Tùy tấn công Vạn Xuân. Lý Phật Tử bị vây hãm ở Cổ Loa, rồi bị bắt giải về Tàu.

Đại Việt Sử ký Toàn thư dẫn lời nhận xét thẳng thắn của sử thần Ngô Sĩ Liên về Lý Phật Tử:

Lấy bá thuật mà xét thì Hậu [Lý] Nam Đế đánh Triệu Việt Vương là đắc kế, lấy vương đạo mà xét thì việc ấy đã từng không bằng chó lợn. Sao thế? Là vì khi Tiền Lý Nam Đế ở động Khuất Lạo đem việc quân ủy cho Triệu Việt Vương. Việt Vương thu nhặt tàn quân giữ hiểm ở Dạ Trạch bùn lầy, đương đầu với Trần Bá Tiên là người hùng một đời, cuối cùng bắt được tướng của y là Dương Sàn. Trần Bá Tiên, người phương Bắc, phải lui quân. Bấy giờ vua [Hậu Nam Đế] trốn trong đất Di [Lạo], chỉ mong thoát khỏi miệng hùm mà thôi. May mà Bá Tiên về Bắc, [Lý] Thiên Bảo chết, mới đem quân đánh [Triệu] Việt Vương, dùng mưu gian trá xin hòa, kết làm thông gia. Việt Vương lấy lòng thành đối đãi, cắt đất cho ở, những việc làm của Việt Vương đều là chính nghĩa, giao hảo phải đạo, thăm viếng phải thời, há chẳng phải là đạo trị yên lâu dài hay sao ? Thế mà [Hậu Nam Đế] lại dùng mưu gian của Nhã Lang, vứt bỏ chính đạo nhân luân, kíp tham công lợi mà diệt nhân nghĩa, đánh cướp lấy nước, tuy rằng lấy được, mà Nhã Lang thì chết trước, bản thân cũng không khỏi làm tù, có lợi gì đâu?

Trần Bá Tiên & Nhà Trần nước Tàu

Nhà Trần (557- 589) là triều đại thứ tư và cuối cùng trong số các triều đại thuộc Nam triều thời Nam- Bắc triều ở Tàu. Nhà Trần bị nhà Tùy diệt.

Năm 557. Trần Bá Tiên (Trần Vũ Đế) lập nhà Trần. Nước Trần, nhỏ, yếu, chỉ chiếm một phần nhỏ lãnh thổ, xưa thuộc nhà Lương. Những cuộc chiến tương tàn, làm nhà Lương suy sụp. Đất và người nơi đó, bị diệt phá, tan hoang.

Những người kế vị của Trần Vũ Đế là Trần Văn ĐếTrần Tuyên Đế đã đưa nhà nước này dần dần thống nhất, vững mạnh, ngang sức mạnh với các đối thủ như nhà Bắc Chu nhà Bắc Tề .

Bắc thuộc lần II là như thế. Bảy triều đại nước Tàu (cuối Hán- Ngụy, Đông Ngô, Đông Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương, nhà Trần) đã tranh nhau “dính máu, ăn phần” dày xéo Dân nước Việt.

Trần Bá Tiên & Đại chiến nước Vạn Xuân

Trần Bá Tiên con nhà nghèo. Ông trưởng thành thời Lương Vũ Đế Tiêu Diễn. Hồi trẻ, ông làm lý trưởng làng Hạ Nhược, huyện Trường Thành (nay là huyện Trường Hưng, tỉnh Chiết Giang- Trung Quốc ).

Tháng 6- 545. Lương Vũ Đế phong Dương Phiêu làm thứ sử Giao Châu, cử Trần Bá Tiên làm tư mã; thứ sử Định Châu là Tiêu Bột cùng họp với Dương Phiêu ở Tây Giang , sai đi đánh nước Vạn Xuân. Tiêu Bột biết ý các tướng sĩ sợ phải đi đánh xa, nói dối để Dương Phiêu ở lại. Dương Phiêu tập họp các tướng, hỏi mưu kế.

Trần Bá Tiên nói:

"Quan Thứ sử Định Châu muốn tạm an nhàn trước mắt, không nghĩ đến mưu kế lớn, túc hạ vâng mệnh vua đi đánh kẻ có tội, dù sống chết thế nào cũng không quản ngại, lẽ nào dùng dằng không tiến quân để nuôi cho thế giặc thêm mạnh mà làm cho quân mình nản chí hay sao?".

