Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




MỐI TÌNH THƠ CỦA LƯU TRỌNG LƯ





         Lưu Trọng Lư (1912-1991) là nhà thơ tiền chiến rất nổi tiếng. Ông quê ở xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, sinh trưởng trong một gia đình quan lại Nho học. Cha đậu cử nhân, làm Tri huyện. Ông lưu lại nhiều tác phẩm văn xuôi và thơ rất giá trị. Thi phẩmTiếng thucủa ông là tập thơ được nhiều bạn đọc yêu thích một thời.

         Phùng Thị Cúc (1920-2002) sinh tại làng Châu Ê, xã Thủy Bằng, ven đô Huế, quê nội ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Thân phụ của bà là ông Phùng Duy Cẩn từng làm quan dưới triều Nguyễn. Mồ côi mẹ từ năm 3 tuổi, năm 6 tuổi bà đã theo cha sống ở nhiều tỉnh vùng cao nguyên Trung bộ suốt 9 năm rồi mới về Huế học trường Đồng Khánh.

Một lần, nhà thơ Lưu Trọng Lư từ Huế đi Hà Nội. Lúc sắp lên tàu thì một người bạn của ông đưa em gái là Phùng Thị Cúc đi Hà Nội học và nhờ ông giúp đỡ trên tàu.


         Cúc là cô gái Huế sang trọng, đài các với gương mặt kiều diễm, má lúm đồng tiền rất xinh, đôi mắt đẹp và buồn đã hút hồn nhà thơ đa tình ngay lần đầu gặp gỡ. Trên quãng đường dài, vì mới sơ giao nên hai người cũng chẳng có chuyện gì để nói với nhau. Cúc lặng ngắm cảnh trí bên đường, còn thi nhân thì lặng ngắm người đẹp mà duyên may đã dun rủi đưa đến cho mình.

Khi tàu về đến ga Hàng Cỏ Hà Nội, Cúc tỏ ra bỡ ngỡ, lo lắng vì lần đầu cô đến thủ đô nên không rành đường sá. Hiểu tâm trạng của cô, Lư vui lòng đưa cô đến số 18 Phạm Phú Thứ, tìm căn gác là nơi các bạn cô đang ở trọ. Lư nhờ các bạn cô giúp đỡ cho cô, dặn dò mọi việc rồi lưu luyến chia tay.

         Lúc xuống đường, tình cờ Lư gặp nhà thơ Phạm Hầu (con trai của quan nguyên thượng thư Phạm Liệu) bấy giờ đang học trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội. Hỏi Hầu ở đâu thì Hầu chỉ lên gác. Lư theo Hầu lên gác, mở cửa sổ trông sang thì thật không ngờ, bên kia là phòng của Cúc, chỉ cách một con đường nhỏ. Lư mừng quá, không chút đắn đo, nói ngay với bạn:

          - Mình ở luôn đây với bạn được không?

         - Có chi mà không được. Ở đây, anh cùng ăn cơm tháng với em.

Lư tự hỏi: Ai chọn cho mình cái cửa sổ này nhỉ? Số phận chăng?


Ta mơ trong đời hay trong mộng,

Vùng cúc bên ngoài động dưới sương.

Ta dí đôi tay vào miếng kính,

Giật mình quên hết nỗi đau thương.

(Tình điên)


         Từ đó, Lư như người sống trong mộng. Trong mơ, Lư thường thấy cùng Cúc sánh đôi du ngoạn những nơi sơn thủy hữu tình, để lúc chợt tỉnh dậy thấy mình hoàn toàn cô độc. Ở căn phòng bên kia, Cúc cũng không thể vô tình. Những lúc Lư mở cửa sổ nhìn sang thấy Cúc khi thì đọc sách, khi thì cắm hoa, khi thì suy tư mơ mộng, cũng có khi nở một nụ cười bối rối e thẹn rồi cánh cửa sổ nhẹ nhàng khép lại.

         Tình hình là thế, cả một thời gian dài mà không có gì tiến triển. Hai người chỉ cách nhau có một cánh cửa sổ mà sao như nghìn trùng xa cách khiến Lư muốn gào lên cho thỏa lòng ấm ức:


Đây là dải Ngân hà,

Anh là chim ô thước.

Sẽ bắc cầu nguyện ước

Một đêm một lần qua.


Nhưng đó chỉ là mộng, không phải thực. Rồi Lư tự tìm cách an ủi mình bằng lời trách nhẹ nhàng :


Ai bảo em là giai nhân

Cho đời anh đau khổ?

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ

Cho vướng víu nợ thi nhân?


Lạ một điều là từ đó, mỗi sáng Cúc vẫn cắp sách đến trường, nhưng lúc ở trường về thì ném qua Lư một cái nhìn đầy sóng gió, dường như trách giận Lư nhiều lắm. Lư tự hỏi mình đã làm gì nên tội nhưng nghĩ mãi vẫn không ra. Phải chăng mình đã có điều gì xúc phạm đến cô hay cứ mãi im lặng không chịu ngỏ lời? Cứ thế mà đã qua mấy mùa đông, tình hình vẫn không tiến triển, Lư chỉ còn biết thở than :


Em chỉ là người em gái thôi,

Người em sầu mộng của muôn đời.

Tình em như tuyết giăng đầu núi,

Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.