Trần Bá Tiên thúc quân mình đi trước. Dương Phiêu cử Trần Bá Tiên làm tiên phong. Lý Nam Đế mang quân đánh, bị thua chạy. Quân Trần Bá Tiên tiến vây thành.

Tháng 8- 545. Lý Nam Đế lại đem quân từ xứ người Lạo ra, đóng đồn ở hồ Điển Triệt. Quân Lương sợ. Nằm im ở cửa hồ. Không dám tiến. Trần Bá Tiên khích các tướng:

"Quân ta ở đây đã lâu, mà lại không có quân tiếp viện. Bây giờ đã đi sâu vào trong nước người ta, nếu một trận đánh nào bất lợi, còn mong gì sống mà về được nữa? Chi bằng bây giờ nhân dịp quân địch đang thua luôn mấy trận, lòng người chưa cố kết, ta nên liều chết gắng sức quyết đánh bằng được. Nếu vô cớ cứ đóng ở đây thì việc hỏng mất!"

Các tướng nhà Lương lặng im. Đêm ấy, nước sông bỗng lên to, chảy rót vào trong hồ. Trần Bá Tiên tinh quái, thúc quân cùng mình, theo dòng nước tiến đi trước. Quân Lương đánh trống, reo hò, tràn vào. Quân Lý Nam Đế bị đánh úp.

Nhà Trần- Chặt nước Tàu làm ba mảnh

Dẹp được loạn Hầu Cảnh, Trần Bá Tiên được phong chức Tư không. Sau loạn Hầu Cảnh, nước Lương vẫn hỗn loạn. Con cháu Lương Vũ Đế tranh quyền, người dựa vào Tây Ngụy, người dựa vào Bắc Tề (họ Cao đoạt ngôi Đông Ngụy năm 550).

Tháng 10- 557. Trần Bá Tiên phế Lương Kính Đế, lên ngôi xưng Trần Vũ Đế, lập nhà Trần..

Bắc Tề thù Trần Bá Tiên. Cuộc tranh giành Quyền/ Tiền vật lộn kinh hoàng. Giữa lúc quân các bên đang giằng co, Trần Vũ Đế ốm chết, thọ 57 tuổi.

Vì con Trần Bá Tiên là Trần Xương đang bị bắt làm tù binh ở Tây Thục nên triều Trần lập Trần Thiến (cháu gọi ông bằng chú) lên ngôi (Trần Văn Đế). Trần Văn Đế đánh bại Liên quân Bắc Tề, Vương Lâm và nhiều lực lượng cát cứ khác ở Giang Nam, mở đất đến Tây Thục.

Nước Trần do Trần Bá Tiên lập ra cùng các nước Bắc Tề, Bắc Chu chia nước Tàu làm ba, tới hết thời Nam- Bắc triều.

Triệu Việt Vương & Mỵ Châu- Trọng Thủy

Lý Nam Đế thấy sức mình đã yếu, không giữ nổi ngôi vua và đánh giặc Lương. Ông không vì quyền lợi nhỏ nhen dòng họ, đã giao cho Triệu Quang Phục, người có đủ Tài Đức Trí Dũng đánh Tàu, giữ nước Vạn Xuân.

Anh của Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo, ở đất của người Di Lạo, xưng là Đào Lang Vương, lập nước gọi là nước Dã Năng.

Trước đó, khi Lý Nam Đế tránh ở động Khuất Lạo, Thiên Bảo cùng với tướng người trong họ là Lý Phật Tử đem 3 vạn người vào Cửu Chân. Trần Bá Tiên đuổi theo đánh. Lý Thiên Bảo thua, thu nhặt quân còn sót được vạn người chạy sang đất người Di Lạo ở Ai Lao .

Lý Thiên Bảo thấy động Dã Năng ở đầu nguồn Đào Giang, đất phẳng rộng màu mỡ, có thể ở được, đắp thành để ở. Lý Thiên Bảo lấy đất Dã Năng, đặt quốc hiệu Dã Năng. Quân lính tôn Lý Thiên Bảo làm chúa, xưng là Đào Lang Vương.

Năm 555. Đào Lang Vương mất ở nước Dã Năng, không có con nối. Quân lính suy tôn Lý Phật Tử nối ngôi, thống lĩnh nước Dã Năng.

Năm 557 . Lý Phật Tử đem quân xuống miền Đông, đánh quân của Triệu Việt Vương ở huyện Thái Bình. Năm lần giáp trận. Chưa phân thắng bại. Quân Lý Phật Tử thua. Lý Phật Tử ngờ Triệu Việt Vương có pháp thuật lạ, xin giảng hòa.

Triệu Việt Vương cả tin, Lý Phật Tử là người trong họ Lý Nam Đế, không nỡ cự tuyệt. Triệu Việt Vương chia địa giới ở bãi Quân Thần (nay là hai xã Thượng Cát và Hạ Cát ở huyện Từ Liêm- Hà Nội ) cho Lý Phật Tử ở phía tây nước Vạn Xuân.

Lý Phật Tử dời đến thành Ô Diên (nay là xã Hạ Mỗ, huyện Từ Liêm- Hà Nội, còn đền thờ thần Bát Lang, tức Nhã Lang). Nhã Lang con trai Lý Phật Tử, xin lấy Cảo Nương, con gái Triệu Việt Vương. Triệu Việt Vương đồng ý, kết thông gia . Vua quý Cảo Nương, cho Nhã Lang ở gửi rể.

Triệu Quang Phục quá tin vào sức mạnh của mình, mất cảnh giác. Nhã Lang ở rể để làm gián điệp. Nội tình vua Triệu Việt Vương đã bị Lý Phật Tử nắm chắc.

Năm 571 . Lý Phật Tử cầm quân đánh Triệu Việt Vương. Vua bị bất ngờ, yếu thế, đem Cảo Nương chạy về phía Nam, tìm nơi đất hiểm, ẩn náu. Vua chạy đến đâu, quân Lý Phật Tử đuổi theo sát gót. Triệu Việt Vương cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha- Nam Định. Cùng đường vua nhảy xuống biển tự vẫn. Triệu Việt Vương mất nước.

Con rể gián điệp, cướp ngôi vua

Theo Đại Nam Quốc sử Diễn ca Trương Hống Trương Hát đã can Triệu Việt Vương đừng gả Cảo Nương cho Nhã Lang:

Có người Hống, Hát họ Trương/ Vũ biền nhưng cũng biết đường cơ mưu/ Rằng: "Xưa Trọng Thuỷ , Mỵ Châu/ Hôn nhân là giả, khấu thù là chân/ Mảnh gương vãng sự còn gần/ Lại toan dắt mối Châu Trần sao nên?”

Ngô Sĩ Liên nói:

Đàn bà gọi việc lấy chồng là "quy" thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?

Cửa biển Đại Nha vẫn còn ngôi đền nguy nga thờ Triệu Việt Vương, được dân Việt thờ ngàn đời nay. Sự thật đó làm cho chúng ta phải đặt câu hỏi:

- Tại sao huyền thoại Mỵ Châu- Trọng Thủy lại ứng vào Đức vua Triệu Việt Vương như vậy?

Cửa biển Đại Nha ( tức Độc Bộ nay thuộc xã Yên Nhân- huyện Ý Yên- Nam Định) là nơi Triệu Việt Vương, hết đường chạy Lý Phật Tử, trước mặt là biển, phải tuẫn tiết.

Người còn đây. Đất còn đây. Dân Việt đau đáu, xót xa kể chuyện Triệu Việt Vương giống vua An Dương Vương. Vua yêu con gái cùng anh rể đểu. Bất ngờ. Triệu Việt Vương bị con rể đánh úp. Vua thu quân chạy xuống phía Nam đóng trại ở vùng Sơn Nam. Quân Lý Phật Tử đuổi theo. Vua chạy tới Đại Nha, gặp cửa biển. Tương truyền nhà vua hô lớn: ”Hoàng Long Vương thần không giúp ta sao?” Đại Nha nổi sóng. Vua bước một bước xuống nước.