(Một mùa đông)


Có lần hai bạn của Lư là nhà thơ kiêm bác sĩ Thái Can và bác sĩ Cẩm Chương, chồng của Thân Trọng Quế (bạn của Cúc) tổ chức cuộc tham quan chùa Thầy, rủ cả Lư và Cúc cùng đi. Mọi người ai cũng có đôi, chỉ có Lư và Cúc là đi lẻ. Sau khi leo núi, nhìn quanh chẳng thấy ai, hai người ngượng ngập đi bên nhau như một đôi tình nhân.Lúc quay về, cả bọn trải giấy nhật trình ở sân chùa để bày bữa ăn trưa, có gà quay và rượu vang Pháp. Thấy Lư uống, Cúc cũng chạm cốc vào môi. Cô em gái thật tuyệt vời khi môi nhuốm màu nho tươi, rượu tô hồng đôi má và vài sợi tóc cô đơn phất phơ trên trán tạo thành một hình tượng nghệ thuật khó quên:


Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm,

Em vẫn đùa nô uống rượu say.

Em có biết đâu đời vắng lạnh,

Lạnh buồn như ngọn gió heo may.

Môi em đượm sặc mùi nho tươi,

Đôi má hồng em chúm nụ cười.

Đôi mắt em say màu xán lạn,

Trán em để lỏng làn tóc rơi.

(Một mùa đông)


         Tình đẹp là thế mà rồi cuộc sống đẩy đưa mỗi người một ngã và kết thúc không có hậu.

         Trong những năm 1941-1946, Cúc học nha khoa tại trường đại học Y khoa Hà Nội và là một trong những sinh viên đầu tiên nhận bằng bác sĩ của chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau đó Cúc theo kháng chiến và phục vụ trong ngành Y tế.

         Năm 1949, do bị bệnh nặng, Cúc phải sang Pháp điều trị, thế là hai người xa nhau. Hết bệnh, Cúc lưu lại Pháp để học thêm về nha khoa. Năm 1953, Cúc kết hôn với bác sĩ nha khoa Bửu Điềm, người bạn thuở nhỏ định cư ở Pháp. Cái tên Điềm Phùng Thị ra đời từ đấy. Năm 1954, Cúc bảo vệ thành công luận án tiến sĩ nha khoa tại Pháp.

         Năm 1959, Điềm Phùng Thị đến với điêu khắc. Năm 1966 bà có cuộc triển lãm đầu tiên tại nhà trưng bày Tuổi Trẻ (Pháp) trong đó tượng Mère et enfants (Mẹ và con) là tác phẩm đầu tiên của bà được chính phủ Pháp mua đặt ở công viên trẻ em. Nhà nước Pháp còn mua tới 36 tác phẩm của bà để đặt tại các công viên, quảng trường, khu văn hóa du lịch ở Pháp. Bà có hàng chục cuộc triển lãm ớ các nước Pháp, Đức, Ý, Đan Mạch, Thụy Sĩ….

Khoảng năm 1974, Cúc và Lư mới có dịp gặp lại nhau. Người em gái bé bỏng ngây thơ năm nào nay đã là bà Điềm Phùng Thị, điêu khắc gia nổi tiếng thế giới. Hôm đó, Hội Nhà Văn mở tiệc mừng các trí thức, nghệ sĩ ở nước ngoài về, trong đó có Điềm Phùng Thị. Nhà văn Nguyễn Tuân đã dắt tay Điềm Phùng Thị đến chỗ vợ chồng Lưu Trọng Lư đang ngồi và nói :


Đối mặt nhau rồi,

ngâm lại bài thơ ngày xưa đi !”


         Năm 1991, bà là một trong hai người châu Á vinh dự được ghi tên trong từ điển Larousse của Pháp (người kia là Ziao Wouki, họa sĩ trừu tượng nổi tiếng người Trung Quốc). Điềm Phùng Thị đã bỏ hẳn nghề y để chuyển sang ngành điêu khắc.

         Năm 1992, bà được bầu làm Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học,Văn học và Nghệ thuật châu Âu. Cũng năm này, bà cùng chồng (Bửu Điềm) trở về Việt Nam, đưa tác phẩm về trưng bày tại biệt thự của bà ở số 1 Phan Bội Châu Huế và cùng chồng sống tại đây cho đến cuối đời. Hai vợ chồng bà không có con.

         Như đoán trước được ngày ra đi vĩnh viễn, năm 2001 bà công bố tặng toàn bộ tài sản nghệ thuật của mình cho thành phố Huế gồm khoảng 1000 tượng và tranh với các chất liệu khác nhau.

         Ngày 29-1-2002, Điềm Phùng Thị qua đời sau một cơn bệnh nặng. Chồng bà, ông Bửu Điềm, mất trước đó 5 năm (16-3-1997).

Cả hai được an táng cạnh nhau trên đồi thông Châu Ê, Huế. Hai vợ chồng nằm đấy với tiếng vi vu bất tận của ngàn thông.

Mối tình của Lưu Trọng Lư và Phùng Thị Cúc là một mối tình rất đẹp. Do hoàn cảnh, họ không đến được với nhau, nhưng chuyện tình thơ mộng của họ sẽ còn lưu lại mãi với thời gian qua những vần thơ rạo rực thuở ban đầu.


Bài đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số 886 ngày 20-3-2015"


Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa chuyển từ SàiGòn ngày 27.3.2015 .