Vua mất ngày 14 -7 Tân Mão, ở ngôi 23 năm. Dân lập miếu thờ tại Đại Nha, nơi ông mất. Năm Trùng Hưng thứ nhất (1285) Vua Trần Nhân Tông sắc phong “Minh Đạo Hoàng Đế”. Năm Trùng Hưng thứ tư , vua ban thêm hai chữ “Khai Cơ”. Năm Hưng Long thứ hai (1313) vua Trần Anh Tông ban bốn chữ “Thành Liệt Thần Vũ”.

Khoảng 80 năm truớc, đền được chánh ngũ phẩm Đồng Hữu Hiên ngưòi thôn Lạc Chính, tự đứng ra hưng công. Năm 1948. Ngôi đền hình chữ tam, có long các đẹp nhất Bắc Kỳ, bị giặc Pháp phá tận móng. Chúng sợ ngôi đền nằm trên mỏm đất rộng chừng hơn 1ha nhô ra ngã ba giữa sông Đáy và sông Đào gặp nhau, là nơi Việt Minh án ngữ tàu chiến Pháp từ Phát Diệm lên Nam Định.

Nam Thiên Hiển Thánh- Chấn Biển Đảo Việt Nam

Mới đây, tác giả Đồng Ngọc Hoa (Việt Văn Mới) đã đến cúng lễ, tạ ngôi đền thiêng Đại Nha thờ Triệu Việt Vương và cho biết người dân Việt tôn Ngài là Thánh chấn giữ cửa biển, sông, hồ, đầm, ao, ruộng đồng, nước Nam với bốn chữ Nam Thiên Hiển Thánh.

Từ năm 1957 đến 2006. Đền được xây lại trên nền móng cũ. Ba tòa với bái đường hai tầng sừng sững, uy nghi nhìn về ngã ba, nơi hợp lưu của sông Đáy, sông Đào, nước chảy xuôi ra biển. Tầng trên của bái đường có bức hoành phi Vạn Xuân độc lập. Tầng duới có bức hoành phi bốn chữ đề ngoài cửa Nam Thiên Hiển Thánh.

Bác đức Thánh văn nguy nguy chấn Nam phương thượng đẳng
Bia đề cổ tích Độc Bộ phụng sự hộ anh linh.”

Đồ thờ tự trong hậu cung còn nguyên vẹn từ thời xưa. Các cụ cất giấu được trước khi giặc phá. Tượng Ngài uy linh trong cỗ khám tám mái kiểu long đình, ghép kính bốn mặt.

Hằng năm dân mở hội ngày 13, 14, 15 tháng 8 Âm lịch.

Đền thờ Ngài ở các huyện Ý Yên ,Vụ Bản, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Xuân Trường- Nam Định. Nga Sơn- Thanh Hoá. Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn, Gia Viễn -Ninh Bình…cũng cử người về đây cùng sáu thôn trong xã rước về Đền Đại Nha rồi lập đàn tế Ngài ở Tam Kỳ Giang (giữa ngã ba sông).

Dân đầm, ao, sông, biển Việt thờ Triệu Việt Vương

Triệu Việt Vương là vua Đức, Trí, Dũng, Nhân, Tâm toàn vẹn. Ngài hiển Thánh ngay sau khi hóa. Người dân Việt lập đền thờ Triệu Việt Vương ở cửa biển Đại Nha (nay là cửa Liêu, cửa sông Đáy). Các đền thờ của Ngài thơm hương, hùng khí bừng bừng, chấn vùng ven biển Ninh Bình , Nam Định .

Nam Định. Triệu Việt Vương được thờ tại chùa Độc Bộ, huyện Ý Yên. Chùa Thiên Biên Tự thuộc xã Hải Thanh, huyện Hải Hậu- Nam Định thờ Triệu Việt Vương. Tại vùng đất mới xã Nam Điền huyện Nghĩa Hưng, gần cửa sông Đáy, dân xây đền thờ Triệu Việt Vương- vua của sông nước, bãi bờ, đồng lúa nước Việt.

Đền làng Đồng Quỹ, xã Nam Tiến- Nam Trực- Nam Định thờ Đức Triệu Việt Vương Hoàng Đế. Dân làng mở hội từ 11- 14/8 Âm lịch hàng năm với rất nhiều nghi lễ truyền thống cùng sự tham dự của người dân và du khách.

Ở Ninh Bình có nhiều đền thờ Triệu Việt Vương nhất. Huyện Kim Sơn- Ninh Bình nay nằm ở cửa sông Đáy, có rất nhiều đền thờ Triệu Việt Vương: Đình Chất Thành (xã Chất Bình), đình làng Kiến Thái, xã Kim Chính, miếu Thượng (xã Thượng Kiệm), đền Ứng Luật (Quang Thiện), Đình làng Chỉ Thiện, Xuân Thiện, đình xã Lưu Phương, Kim Sơn

Tại vùng văn hóa cửa biển Thần Phù, xã Yên Lâm, huyện Yên Mô- Ninh Bình có đình Phù Sa thờ Triệu Việt Vương là Thành hoàng làng. Xã Yên Từ có đền thờ Triệu Việt Vương. Tại Ngã ba mỏ neo (sông Hoàng Long, Hoa Lư) dân lập đền thờ Triệu Việt Vương.

Yên Khánh là vùng đất thuộc cửa biển xưa nay đã lùi xa vào đất liền, có hàng chục đền thờ Triệu Quang Phục ở các xã: đền Duyên Phúc xã Khánh Hồng , đền Triệu Việt Vương Thị trấn Yên Ninh , đền Triệu Việt Vương xã Khánh Hải,....

Chúng tôi nhiều lần về Đền Hóa- Dạ Trạch xã Dạ Trạch- Khoái Châu- Hưng Yên. Ban thờ Triệu Việt Vương cạnh ban thờ Chử Đồng Tử.

Thôn làng Dạ Trạch dân sống an vui, sung túc. Dấu thiêng nuôi dưỡng hồn người và vạn vật. Cỏ cây xanh lá tươi màu. Ao hồ, sóng gợn xa xăm. Dân Việt sống có Đạo từ cổ tích.

Chử Đồng Tử là một trong những Phật tử đầu tiên của Phật giáo cổ nước Việt. Khẳng định đạo Phật cổ đã du nhập vào nước ta từ thời Hùng Vương.

Đền Hóa (nơi Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân hóa về Trời) là đền thờ "Chính" thuộc thôn Yên Vĩnh, xã Dạ Trạch, huyện Khóai Châu- Hưng Yên.

Ban thờ Triệu Việt Vương, thờ những ngày xưa Triệu Việt Vương đóng quân ở đây. Đất sau đền, khảo cổ tìm thấy di tích doanh trại có niên đại thời nước Vạn Xuân. Pháp xâm lược Bắc Kỳ đã đốt đền. Không đốt được bia đá. Người dân Khoái Châu dựng lại Đền. Ba pho tượng cổ bằng vàng- đồng đen, lọ cổ 100 chữ thọ, được dân cất giấu, sau chuyển về đền thờ "Tránh" Đa Hòa.

Đền Đa Hòa thuộc thôn Đa Hòa, xã Bình Minh, huyện Khoái Châu- Hưng Yên. Sau khi bình định Bắc Kỳ, để lấy lòng dân, thực dân Pháp buộc phải chi tiền xây lại đền Hóa- Dạ Trạch.

Tổng đốc Khoái Châu lấy tiền này xây một đền mới ở Đa Hòa, gọi là đền "Tránh" Đa Hòa (tránh nạn) và chuyển ba pho tượng vàng- đồng đen và bình cổ 100 chữ thọ về đây. Hướng của Đền Đa Hòa không vuông góc với sông Hồng mà chéo hướng về phía đền "Chính" Dạ Trạch. Khi Pháp phát hiện điều này, đã buộc Tổng đốc Khoái Châu phải huy động dân dựng lại đền "Chính" Hóa Dạ Trạch, nhưng không trả lại các cổ vật.

Bạn đến cầu nguyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung ở đền Đa Hòa là cầu vọng về đền Hóa Dạ Trạch.

Âm ba đồng vọng lòng ta:

Cho dù thế sự đảo điên/ Bon chen, cướp giật, Quyền/ Tiền tả tơi/ Đạo Thánh Hiền Tổ Tiên khơi/ Lòng Dân trụ vững Thiên Nhiên Đất Trời/ Sống vì dân, chết Sáng Ngời/ Anh linh hiển hiện, muôn đời độ Nhân.”

(… Còn tiếp ...)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 09.4.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn