Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Chùa Tây Phương–Chùa Thầy–Chùa Trăm Gian


DANH LAM

THẮNG CẢNH VIỆT NAM





NHỮNG NGÔI CHÙA BẮC



CHÙA TRĂM GIAN
 
Chùa Trăm Gian ở Hà Tây (khác với chùa Trăm Gian ở Hà Bắc) nằm trong địa phận của làng Tiên Lữ, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, còn có tên là Quảng Nghiêm Tự.
Chùa được xây cất trên lưng chừng đỉnh núi Bối Kê, mang nhiều sắc thái độc đáo của thời đại Lý Trần. Có nhiều huyền thoại chung quanh ngôi chùa nầy; trong đó được nói nhiều là chuyện đức Thánh Bối (Bối tức là làng Bối Kê). 
Chuyện tích kể lại như sau: Bối Kê vốn là vùng địa linh nhân kiệt vào bậc nhất của Hà Tây. Vào đời nhà Trần, tại làng Bối Kê có một phụ nữ nhà nghèo, sống lương thiện như một vị chân tu. Một đêm, bà ta nằm mơ thy đức Phật giáng sinh, sau đó mang thai và sinh ra được một đứa con trai. Chú bé nầy tên là Nguyễn Lữ (có sách chép là Nguyễn Nhữ).
 Đếnkhi lên năm tuổi, thì chẳng may cha mẹ bị bạo bệnh mà một sớm, cho nên phải đi chăn trâu để độ nhật. Tuy vậy,  cậu bé nầy rất mộ đạo. Những khi rảnh việc thường tìm đến những ngôi chùa trong vùng để nghe kinh, đọc đếnđâu nhớ đến đấy. Cậu ta cũng thiết lập bàn thờ nhỏ ngay trong nhà mình để sớm hôm lễ Phật cầu kinh không bao giờ nghỉ. Cho đến khi lên chín tuổi, thì cậu bỏ nhà, bỏ nghề chăn trâu, đến ngôi chùa Đại Bi cạnh làng để xin xuất gia.Đến năm 15 tuổi, thì cậu đã có một căn bản học Phật rất vững chắc, rồi rời chùa Đại Bi lên đường đi vân du khắp nơi.
Khi đến ngôi chùa ở làng Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, thy phong cảnh thanh quan, xinh đẹp, nên đã vào xin học đạo với vị trưởng lão tên là Đạo  Quang đang trụ trì tại đây. Trong vòng 10 năm chăm lo học tập, hành trì, nghiên cứu kinh sách thì Nguyễn Lữ đãcó một sở học tinh thông vừa Phật Giáo lại hiểu cả Lão Giáo. Tương truyền Nguyễn Lữ đã thấu suốt mọi lẽ linh  thông, phép mầu nhiệm và thường hay ra sức giúp đỡ hộ  trì cho dân chúng trong vùng.
Vua nhà Trần nghe tin nầy, liền cho người đến xem xét; sau đó sắc phong cho làm Hoà Thượng, có đạo hiệu là  Đức Minh; sau đó nhà vua lại mời vào kinh thành Thăng  Long để tu hành và giảng kinh sách. Vua lại làm đại lễ  để phong cho Phật hiệu là Đại Phong.  Sau khi vị trưởng lo của ngôi chùa Tiên Lữ viên tịch, theo lời trăn trối lại, Hoà Thượng Đức Minh xin vua Trần trở về lại chùa Tiên Lữ để trụ trì tại đây.
Tương truyền Hoà thượng Đức Minh có nhiều phép lạ,    nhất là cách trị bệnh và giải khổ cho dân nghèo trong  khắp vùng nầy. Thậm chí vua nhà Trần cũng cho mời Đức Minh về kinh đô nhiều lần để chẫn trị cho mình vàcho hoàng thân quốc thích. Mọi người tán tụng tài năng của ngài với danh hiệu là Thánh Bối.
Nhiều truyền thuyết về nhân vật chân tu nầy được sách sử ghi lại về sau. Chẳng hạn như trong Lĩnh Nam Chích Quái có đoạn chép lại rằng Đức Thánh Bối có thể làm  mưa gọi gió những khi cần đến. Những truyền thuyết còn ghi lại là vào khi quân Minh sang xâm lăng nước ta, nghe nói đến ngôi chùa Tiên Lữ có vị Thánh Bối rất linh thiêng, nên đã sai quân linh phóng hoả đốt cháy ngôi chùa nầy.
 Những pho tượng cũng được lệnh phá hủy toàn diện. Nhưng ngay khi đó thì Thánh Bối đã hiển linh, gây nên môt trận mưa khủng khiếp kéo dài đến ba ngày ba  đêm không bao giờ ngưng. Những hạt mưa  đỏ như máu, mực nước dâng cao rất nhanh quá ba thước, đã cuốn phăng tất cả quân binh xâm lược, không còn một tên đếnphá chùa.
 Sau khi yên định, quanh cảnh như cũ thì trên trời hiện nay một đám mây ngũ sắc, dân chúng khắp nơi lại trở vềTiên Lữ và ngôi chùa vẫn nguyên vẹn như xưa.
Từ đó trở đi, dân chúng trong làng và những xã lân cậnthường đến chùa Tiên Lữ để cúng lễ, cầu nguyện. Mỗi năm đến ngày rằm tháng ba, lễ hội chùa Tiên Lữ rấttrang nghiêm, đông đúc, kéo dài đến ba ngày.
 Dù ai nương náu xa gần
 Tháng ba ngày rằm trẩy hội Thánh tăng.
Những vua Trần kế tiếp cũng sùng bái vị Thánh tăng nầy và tôn vinh ngài là Thượng Đẳng Tối Linh Đại Thánh và sắc phong Tứ Vương Thánh. Ngôi chùa Tiên Lữ đã có từ mấy thế kỷ trước, nhưng chỉlà thảo am nhỏ, được dựng lên từ năm 1185 vào thời vua Lý Cao Tông (theo Nguyễn Văn Tố). Chùa được dựng lên trên đỉnh núi Mã có cao độ 56 thước. Chung quanh chùa có nhiều cây cổ thụ, cành lá sum suê khiến cho cảnh chùa càng thêm trang nghiêm u tịch.
 
CHÙA LÁNG

Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
 Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy.
 Theo tài liệu của Nguyễn Đổng Chi thì sự tích về chùa Láng (Chiêu Thiền Tự) có liên quan với những truyền thuyết của vị thiền sư Từ Đạo Hạnh đời nhà Lý.   Ông là một vị cao tăng thời vua Lý Nhân Tông. Tục danh của ông là Từ Lộ.
Từ thuở nhỏ, Từ Vinh trọ học tại làng Láng, tức là làng Yên Lãng, huyện Từ Liêm, kinh thành Thăng Long (Hà Nội). Ông kết hôn với bà Tăng Thị Loan con quan Tuần Phủ nổi tiếng và sinh ra Từ Lộ.  Hồi đó, Từ Vinh có mối hiềm khích với một vị quan trong triều là Diên Thanh Hầu; hai bên tìm cách để trừ diệt nhau. Diên Thanh Hầu cậy tiền bạc, thân thế của mình đã nhờ Pháp sư Đại Điên dùng phép để đánh chết Từ Vinh, tiêu hủy luôn cả thân xác.  Từ Lộ tìm cách để trả mối thù giết cha, cho nên đã bỏ làng, đến ẩn náu trong một hang đá tại khu rừng núi Kỳ Sơn, luyện võ nghệ và vạch kế hoạch báo oán.
Ông đã thành công trong việc giết chết Đại Điên.  Nhưng sau khi thành công thì Từ Vinh mới chợt hiểu là chuyện oan oan tương báo không bao giờ dứt được cho nên đã đi tu lấy pháp danh là Từ Đạo Hạnh.  Trong thời gian đầu, ông có hai người bạn đồng đạo thân thiết là thiền sư Minh Không và thiền sư Giác Hải.
Theo những tài liệu ghi lại thì cả ba vị nầy đều có pháp thuật khá cao minh.Về sau thì Từ Đạo Hạnh quay về tu tập tại chùa ThiênPhúc (tức là chùa Thầy) trong địa phận của vùng núi SàiSơn. Nhiều truyền thuyết cho rằng Từ Đạo Hạnh đã hoá thân và đã đầu thai làm con trai của Sùng Hiền Hầu, tức là em út của vua Lý Nhân Tông tên là Dương Hoán. Vì vua Lý Nhân Tông không có con nối dòng, nên Dương Hoán  được lập thành Đông Cung Thái Tử và trở thành vua Lý Thần Tông (1128-1138).
 Về sau, con của Lý Thần Tônglà Lý Anh Tông (1138-1175)  đã cho dựng chùa Láng để thờ vua cha và tiền thân của cha là Thiền sư Từ Đạo Hạnh.  Chùa Láng còn có tên là Chiêu Thiền Tự. Mỗi năm đến ngày mồng 7 tháng ba âm lịch, cũng là ngày sinh của Từ Đạo Hạnh, dân chúng trong vùng mở hội chùa Láng. Hiện nay, chùa Láng tọa lạc cách Hà Nội chừng bảy cây số về hướng Tây. Trong giai đoạn sơ khởi chùa nầy tọa lạc trên một cảnh trí trang nghiêm, phong quang: chùa ở một ngọn đồi nhỏ giữa cánh đồng rộng bát ngát; chung quanh chùa có nhiều cây cổ thụ.
Qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử và chiến tranh, chùa Láng bị hư hại nhiều và cũng đã được trùng tu từng phần nhiều lần.Quang cảnh hiện nay là phần kiến trúc sau cùng vào khoảng 1843-1845 nhưng vẫn giữ được vẻ cổ kính, kỹ thuật cổ điển trong hệ thống chùa chiền xưa Việt Nam.
Cổng tam quan của chùa Láng  theo kiểu cung điện  của mô thức kiến trúc của cổng vương phủ triều Nguyễn:  phía trước có một dãy hàng cột trụ biểu, xây bằng gạch có gắn những mãnh sành sứ. Cổng có ba mái cong lên,  theo kiểu cấu trúc Maya của nghệ thuật Chiêm Thành trước đây.  Sân chùa được lót bằng gạch Bát Tràng, nối liền cổng chùa và cửa tam quan. Vào bên trong còn có Bát Giác  Đình là nơi thường được tổ chức lễ hội làng Láng.
 Chùa chính bao gồm: Tiền đường, toà Thiên hương, thượng điện, nhà thờ Tổ, tăng phòng và những ngôi nhà phụ thuộc khác. Chùa Láng được xem là đệ nhất tùng lâm trong kinh thành.
    
CHÙA YÊN TỬ

Dù ai quyết chí tu hành
 Có về Yên Tử mới đành lòng tu.
Hai câu thơ trên đây cho thấy dân chúng khắp nơi đã mến mộ cảnh trí uy nghiêm và công đức tu trì của ngôi chùa lừng danh nầy qua bao nhiêu thế kỷ là nhường nào! Chùa Yên Tử có nhiều liên lạc mật thiết với vua Trần Nhân Tông (1258-1308) một vị vua có nhiều công trình giữ nước và dựng nước đồng thời cũng trở thành một vị chân tu đắc đạo. Sau những chiến công hiễn hách, vì nhận thấy chiến tranh gây bao nhiêu cảnh điêu linh trong dân chúng, nên đã nhường ngôi cho con và quyết chí lên Yên Tử để tu hành.
Yên Tử nằm trong một vị thế đặc biệt với hạnh nguyện tu hành của vị vua nầy. Chùa nằm vùng giáp giới của những tỉnh Hải Dương, Bắc Giang và Quảng Yên, ở vào vị trí cách thị xã Uông Bí (thuộc Quảng Ninh) chừng 15 cây số về phía Tây Bắc. Yên Tử là một đỉnh núi cao nhất trong vùng sơn lâm hiểm trở nầy (cao độ đến 1069 mét so với mặt biển) và cũng là nơi u tịch nhất của vùng Hải Đông ngày trước.
Theo tài liệu của Phan Phong Linh thì:  Đỉnh núi nầy  quanh năm có mây trắng bao phủ cho nên được gọi tên là Bạch Vân Sơn.Núi nầy cũng có tên là Tượng Sơn vì hình dáng trông giống như một con voi đang phủ phục.   Nhiều truyền thuyết nói về những vị tu hành theo đạo Phật hay đạo Lão đã từng đến ẩn dật tu hành tại núi này. Nổi danh nhất là vị đạo sĩ tên là Yên Kỳ Sinh, mà tương truyền có tài cải tử hoàn sinh cho không biết bao nhiêungười trong vùng.
 Về sau, ông ta đã hóa thạch. Ngôi tượng nầy  cao đến hơn 2 mét, dáng hình người mà ngày nay vẫn còn thấy trên đường lên núi (sau khi đi qua khỏi vùng Cửa Trời) được dân chúng lễ bái không ngớt. Danh từ Yên Tử cũng do huyền thoại nầy mà ra.
Nhiều tác giả lại phủ nhận giả thuyết nầy và cho rằng Yên Tử chỉ có nghĩa là ngọn núi có nhiều khói trắng bốc lên.  Yên Tử được gọi chung cả một quần thể nhiều chùa chiền, bảo tháp và hang động của vùng núi non nầy. Thiện nam tín nữ đến đây lễ bái thường đến chiêm ngưỡng, cầu khẩn nhiều chùa chạy dài từ phía chân núi, lên lưng chừng đỉnh núi đến đỉnh cao vút. Những ngôi chùa được nói đến nhiều gồm có: Ở nơi chân núi chừng 10 thước, ngay bên suối Cấm (Cấm Khê) có chùa Cấm Thực, còn được gọi là Linh Nhâm Tự hay Linh Hải Tự. Khi  đến vùng suối Lân  (Lân tuyền) thì có chùa Lân khá quy mô; chùa còn có tên là Long Động Tự.
Vua Trần Nhân Tông trong giai đoạn đầu tiên trên bước tu hành đã nương náu tại của nầy trong một thời gian ngắn.  Vào trong nữa là suối Giải Oan, có ngôi chùa Giải Oan  vốn có nhiều kỳ thuyết. Nhiều tài liệu cũ ghi: Khi Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông dứt bỏ hồng trần vào núi Yên Tử tu hành, thì vua Trần Anh Tông đã cho nhiều cung nữ trong cung đến núi để vời vua trở về; nhưng nhà vua nhất định cự tuyệt. Nhiều cung nữ đã thất  vọng, trầm mình xuống ngọn suối nầy.
Nhà vua đã cho lập đàn tràng trong bảy ngày đêm để cầu siêu cho họ, đồng thời cũng lập một am nhỏ để thờ hương vị, đặt tên là chùa Giải Oan. Nhiều tượng hình cung nữ cũng đã được ghi tạc, thờ trong chùa nầy. Chùa Giải Oan thường nổi tiếng là linh thiêng:   Oán cừu thì đến Giải Oan,  Đến đền Long Động, đến đàn Hà Khê.
Qua khỏi khu vực Giải Oan thì đến dốc Voi Xô, để đi vào dãy núi Hạ Kiệu. Nhiều quan đại thần triều nhà Trần đến thỉnh an và bái yết  vua Trần Nhân Tông, đến khu vực nầy là phải xuống kiệu đi bộ để đến chùa chính,  theo nghi lễ của triều đình, để tỏ lòng cung kính.
Đây là đường đi đẹp nhất trong vùng nầy. Hai bênđường có trồng nhiều cây thanh tùng, thủy tùng và xích tùng, mà mỗi du khách đến vãn cảnh chùa thường mang theo để trồng ở khoảng lộ trình nầy, để mong được khoẻ mạnh, sống lâu (hình ảnh cây tùng).
Khu trung tâm bảo tháp của ngài Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, được tu bổ nhiều lần. Bảo tháp cao đến 10 thước chia làm 6 tầng, kiến trúc cực kỳ tao nhã. Huệ Quang Kim Tháp để thờ vị chân tu nầy cũng được thiết lập bên cạnh tháp của vua Trần. Ngôi chùa chính của quần thể Yên Tử là chùa Hoa Yên.
Nhìn tổng quát thì chùa nầy nằm ở độ cao trên 500 mét ở khu lưng chừng núi. Cửa chính điện được xây theo kiểu hình chữ nhật trong thế cuốn lại. Gạch đều được chạm trỗ những thể hình đầu rồng, đuôi phượng, bố cục khá cân đối.  Mỗi tầng có mái lợp cong uốn vồng ra phía trước, đưa tiền đình vươn rộng ra. Đỉnh tháp là chỏm nhọn trên đó có khắc hình những chim trĩ xoè cánh, chim phượng quay đầu..
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi chép về kiểu kiến trúc nầy như sau: Ngày trước, còn xây cột đá ở bên cạnh, sau đó hàng  trăm người thợ đã dựng lên; rồi dùng dây đồng để ràng lấy đỉnh tháp.  Chỏm tháp cũng được trang điểm những hoa văn nhỏ cực kỳ tinh vi làm bằng đồng.  Những di tích nổi tiếng nầy, trải qua nhiều thương hải tang điền, thì nay đã không còn lại là bao nhiêu nữa.

CHÙA KEO

  Chùa Keo (Thái Bình) tên chữ là chùa Thần Quang, có liên hệ với ngài Minh Không đời nhà Lý. Ngài Minh Không tên thật là Dương Không Lộ, vốn làm nghề chài lưới để nuôi mẹ già, nhưng lại có tài trị nhiều chứng bệnh hiễm nghèo, khiến dân chúng khắp nơi đều thán phục. 
Sau khi thân mẫu qua đời Dương Không Lộ xuất gia theo  Mật Tông Phật Giáo.Vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) mắc chứng bệnh hoá thành cốt hổ rất nguy hiểm.  Nhà vua thường ngồi xổm và rống lên như mãnh hổ.  Những danh ngự y trong kinh đô đều bó tay. Lúc đó ngoài thành có trẻ con  hát lên bài đồng dao rằng:
 Nước có Lý Thần Tông, Triều đình vạn sự thông.  Muốn chữa bệnh Hoàng đế,  Phải tìm Nguyễn Minh Không.
 Nghe được tin Không Lộ có tài trị bệnh cho nên triều đình đã  phái người đến rước vào kinh, trị bệnh cho vua. Ngài chấp nhận và lên đường vào kinh.
Ngài sai người đun nước sôi trong một chiếc vạc lớn, bỏ một ít cây đinh vào trong đó, sau ly nước cho vua tắm, lông lá trên da  nhà vua đều rụng hết và nhà vua lành bệnh.  Nhờ vậy, vua thoát khỏi chứng hiễm nghèo.
Nhà vua đã  cho xây chùa Thần Quang và phong cho Không Lộ làm Đại pháp Thiền sư kiêm Quốc sư.  Nguyên trước, ngôi chùa nầy được tạo dựng bên bờ sông  Nhị Hà; nhưng vì là vùng đất bị xoi mòn không ngừng cho nên nhiều vùng đt bị suy sụp, có nguy cơ cuốnphăng đi ngôi chùa.
Vì vậy, vào đời Hậu Lê, quận công  Nguyễn Quyên đã dựng đất cúng vườn, để dời chùa nầy đến tại một vùng rộng rãi ở làng Dũng Nghi, huyện Vũ Thư trong địa hạt tỉnh Thái Bình.
Nhiều tài liệu viết:  Quận công Nguyễn Quyên một đêm nằm mơ thấy môt vị thiền sư hiển linh, gọi đến gan mà bảo: Trong thời tao loạn nầy nên tích phước cho con cháu đời sau nhờ; cho nên cần dựng lại ngôi chùa nầy. 
Nhưng theo những tài liệu được ghi trong Không Lộ Thiền Sư Ký Ngữ Lục năm 1061, thì nhà sư Không Lộ đã dựng lên ngôi chùa Nghiêm Quang tại địa phận của làng Giao Thủy (cũng gọi là làng Keo) ở về phía hữu ngạn của con sông Hồng. Sau khi thiền sư  Không Lộ qua đời thì chùa Nghiêm Quang được đổi tên là chùa Thần Quang. Năm 1611, trận lụt lớn trong vùng sông Hồng đã cuốn  phăng đi tất cả làng mạc trong vùng kể cả chùa Keo nữa.
Dân chúng trong làng đã di chuyển về vùng Đông Nam hữu ngạn sông Hồng dựng chùa Keo ở khu vực làng  Hành Thiện; còn số người khác thì đến lập nghiệp tại phía đông bắc tả ngạn sông Hồng và dựng lên chùa Keo  ở Thái Bình. Những chứng liệu cho biết là chùa làng Keo ở xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình rộng  đến 58,000 cây số vuông và hàng chục công trình khác nhau. Bên ngoài chùa có đến hai lớp tam quan, rồi đến sân  lát đá, hồ sen, chùa thờ Phật, gác chuông, nhà tổ và khutăng xá.
 Phía sau chùa có nhiều bửu tháp mà quan trọng hơn cả vẫn là tháp của ngài Không Lộ.  Trong những công trình kiến trúc tại chùa Keo thì gác chuông của chùa nầy quả là một công trình nghệ thuật dựng lên bằng gỗ khá quy mô.
Phía dưới là một nền bằng gạch, trong khung hình vuông. Gác chuông có ba tầng,  được cấu tạo theo kỹ thuật những con sơn được lắp mộng và chồng lên nhau khá thẩm mỹ.  Trong gác tầng dưới cùng  có khánh đá và chuông đồng lớn hơn hết;  tầng giữa có chuông trung bình; tầng trên cùng có chuông nhỏ hơn.
Thông thường thì dùng chuông dưới cùng, tiếng chuông vang dội cả một vùng.  Mỗi năm chùa có hai ngày hội lớn chùa làng Keo: hội mùa Xuân và hội mùa Thu.
 Những ngày hội nầy được tổ  chức rất trang trọng và đa dạng, bao gồm lễ rước kiệu ngài  Không Lộ, rước hương án thờ, long đình, hội thuyền rồng. Những cuộc thi bơi trãi trên sông Trà Lĩnh, thi biểu diễn những loại nhạc khí như kèn trống và trình bày những điệu múa.
Về chuyện thiền sư Không Lộ có nhiều truyền thuyết. Ngài tên thật là Nguyễn Chí Thành; chịu ảnh hưởng của Mật Giáo do từ ngài Vô Ngôn Thông truyền thừa. Ngài từng sang Ấn Độ học về giáo lý và bùa phép Mật Tông và đắc quả Lục trì thần thông có nhiều khả năng trị bệnh.
Tục truyền rằng Không Lộ đã có công trong sự tạo thành bốn tác phẩm lớn thời Lý được gọi là Tứ đại khí: tháp chùa Báo Thiên, tượng Phật A Di Đà chùa Quỳnh Lâm, đỉnh chuông Phổ Minh và chuông chùa Phả Lại.
Tuy nhiên nhiều thuyết đã bác bỏ về việc kiến tạo các công trình nầy của ngài Không Lộ. Nhiều giai thoại chung quanh ngài Không Lộ.
Chẳng hạn như việc ngài Không Lộ qua nước Tống xin đồng về đúc chuông, tượng và đỉnh. Với một tay nải nhỏ mà ngài đã bỏ vào gần hết kho đồng của nhà Tống được thu nhỏlại (?) 
Nhiều sách còn nói đến khả năng bay bổng lên không trung và có thể thu phục được những loài thú vật, kể cả những con thú hung bạo nhất. Hiện nay, tại chùa Keo còn bảo lưu được nhiều di vật  tương truyền là của ngài Không Lộ.
 
CHÙA PHẬT TÍCH

Ngôi chùa nầy nguyên trước có tên là Thiên Phúc Tự hay Vạn Phúc Tự. Chùa nằm trong địa phận của xã Phật Tích, huyện Tiên Du, trên sườn núi Lạn Kha; ngày nay là xã Phượng Hoàng, huyện Tiên Du, tỉnh Hà Bắc.
Muốn đến vãn cảnh chùa nầy, du khách có thể men theo hai tuyến đường sau đây:  Theo vùng tả ngạn con sông Đuống,  ở Phùng Kha, dọc theo bờ đê khoảng 16 cây số hướng Tây Bắc, chuyển về hướng tay trái chưa đầy một cây số đã đến  ngoại vi của chùa Phật Tích. Một con đường thứ hai đi qua vùng núi Lim (hay Thoại Sơn) rồi chuyển về hướng tay trái, trong khoảng 15 cây số là đến ranh giới của xã Phật Tích.
Những tài liệu và di chỉ để lại cho biết như sau:
Chùa Phật Tích được xây dựng  từ đời vua Lý Thánh Tông vào năm Long Thụy Thái Bình năm thứ tư (tức là năm 1057), có tháp cao, tượng Phật lớn và quần thể của chùa có đến 100 toà nhà. Mọi phí tổn đều do nhà vua  cung cấp.Theo tài liệu của Trần Trọng Kim thì vua Lý Thánh Tông thường đến lễ Phật và cho kiến thiết, trang trí thêm  cho ngôi chùa nhiều lần sau đó.
Cảnh quan của chùa khá tinh vi phía Thanh Long thì nước uốn quanh, phía Bạch Hổ thì núi án ngự dùng làm nơi tựa, núi Phượng vây quanh chùa.  Chùa cũng được trùng tu thêm vào đời nhà Trần; chính  vua Trần Nghệ Tông cho dựng thêm điện Bảo Hoà (hay Quang Hoà điện) và đổi tên chùa là Vạn Phúc Tự. Tên chùa Phật Tích chỉ là dùng danh xưng của làng cho dễ nhớ. Một thư viện tàng trữ nhiều kinh sách mang tên là Lạn Kha cũng được nhà vua thiết lập tại đó. Thậm chí vua cũng đã cho mở khoa thi Thái Học Sinh tại ngôi chùa nầy vào năm 1384.
 Phật học cũng trở thành quốc học trong ý nghĩa đó.  Về sau, khi quân Minh sang xâm lăng nước ta, chùa đã  chịu nhiều  tàn phá, cho nên vua Lê Hy Tông đã cho tạo dựng toàn cảnh của ngôi chùa nầy với quy mô rộng lớn hơn nhiều (Năm Chính  Hoà thứ bảy -  1686).
Nhiều công trình nghệ thuật khác cũng được trang trí cũng khá tinh tế, mỹ thuật. Theo những tài liệu còn lưu lại cho đến nay thì trongviệc xây dựng lần nầy, Bà Chúa Trần Ngọc Am, vị đệ nhất cung tần nổi tiếng của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, sau thời gian ở trong cung đã lui về tu hành tại  chùa nầy; thành thử những cuộc trùng tu đã được phát  triển thêm lên.
Hiện nay còn lưu lại tấm bia nhan đề Vạn Phúc Đại Thiền Bi được bảo lưu tại thư viện trường Viễn ĐôngBác Cổ, có ghi:   Trên đỉnh của ngọn núi nầy đã xây dựng một toà nhà bằng đá, trong sáng, chẳng khác nào là viên ngọc lưu ly. Trên những bậc thềm có trình bày hình của mười con thú khác nhau; phía sau chùa thì có hồ sen rộng. Phía gác lầu cao có trang trí hình chim Phượng Hoàng và ngôi sao Ngưu Đẩu. Cách trang trí cực kỳ trong sáng, lấp lánh. Lầu xây khá rộng, hình rồng tựa hồ như muốn vươn lên đến trời cao, có vẽ những đoá hoa, có nhụy màu đỏ...
Trong đợt xây cất đầu tiên, thì cách kiến trúc đã dựa theo kiểu Nội công, ngoại quốc (trong theo hình chữ Công, ngoài theo hình chữ Quốc) thường thấy trong những ngôi chùa trong vùng vào thời nhà Lý, theo lời truyền lại thì có đến 100 gian, nhưng về sau thì không còn lại nữa; việc trùng tu cũng khó khăn, tốn kém không  ít.
Ngọn tháp trước chùa được xây dựng trong một vị trí tôn nghiêm,  rất cao mà quan chưởng lý đại thần Nguyễn Thế Xưởng hồi đó đã mô tả là  “Tháp dựa lên nhữngtầng mây, cao vun vút”.
Đằng sau chùa có xây lên hai gian phòng lớn dùng làm long từ và thạch thất là những vị thiền sư nổi tiếng trong vùng thường đến để giảng kinh, thuyết pháp.
 Bên cạnh chùa là ngôi miếu Tiên Chúa, thờ bà Trần  Ngọc Am. Câu đối trong ngôi miếu đến nay vẫn còn bảo lưu:   Đệ nhất cung tần quy Phật địa, Thập tam đình vũ thứ Tiên hương.
Tương truyền bá Chúa Tiên đã hiển thánh, cho nên dân chúng thường đến cầu khẩn cực kỳ trang nghiêm ước gì được đó và ngôi miếu đã được mở rộng ra nhiều.
 Ngôi chùa Vạn Phúc từ đời chúa Trịnh còn vững bền mãi cho đến năm 1947, thì quân đội viễn chinh Pháp trong những cuộc càn quét đã phá sập ngôi chùa và  miếu, tháp của ngôi chùa nầy.   Ngôi chùa chỉ còn trơ lại những bậc nền, ăn sâu vào  trong sườn núi.
 Trong năm 1940, những nhà khảo cổ thuộc trường Viễn Đông Bác Cổ và hội Nghiên Cứu Đông Dương đã đến nghiên cứu ngôi chùa nầy và đã tìm thấy những viên gạch lớn, trên đó một số có ghi rõ niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ tư (1057); còn số khá thì lại ghi niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh  (1065).
 Những chứng tích trên đây cũng giúp chúng ta  hiểu được thêm về thời kỳ kiến trúc đầu tiên của ngôi  chùa nầy và sự kiên cố của những vật liệu dùng trong công cuộc xây cất nầy.  Ngoài ra, giáo sư Bezacier, viện trưởng của trường nầy cũng đã tìm thấy được một số di tích quan trọng khác:  tượng sư tử, tê giác, voi, trâu, ngựa... nằm trên những  nền  đài hoa sen.
 Ngoài ra cũng tìm thấy được những tượng hình của những vũ nữ và nhạc công chạm trổ cực kỳ tinh xảo.   Những vết tích khác thì nay đã không còn thấy nữa.  Ngày nay, chùa Phật Tích được tu bổ, nhưng chỉ là một ngôi chùa nhỏ và chưa có vị trụ trì.  Danh từ Phật Tích cũng mang nhiều ý nghĩa.
Trước kia, từ nhiều thế kỷ trước, trong vùng đất nầy có ngọn tháp lớn. Nhưng sau nầy, ngôi tháp suy thoái dần dà, sau cùng cũng đổ nát. Từ những đá đất vụn bổng hiện ra một pho tượng Phật quý, cho nên được mang tên là Phật Tích (di tích của Phật).
 Xóm Hoả Kê nơi có ngôi tháp nầy, cũng được đổi tên là xóm Phật Tích. Tượng Phật nầy được xây bằng đá, chiều cao đến 1,80 mét, tính cả bệ đá thì lên đến 3 mét.   Đây là một trong những pho tượng Phật nổi tiếng của  chùa chiền miền Bắc được bảo lưu  kỹ càng cho đến ngày nay: đức Thích Ca đang ngồi thiền định dưới gốc cây bồ đề, trên một toà sen 108 cánh; bệ tượng lại có nhiều hình rồng, phụng, sóng, nước và những hoa văn.   Những nét chạm trổ rất tinh vi, sắc sảo, tuy đã trải qua nhiều thế kỷ cho đến nay
Vùng đồi núi Lạn Kha, ngoài chùa Phật Tích ra, còn có   nhiều di tích của những huyền thoại khác trong các địa  danh Lạn Kha, Tiên Du.  
Lạn Kha ghi lại truyền tích của một nhân vật tên làVương Chất lên núi đốn củi đã gặp hai vị tiên, rồi cùng nhau đánh cờ. Say mê đánh cờ mãi, đến nổi cán búa đã bị mục nát mà không hay (Lạn Kha có nghĩa là cây búa đã nát).  Còn Tiên Du là nơi viên tri huyện Từ Thức đi xem hội hoa mẫu đơn đã gặp một nàng tiên tên là Giáng Tiên.   Nàng bị bắt trói vì tội hái trộm hoa và Từ Thức đã xin tha cho nàng tiên nữ.
 Về sau, Từ Thức đã rủ áo từ quan, đi du ngoạn khắp các  danh lam thắng cảnh, đến vùng bể Thần Phù thì gặp lại nàng Giáng Tiên:  Lênh đênh qua bể Thần Phù,  Sớm tu thì nổi, vụng tu thì chìm. 
Nguyễn Trãi sau khi trở về an trí, vì vụ án Nguyễn Thị  Lộ, đã đi thăm nhiều chùa chiền miền Bắc, trong đó có chùa Phật Tích. Ông lưu lại nhiều thơ vịnh cảnh.
Ông viết về  ngôi chùa nầy trong bài ngũ ngôn sau đây:
Đoản trạo hệ tà dương, Thông thông yết thượng phương. Vân quy thiền sáp lãnh, Hoa lạc giản lưu hương. Nhật mộ viên thanh cấp, Sơn trung khúc ảnh trường. Cô trung chân hữu ý, Dục ngữ hốt hoàn vương.
 Dịch nghĩa:
Bóng xế thuyền con buộc, Vội lên lễ Phật đài. Mây về giường sãi lạnh, Hoa rụng suối hương trôi. Chiều tối vượn kêu rộn, Núi quang, trúc bóng dài. Ở trong dường có ý Muốn nói bỗng quên rồi.  (Bản dịch Đào Duy Anh)
 Chúa Trịnh Sâm khi đến vãn cảnh chùa cũng viết: Lòng thành Phật Tích trong hoài niệm, Thoát bút Tiên Phù dưới ánh trăng.

CHÙA HƯƠNG

Hội chùa Hương được khách thập phương từ trong nước cũng như từ ngoài nước về tham dự. Lễ nầy bắt đầu đón khách thập phương từ  ngày rằm tháng giêng và cứ thế kéo dài cho đến ngày rằm tháng ba âm lịch.
Tuy nhiên, khách vãn cảnh chùa để tìm những hương sắc nổi tiếng thì quanh năm suốt tháng tưởng không bao giờ dứt cả. Hội chùa Hương được đánh giá là lễ hội và diễn xướng về tôn giáo được ngưỡng mộ hơn hết. Đã vậy, không gian của cảnh quan chùa Hương rất rộng lớn bên cạnh vùng sông Đáy bao la. Tuy nhiên lễ chính thức thì được cử hành từ ngày 15 cho đến ngày 20 tháng 2 âm lịch.
Theo những chi tiết được ghi trong Tự Phả của chùa Trong thì ngày 19 tháng 2 âm lịch chính là ngày sinh và ngày 18 tháng 2 âm lịch là ngày hoá của bà chúa Ba (mà dân chúng thường quan niệm là hóa thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát), cho nên trong hai ngày nầy không khí trong suốt dặm đường dài từ ngoài vào trong náo nức hơn bao giờ hết. Hàng năm ngày 6 tháng giêng là lễ Mở cửa rừng, sau khi chuẩn bị xong mọi cuộc chỉnh đốn cần thiết để đón khách thập phương.
Lễ Mở cửa rừng: Lễ nầy được khai sinh từ năm 1762, còn được gọi là Lễ Khai Sơn do Thiền Sư Huệ Đăng tổ chức hồi đó. Lễ được tiến hành ở đền Trình (tức là Ngũ Nhạc). Ngôi đền Trình vì điạ thế cho nên không lớn lắm, được kiến trúc (1755) theo kiểu chữ "tam", với vị thế phong thủy mang hình ảnh của "thượng sơn lâu đài, hạ sơn lưu thủy", cóđủ sơn triều, thủy tụ, tiền án, hậu chẩm. Đền toạ lạc phía trước núi và được gắn một phần sâu vào lưng núi.
Tương truyền thì vùng đất nầy trường kia thường có nhiều cọp dữ về, cho nên tại đó lại có thêm đền thờ Sơn thần (thần hổ), theo tập tục tín ngưỡng thời nguyên thủy. Về sau thì Sơn Thần đã được chuyển hoá dần để trở thành Nhân thần và được ghi chép theo Thần phả đầy đủ. Như đã nói, lễ Mở cửa được tổ chức vào 5 giờ sáng ngày mồng sáu tháng giêng, với một nghi lễ khác đặc biệt: sau lễ Mộc dục thì tiếp theo lễ tạ chúa Rừng (Ông Hổ), lễ Thần núi, lễ Cầu mùa, rồi đến lễ Cầu an. Vì tính chất của những lễ nầy liên quan đến sinh hoạt của dân chúng trong vùng cho nên dân trong bốn xã lân cận  đều đến tham dự rất đông đúc.
 Sau ngày lễ nầy thì dân chúng trong vùng mới được phép vào khu rừng phía sau để săn bắn hay khai thác những thổ sản. Lễ nhập đền: Vì đền Trình là ngôi đền đầu tiên nằm trong hệ thống những đền chùa trong toàn cảnh Hương Tích, cho nên khi lễ Mở cửa rừng được cử hành thì đó cũng là lễ Khai trương cho toàn chùa chiền vùng nầy. Dân chúng khắp nơi chờ đợi sẵn sau ngày lễ để có thể đi vào các tuyến đến những ngôi chùa danh tiếng trong vùng nầy.
Lễ hội: Lễ hội chùa Hương được trải dài trọng mùa Xuân từ sau ngày Mở Cửa Rừng cho đến cuối tháng ba. Rồi sau đó những ngày lễ Phật Đản, lễ Trung Nguyên, lễ Trùng Cửu, lễ vía Liễu Hạnh Thánh Mẫu, lễ Bà Chúa Thượng Ngàn, lễ Vân Hương Thánh Mẫu, bất cứ lễ hội nào cũng được thập phương đến cúng bái.
Trong những ngày đó, từ bến Yến thuyền tấp nập chen chúc nhau đi vào, từ bến Trò thuyền ra; khách lên, khách xuống hết chùa nầy sang động khác, trên bến dưới thuyền nườm nượp. Những nơi có lên đồng bóng thì con công đệ tử ở lại lâu hơn, và trong những trường hợp nầy thì lễ hội lại càng  nghiêm trang, đa dạng hơn. Đi lần từ bến Trò, dọc theo những con đường đất để leo lên chùa Thiên trù (bếp trời) miên man nào là nhang đèn, vàng mã, những hàng quán nhỏ bán trầm hương, trầu cau, quán cơm, thậm chí có những ngôi quán bán loại "gậy lụi" để khách hành hương dùng để chống leo núi chùa Hương.
Con đường từ chùa Ngoài vào chùa Trong vào khoảng 2km, nhiều dốc cao, mấp mô; tuy nhiên không vì thế mà khách hành hương bỏ cuộc. Họ nối đuôi nhau thành một suối người liên tục, từng lớp, từng nhóm từng đôi, từng đoàn, lên lên, xuống xuống. Khách thập phương chỉ mong tham quan lễ bái cho cùng khắp các chùa chiền trong vùng; mỗi khi vào hội, mọi chùa, đền, hang, động thì mọi người như bừng tỉnh hẳn. Họ chuẩn bị những lễ vật cúngbái rất tươm tất, xin xăm bói quẻ cầu mong gặp nhiều may mắn, an khang, thịnh vượng. Dù những ngôi chùa xa xuôi, trong hang động, nhưng toàn thể hương án, điện thờ, đồ thờ đều được lau chùi sạch sẽ, đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút.
Đi chùa Hương là để lễ Phật và như vậy, đất Hương Sơn như bao nhiêu khách thập phương gọi cảnh quan toàn vùng là "đất Phật". Những vị tăng sĩ đảm trách công việc trông nom hương khói, cúng bái trong chùa là chư Hoà Thượng hay Thượng Tọa dù trong thời chiến hay thời bình. 
Hương Sơn tiếp nhận khách thập phương cho nên nguồn tín ngưỡng nơi đây mang tính chất dân gian; sự pha trộn giữa Phật Giáo vàLão Giáo không thể nào tránh được, theo nhu cầu thờ phượng của quần chúng. Trong chùa, ngoài việc thờ Tam Tôn, Tam Thế Phật, cũng đã tiếp nhận thêm những tín ngưỡng cổ của địa phương; chẳng hạn như nhiều ngôi chùa của quần thể nầy có tục dùng bái giới tự nhiên (thờ thần đá, tín ngưỡng phồn thực), tín ngưỡng thờ Thần  bản mệnh, đạo Tứ Phủ.
Đi lễ chùa ở đây, sẽ gặp sự hỗn dung củacác cách thờ cúng dân gian. Tại ngôi chùa chính, bức tượng đức Quan Thế Âm Bồ Tát Chuẩn đề có nhiều đường nét điêu khắc theo kiểu dáng nghệ thuật đời Hậu Lê, bên cạnh đó là một hệ thống các tượng Phật như ở nhà Tam Bảo thuộc chùa Ngoài.  Trong động chúa Tiên có 5 pho tượng bằng đá: đó là tượng Cửu Thiên Huyền Nữ, tượng Phạm Thiên, Đế Thích, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Sự hỗn dung trong tín ngưỡng nầy khiến cho thập phương cảm thấy gần gủi hơn trong tín ngưỡng và lễ bái, cầu khẩn. Tại chùa còn có quả chuông đồng ghi rõ "Bảo Đài Hương Tích Sơn Hồng Chung" có niên đại vào 1655. Qua những bia văn, di tích lịch sử kể cả những di vật khảo cổ học khai quật được, là dấu ấn hoạt động văn hoá - tôn giáo.
Bia cổ nhất là "Thiên Trù Tự Bi Ký" dựng lên năm 1686.  Ngoài động Hương Tích, du khách còn có thể rẽ qua khu rừng Mơ, để đến lễ bái chùa Hinh Bồng, rồi từ đó men theo con suối Tuyết để vào đền Mẫu Hạ thờ Vân Hương Thánh Mẫu và bà Chúa Thượng Ngàn; từ đây một quần thể khác gồm có: núi Thuyền Rồng, núi Con Phượng, hòn Đầu Sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy; từ đây xuống bến Tuyết  đểđi vào một thắng cảnh khác: chùa Bảo Đài. Leo lên núi nầy cho đến Bạch Tuyết Môn, vào điện Cô, du khách tới thăm chùa Tuyết Sơn còn có tên là Ngọc Long Động.  Khắp nơi, trong dịp lễ hội đều tưng bừng như thế.
 
CHÙA THẦY

Cũng như chùa Láng ở quận Đống Đa, chùa Thầy là nơi trụ trì của ngài Từ Đạo Hạnh trong giai đoạn sau cùngcủa đời ngài. Chùa nầy tọa lạc trong khu vực của dãy núi Sài Sơn, thuộc làng Hoàng Xá, xã Phượng Cách, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
Theo tài liệu được ghi lại trong Đại Nam Nhất Thống Chí thì: Chùa Trong thời gian đầu tiên thì chùa Thầy chỉ là một ngôi am nhỏ, nhà tranh vách đất, nơi là sư Từ Đạo Hạnh dùng làm chỗ tu trì của mình trong giai đoạn sau cùng. Nơi  nầy được gọi là Hương Hải Am, căn cứ theo một bài văn từ của ngài Từ Đạo Hạnh viết ra.
 Cho đến đời vuaLý Nhân Tông thì chùa được trùng tu lại đại quy mô. Chùa được kiến tạo theo hai quần thể riêng biệt với nhau: chùa Cao và chùa Dưới. Chùa Cao tức là  Đỉnh Sơn Tự sau nầy;  chùa Dưới tức là Thiên  Phú Tự, hay  chùa Cả.
Năm 1655, dưới triều Hậu Lê, Dĩnh Quận Công và Hoàng Quốc Công cùng các hoàng thân quốc thích trong  triều đã góp công của trùng tu thêm cho chùa Thầy; chương trình tu tạo trong lần nầy bao gồm những công trình cơ bản như sau: ngôi chánh điện, nhà Tổ, nhà Hậu, toà nhà bia, gác Thanh Vân...
Tài liệu của cụ Lệ Thần Trần Trọng Kim cho biết:  Ngôi chùa Thầy được dựng lên trong hình thái một con rồng đang tung mình lên; về tiền diện của ngôi chùa có ngọn núi Long Đẩu nằm về bên phía trái; sau lưng của chùa thì được tựa vào dãy Sài Sơn khá vững chắc; chùa quay về hướng Nam khá thanh thoát rộng rãi. Xen kẻ vào giữa hai ngọn Long Đẩu và Sài Sơn là hồ Long Trì. Sân trước của chùa tựa như là hàm rồng được mở rộng ra: một cảnh quan như thế được tạo thế phong thủy hoành tráng.
 Năm 1603, Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan đến viếng cảnh chùa và hiểu được cảnh sắc bố trí, nên cho xây thêm hai chiếc cầu có mái ngói: cầu Nhật Tiên và cầu Nguyệt Tiên. Hai chiếc cầu tựa như hai chiếc răng nanh của rồng, tăng thêm vẻ uy nghi của toàn cảnh.  Du khách thường đi theo một hành trình: chùa Cao - chùa Một Mái - hang Bụt Mọc - hang Thánh Hóa - hang Cắc Cớ - động Gió Lùa - chợ Trời - rồi trở lại Ao Rồng - nhà Rối phía trước ngôi chùa chính.  Chùa Cao cũng được gọi là am Hiển Thụy, nằm vào vị trí đẹp trong khu vực, tòa kiến trúc gồm 3 gian, có gác chuông cao, vách chùa có nhiều bút tích của các danh nho như Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan... sau chùa Cao là hang Thánh Hóa. Theo tục truyền, để được đầu thai làm vua nhà Lý, chính vào giờ sinh của Dương Hoán (con trai của Sùng Hiền Hầu, cháu gọi vua Lý Nhân Tông bằng bác) thì ởhang Thánh Hóa, thiền sư Từ Đạo Hạnh trút xác để hoá thân vào Dương Hoán, mà sau nầy vì không có con nối nghiệp cho nên vua Lý Nhân Tông đã truyền ngôi lại cho Dương Hoán tức là vua Thần Tông (1128 - 1138). Hang nằm lưng chừng núi đá, lối vào hang chênh vênh, theo tục truyền trong hang có di cốt của ngài Từ Đạo Hạnh.
Sau cuộc leo vào hang Thánh Hóa trở ra sân chùa Cao tiếp tục vào hang Cắc Cớ huyền nhiệm; muốn vào hang phải mang theo đuốc và lửa; càng xuống sâu thì hang càng rộng, với nhiều ngóc ngách, lối đá rêu phong trơn tuột với những cột đá sáng long lanh như được khảm bạc dát vàng, những âm thanh tưởng chừng như từ cõi âm ty vang lên, những lỗ thông ra ngoài hang để ánh sáng luồn vào nhảy múa trong màn đêm.
Trong tận cùng của hang động tục truyền có hài cốt của quân nhà Triệu do Lữ Gia chỉ huy trong cuộc chiến chống lại nhà Hán từ đầu thế kỷ thứ II trước Công nguyên.Ngược chiều với hang Cắc Cớ, từ sân chùa Cao đi lên là chợ Trời, nằm chính trên đỉnh núi Thầy. Trên một diện tích không rộng, chung quanh là thành đá lởm chởm, tương truyền đây là chỗ tụ hội của các tiên ông từ thượng giới xuống.
Trở lại chùa Thầy, ngôi chùa được mang tên dân gian là chùa Cả, gồm có ba tòa lộng lẫy: chùa Thượng, chùa Trung và chùa Hạ. Tòa kiến trúc nầy mang phong cách kiến trúc nghệ thuật của thế kỷ XVIII, nhưng vốn trước kia do vua Lý Thần Tông dựng lên mà sau nầy được tu bổ lại.
Trong chùa có tượng vua Lý Thần Tông và ngài Từ Đạo Hạnh, hai pho tượng tục truyền là đại diện cho 2 kiếp khác nhau của Pháp sư. Pho tượng ngài Đạo Hạnh tạc bằng gỗ bạch đàn, cấu tạo theo khớp của tay chân, có lắp máy giật, làm cho pho tượng cử động được, lúc đứng lên, lúc ngồi xuống.
Hai bên chùa Cả là hai chiếc cầu Nhật Tiên và Nguyệt Tiên (gọi chung là Nhật Nguyệt Tiên Kiều) do Trạng Bùng điều động xây cấtlên. Trước chùa Cả có hồ, giữa hồ có nhà rối nước trong dịp hội lễ của những thời điểm khác nhau; tương truyền chính ngài Từ Đạo Hạnh đã sáng tạo ra trò múa rối truyền lại cho dân chúng sau nầy. Ông được thờ làm Thần tổ của múa rối nước Việt Nam.
Nhiều truyền thuyết lại cho rằng chính ngài Từ Đạo Hạnh đã bày ra trò chơi múa rối được truyền bá khắp nhân gian. Ý nghĩa là: cuộc đời tranh chấp trên thế gian nầy chỉ là hư ảo như trò múa rối. Ngày nay, hằng năm trong dịp tế lễ ngài Từ Đạo Hạnh ở chùa Láng cũng như chùa Thầy cũng đều có tổ chức tục múa rối.  Lễ hội tổ chức từ ngày mùng 5 tháng ba âm lịch, khách thập phương đã đến vãn chùa, nhưng tập trung đông nhất là ngày 7 tháng 3, ngày chính hội; mọi người từ bốn phương tám hướng đến lễ bái, cúng dường, đồng bóng, xin xăm.. rất đông đúc.  Dân làng Đoài cùng với hàng ngàn, hàng vạn khách thập phương, nhất là người dân từ thành phố Hà Nội đổ về dự hội. 
Lễ Túc yết được tổ chức vào lúc 0 giờ ngày 8 tháng 3 (âm lịch).  Những người tham gia chủ lễ có: vị chánh bái, các bô lão, ban quản trị; phía sau có 4 học trò và 4 đạo thầy. Vật cúng là: heo trắng, mâm xôi, mâm trái cây, mâm trầu cao, một đĩa gạo muối. Vào lễ, vị chánh bái niêm hương. Hai người xướng lễ thay phiên nhau điều hành toàn thể buổi lễ theo trình tự sắp đặt sẵn.
Kế đến là phần khởi cổ: nhạc trỗi lên,chuông trống bát nhã, dâng hương, chúc tửu, hiến trà. Dâng hoa rồi cúng rượu ba tuần, cúng trà ba lần. Người chủ sớ đọc văn tế. Heo cúng được lật ngữa trước khi khiêng đi. Lễ cáo chung. Cũng có khi diễn những vỡ tuồng anh hùng liệt sĩ khác như: Trần Hưng Đạo, Hai Bà Trưng, Trần Bình Trọng, Sát Thát. Bài bản đã được biên dựng từ trước.
Mỗi năm có thêm phần bổ sung trong trường hợp những phần nào cần được cập nhật hoá. Lễ xây chầu được tổ chức trước chánh điện. Vị chánh bái khấn vái, dâng lễ và trình tấu về ý nghĩa của lễ. Trước khi xây chầu, vị chánh bái làm lễ Tam sái. Tam sái là 3 lượt rãi nước bằng cành dương liễu. Nước rãi tượng trưng cho mưa rơi xuống, cây cối mùa màng tốt tươi. Lễ nầy được tổ chức vào 4 giờ sáng ngày 8 tháng ba (âm lịch).  Nghi thức cúng tế đại cương gần giống như lễ túc yết. Lễ nầy là phần quan trọng nhất cũng là phần hoàn mãn cho lễ tế.
Sau đó thì thỉnh những bài vị trở về đền. Hào hứng nhất tại chùa Thầy là múa rối nước. Múa rối nước cũng là một thể điệu diễn xướng dân gian truyền thống vào những ngày đầu năm. Rối nước được biểu diễn trên mặt nước, thường được gọi là sân khấu nước. Những người xem thì đứng chung quanh bờ hồ. Giữa hồ có dựng lên thuỷ đình, có màng che là hậu trường của rối nước, nơi các nghệ nhân dấu mình điều khiển các con rối trên mặt nước, qua những bộ điều khiển đặt ngầm dưới nước. Trong thủy đình, còn có dàn nhạc đệm và diễn viên hát theo những động tác của những con rối. Tất cả đều phù hợp với nhau, được tập luyện công phu.
Múa rối nước có từ lâu đời; theo Lĩnh Nam Chích Quái (Trần Thế Pháp) rối nước có từ đời Trần (1225). Để có rối nước, phải tạo hình những con rối khéo léo từng nhân vật, có "bộ điều khiển", thành thạo các động tác của rối. Nhiều trò diễn cần đến dăm bảy nghệ nhân; có khi con rối cách xa người điều khiển đến 7 mét. Những vùng có rối nước là phường rối Bình Phú, Chàng Sơn, Thạch Xá (huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây), phường rối nước Nam Chấn (tỉnh Thái Bình), phường rối nước Bắc Chấn (tỉnh Nam Định).

CHÙA BÚT THÁP

Chùa Bút Tháp còn có tên là chùa Ninh Phúc thuộc địa phận của làng Bút Tháp, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc  Ninh, cách Hà Nội  31 km về phía bắc.
Ngôi chùa nầy đã được xây dựng lên từ đời đầu  vua Trần Thánh Tông  (1258 - 1278), trên một vùng đồi núi khá uy nghiêm, khang trang và cảnh quan kỳ thú nhất trong vùng nầy.Đây cũng chính là nơi tu hành và truyền đạo của 3 nhàsư nổi tiếng: Huyền Quang, Chuyết Công và Minh Hạnh.
Hoà thượng Huyền Quang đã từng là một danh  nho đương thời, đậu Trạng Nguyên từng làm quan đến chức Lại Bộ thượng thư dưới đời nhà Trần; nhưng sau đó đã từ chức  tìm con đường  tu hành để cứu nhân độ thế; ông  đã trở thành  một trong ba sư tổ của phái Trúc Lâm. Trong khi trụ trì chùa Bút Tháp, ông đã cho xây mộttháp 9 tầng được gọi là tòa Cửu Phẩm.  Chùa nầy được trùng tu nhiều lần, cũng như dựng thêm  nhiều toà nhà chung quanh trở thành một kiểu quần thể chùa chiền theo thế liên hoàn.
Chùa nầy nổi tiếng trong việc hành trì và  truyền đạo từ đời Hậu  Lê cũng như triều nhà Nguyễn sau nầy. Chùa được xây trên khu đất rộng ở lưng chừng của vùng  đồi núi  Bút Tháp. Từ ngoài có ba lối ra vào qua một tam quan rộng lớn, kiến trúc khá vững chắc và tỉ mỉ.
  Sau cổng tam quan là một sân rộng, hai bên có những  bửu tháp to nhỏ khác nhau trước khi đi về phía minh  đường của chùa. La thành trong chùa có hai phần; ngoại la thành thì cao và rộng; nội la thành thì kiến trúc vững vàng hơn.  Sau đó là gác chuông xây theo hình bát giác; trên có  lầu chuông nặng đến 300 kg, nhưng về sau đã bị cướp mất đi.
Tầng dưới của lầu chuông có thờ đức Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu, như huyền thoại về chuyện Thiên Đình. Tầng trên lầu thì thờ đức Đế Thích, được tạc trên đá xanh, nhưng nay thì đã không còn nữa. Ngoài ra lại còn 4 vị thần khác cũng trong những chuyện địa ngục và thiên đường như thường được nhắc đến. Sau khi qua cổng tam quan, phải đến một sân rộng trồng nhiều thứ kỳ hoa dị thảo được đưa từ nhiều nơi khác trong vùng.  
Đi sâu vào bên trong nữa  thì mới đến khu chánh điện thường được gọi là Tiền Đường. Đây chính là nơi dân chúng thập phương đến để cầu kinh, lễ Phật.  Ở khu vực hai bên của Tiền Đường còn có 2 pho tượng:  ông Thiện và ông Ác, tức là hai vị hộ pháp của chùa.
Bàn thờ chính giữa thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong tư thế thuyết pháp ở núi Tuyết Sơn. Bên trái là nơi thờ Ngài A Nan, bên phải thờ Ngài Ca Diếp là hai đại đệ tử của đức Như Lai. Hai bên lại còn có thờ hai nhân vật truyền kỳ khác là Bà La Sát và Tiêu Diêu.  Kiến trúc chùa bằng gỗ lim khá kiên cố;  kế theo đó chính là thượng điện nơi thờ đức Phật Thích Ca Mâu Ni,  được gọi tên là toà Thiêu Hương và điện Thiêu Hương.
Điện xây trên nền cao, theo kiểu của Trung Hoa. Bàn thờ lớn thờ đức Phật Thích Ca (Cửu Long) tức là hình Phật Đản sinh. Hai bên là hai Ngài A Nan và Ca Diếp.  Điện thờ nầy đã được xây dựng toàn bộ do ngài Chuyết Công trong thời gian mới đến trụ trì tại ngôi chùa nầy. Thành thử kiến trúc khác hẳn những mô thức  khác. Nóc  không nhọn mà tròn tương tự như những mô hình kiến  trúc  Nhật Bản thy ở nhiều ngôi chùa và tháp đồng thời.
 Sau là toà Cửu Phẩm, có những hoa sen  được kiến trúc  chồng lên nhau qua chín lớp khá cân đối. Toà nhà gồm ba mái,  nhưng phần chính lại lớn gấp đôi những phần phụ  thuộc.  Hình thể của các mái trên nhỏ hẳn dần và sau cùng là một nóc nhọn cao vút lên không trung.
Các góc trang trí những loại hình rồng, kỳ lân và sóng nước xen kẻ vào nhau khá hài hoà, cân đối.  Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu kiến trúc Việt Nam thì tất cả nói lên toàn bộ giá trị nghệ thuật Đông Sơn.  Đây cũng là kiến trúc điển hình của thời đại Trần, dù  vay mượn nhưng vẫn còn mang tính chất cổ truyền Việt  Nam.             

ÐỀN HÙNG

Mỗi năm cứ đến ngày 10 tháng ba là lễ hội đền Hùng (giỗ tổ Hùng Vương). Khi tổ chức, thường được phân định làm lễ và hội. Lễ giỗ Hùng Vương là ngày lễ long trọng, có đầy đủ những nghi thức trang nghiêm cấp quốc gia. Tại nhiều đền thờ liên quan, đều có lễ nầy.
Trong những cuộc lễ chính tổ chức tại đền Hùng, những vị "chủ trò" hằng năm là người đại diện cho nhà vua hay cho chính quyền. Nghi lễ đầy đủ gồm các tiết mục, các quy phạm được ghi trong hương ước, như những cuộc lễ lớn của chính quyền trung ương. Lễ vật đây là lễ tam sinh: lợn, bò, dê, mỗi thứ một con để nguyên.
Với ý nghĩa thuần túy dân tộc, trong lễ vật còn có thêm bánh chưng, bánh dầy, mỗi thứ 9 cái theo nguyên lý của dịch học. Nhạc khí chủ yếu trong ngày lễ nầy quan trọng nhất là trống đồng, tam âm la và chiêng. Tiếp theo sau phần chánh lễ cúng bái là những cuộc rước.
Thoạt tiên là "rước cổ chay" mà người điều hành thông thường là những vị cao tăng, thiền đức. Sau đó là lễ "rước bánh chưng, bánh dầy". Đây là cuộc ruớc khá độc đáo, mà không một đám hội nào tại Việt Nam từ trước đến nay theo nghi thức nầy. Lễ nầy không những tưởng niệm đến nhân vật Lang Liêu, mà lại còn để nhớ ơn các vua Hùng,các vị thánh, như thánh Tản Viên đã từng dạy dân trồng lúa nước.  Sau lễ rước bánh thì đến lễ "rước voi".
Theo truyền thuyết thì ngày trước những vua Hùng đã biết cách nuôi voi và dùng voi trong chiến trận chống thù. Voi thường tiêu biểu cho sức mạnh, đồng thời, trên một bình diện suy lý khác, biểu trưng cho hào khí dântộc.
Cuối cùng là lễ "rước kiệu bay". Tại sao lại kiệu bay? Tương truyền là Hùng Vương thứ XVIII có nhiều sách lược trong chiến đấu chống thù, mà phương pháp sử dụng tài ba là tốc chiến tốc thắng. (Theo Vũ Ngọc Phan ).
Trong những ngày lễ nầy, không những dân chúng trong xã Hy Cương tham gia chính thức, mà còn có nhiều làng xã khắp trong huyện Thanh Châu và chung quanh vùng núi Ngũ Lĩnh đều tích cực tham dự. Từ việc tôn vinh những nhân vật tưởng như huyền thoại, dân chúng trong vùng nhân dịp nầy cũng thường tổ chức những buổi cầu cơ giáng bút của các đức Hùng Vương, Tản Viên, thánh Gióng, Chữ Đồng Tử, Tiên Dong...
Trong tế lễ Thành hoàng xã Hy Cương hàng năm, quan trọng nhất là lễ Kỳ phúc. Lễ Kỳ phúc là lễ cầu nguyện cho dân trong làng được bình an. Thông thường thì trong mỗi năm có hai lễ, vào tháng giêng và tháng bảy; tuy nhiên, trong trường hợp có chiến tranh, thì mỗi làng lại tổ chức lễ Kỳ phúc thường xuyên nếu có cơ hội và thuận tiện.
 Lễ Kỳ phúc là một đại tế quan trọng trong nghi thức cúng tế hàng năm; cho nên mọi tổ chức đều được sắp đặt, phân công trước rất cẩn trọng. Một lễ Kỳ phúc được phân chia ra làm những phần như sau: lễ cáo yết, lễ rước văn, lễ sao hạn, lễ cúng vong, lễ thập loại chúng sinh. Những người chủ trì việc tế gồm: chánh tế, bồi tế, đông xướng, tây xướng, điền văn, nội tán, chấp sự.
Khu vực đền Hùng
Nếu cả dải đất thêm phù sa cổ là dải đất mang nhiều dấu ấn lịch  sử, chứng kiến quá trình hình thành của dân tộc qua nhiều cuộc thay triều đổi họ, thì tiểu vùng đất Tổ Vĩnh Phú là trung tâm của những diễn tiến đó.
 Nơi đây có hàng trăm di tích khảo cổ khai quật trong nửa thế kỷ nay, thuộc nhiều triều đại kế tiếp nhau, thì ngay trong tâm thức dân gian qua các thời đại còn ghi nhận nhiều địa danh, di tích lịch sử, những truyền thuyết lẫn những huyền thoại. Trước hết phải nói đến núi Hùng.  Ngôi đền Hùng kỷ niệm 18 vị vua dựng lên nước Văn lang.
Đền Hùng dững trên ngọn núi Hùng, còn gọi là núi Hy Cương, núi Nghĩa Lĩnh, ở tại làng Cổ tích, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, ở trong vùng trung du giàu đẹp tuộc tỉnh Vĩnh Phú. Quanh đền Hùng, thiên nhiên hùng vĩ: khắp nơi đều có những ngọn đồi lô nhô, to nhỏ, cao thấp, hình thế độc đáo kiểu voi chầu, hổ phục, tiền án, hậu chẩm, phượng múa, rồng bay. Ngọn Hy Cương và hai quả đồi cạnh nó là đồi Trọc và đồi Văn Tạo thành hình thế con rồng, mà đầu là Hy Cương chầu về đất tổ Phong Châu.
 Từ trên đỉnh Hy Cuơng nhìn xuống, cảnh bao lao khoáng đạt dàn trải trước mắt. Ở ngọn núi Hùng cũng như thắng cảnh tại chùa Hương, không phải chỉ có môt ngôi đền, môt ngôi chùa, mà cả một quần thể kiến trúc đan xen nhau giữa kiến trúc và phong cảnh.
Trước hết là Giếng Ngọc và đền Giếng gắn liền với chuyện tích hai nàng mị nương Tiên Dung và Ngọc Hoa, con vua Hùng thứ 18. Rồi đến đền Hạ bên cạnh chùa Thiều Quang, với gác chuông, bia đá là nơi vua Hùng Vương thứ 7 thường đây đây hành lễ; ở lưng chừng núi có đền Trung nơi thờ 18 vua Hùng với bức hoàng phi ghi "miếu tổ vua Hùng".
Đứng trên đỉnh núi Hùng, hai ngả là hai dãy Tam Đảo và ba Vì, tạonên thế bao lấy đồng bằng châu thổ phía Nam. Ba Vì, vốn là nơi đóng quân của Tản Viên Sơn Thánh; vị anh hùng trong huyền thoại nầy vừa có công khai phá giang sơn; lại còn cócông giúp vua Hùng chống quân ngoại xâm tràn vào đất nước.
 Rồi  chung quanh những di tích hùng vĩ nầy còn biết bao nhiêu tênlàng, tên đất mang nhiều vết tich lịch sử của thời kỳ dựng nước: làng Hương Nha, làng Hiên Quan chứng tích của bà Xuân Nương, Thiều Hoa chiêu mộ quân sĩ, luyện quan binh rồi theo Hai Bà Trưng khởi nghĩa, cầu Xa Mộc (Tứ Xã, Phong Châu) vốn là nơi quân Lê đã từng đánh tan một vạn quân Minh xâm lược; núi Độc Tồn (Tam Đảo) nơi Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương lập căn cứ vững chắc chống lại triều phong kiến; vùng Tiên Động là căn cứ chống thực dân Pháp của quân cần Vương Nguyễn Lương Bích.
Những trang sử vẽ vang kế tiếp nhau diễn ra trên vùng đất lịch sử kiên cường nầy.  Và đây cũng là vùng đất của những truyền thuyết và huyền thoại.  Những truyền thuyết trong thời đại Hùng Vương gắn liền với các địa danh, lễ hội, diễn xướng dân gian trong vùng. Động Lãng Xương, vùng núi Ngũ Lĩnh là nôi gặp gỡ giữa Lạc Long Quân và nàng Âu Cơ, kết nên tình phu thê. Những truyền thuyết chung quanh Lạc Long Quân và Âu Cơ dạy dân chúng chặt cây, đốt lửa khai hoang để trồng lúa, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải, làm mật, làm bánh, đồ xôi...
Truyền thuyết về chuyện Hùng Vương chọn đất để đóng đô, vua Hùng dạy dân cấy lúa nước, trồng khoai lang, về sự tích bánh trôi, bánh ót, về điệu Hát Xoan vang dội trong vùng khi những đôi trai gái hẹn hò gặp gỡ nhau hội lễ mùa Xuân. 
Vào thời đại Hùng Vương, vùng đất nầy chính là phần quan trọng nhất của bộ Văn Lang. vào thời Hậu Lê và thời nhà Nguyễn, nơi đây thuộc trấn Sơn Tây,  là một trong tứ trấn của Nội Kinh.  Đây là vùng đất bán sơn địa, là vùng nhiều núi đồi xen kẽ thung lũng và đồng bằng. Ngoài những bãi bồi ven sông có vùng chiêm trũng, đầm hồ, vực lớn khắp nhiều nơi.
Thành thử, đất đai và khí hậu trong vùng nầy đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thuần hoá các giống lúa trồng, cho công cuộc khẩn hoang lập ấp và canh tác.  Ngày trước, cư dân thường dùng kiểu canh tác "đao canh hoả chủng"  trên các đồi gò; còn vùng ô trũng thì dùng lối "đao canh thủy nậu" qua nhiều đời. Rừng núi bao phủ từ thời xa xưa cho đến nay là môi trường duy trì nếp sống theo kiểu săn bắt và hái lượm của con người thời dựng nước.
Về phương diện canh nông thì nơi đây đã sớm hình thành kiểu  canh tác vườn đồi, vườn rừng. Cư dân thường trồng các loại hoa màu miền núi, những cây đặc sản, đồng thời cũng thu hoạch các cây lâm sản. Trong thời gian gần dây, vùng đất nầy được quy hoạch trong việc quảng canh chè, sơn, cà phê.
Những vùng trồng cây danh tiếng như bưởi Chí Đám, quýt Đan Hà, dứa Hướng Đạo, Tam Nông, hồng Huyện Hạc, vải Phú Động... thơm ngon có tiếng.  Địa thế thuận lợi nơi đây là có những trục giao thông đường sông,  đường bộ. Vùng nầy là hợp lưu của nhiều con sông, cho nên, từ xa  xưa đã mọc lên những điểm buôn bán, giao lưu. Đường xuôi về Hà Nội, đường ngược sông Hồng, sông Đà, sông Lô lên những tỉnh mạn Bắc.
Lòng đất có nhiều khoáng sản, để sau nầy khu công nghiệp lớn được dựng lên mà trung tâm và Việt Trì, mang đến cho toàn vùng nầydáng vẻ và nếp sống công nghiệp, hoà điệu với đòi sống nông nghiệp vùng thôn dã. Những truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thần và các bộ tướng của ngài cũng còn được lưu truyền nhiều tích truyền ly kỳ, diễm ảo, nhất là theo các tuyến từ Thanh Thủy sông Đà, qua các xã dọc hai bên bờ sông Thao.
Những địa danh nổi tiếng như Yên bái, Đoan Hùng, Tuyên Quang, những đền cũ, những thành xưa... Đó là truyền thuyết về cuộc hôn nhân giữa Sơn Tinh và Ngọc Hoa công chúa, con gái của vua Hùng; truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thần đã từng giúp vua  Hùng đánh nhà Thục; truyện Tản Viên đi chu du khắp nơi để dạy cho dân chúng hàng trăm nghề nghiệp khác nhau để làm giàu cho cuộc sống vững chắc của họ.
Hầu hết những làng nghề không tìm ra được vị Thần tổ của mình trong truyền thuyết thì thờ thánh Tản Viên làm Thần tổ. Tuy nhiên có nhiều tài liệu nghiên cứu thì chỉ nêu ra một số nghề do Thần Tản Viên truyền dạy như: Dạy dân làm ra lửa và nghề rèn; dạy dân làm ruộng và mở hội (thường cúng trong Lễ Tịch Điền); dạy dân săn bắn (cùng thờ với Thánh Mẫu Thượng Ngàn); dạy cho dân nghề kéo vó (bắt cá) thường thờ với Thánh Mẫu Thoả; dạy dân nghề luyện võ; dạy dân dệt lụa; dạy dân nghề múa hát (thường lễ rước chung với bà Phạm Thị Trân).
Truyền thuyết thứ nhất:
Theo truyền thuyết dân gian thì thánh Tản Viên còn được gọi là  Sơn Tinh, trong đời Hùng. Sự tích của Thần Tản Viên có nhiều dị bản khác nhau, thậm chí có phần mâu thuẫn nhau.
Ở động Lăng Xương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hoá (nay là xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Vĩnh Phú) có hai vợ chồng ông Nguyễn Cao Hoanh và bà Đinh Thị Điên. Ông bà là những người chăm lo việc tu nhân tích đức, chỉ hiềm một nỗi là tuổi đã cao mà không có con nối giòng.
Một hôm, vào rừng sâu để kiếm củi độ nhật như mọi ngày, đi đến một tảng đá to, bà bỗng thấy trời mây đều sáng rực lên cả một  vùng, rồi sau đó từ trên trời, sa xuống một con rồng vàng, phun châu, nhã ngọc.   Một lát sau, rồng lại bay trở lên trời; hương bay thơm nức khắp nơi, nước trong các khe suối trong vùng lại trongnhư ngọc, gió mát lành thổi lan xa dần... Bà bỗng thấy tâm hồn sảng khoái, liền cỡi áo quần xuống suối tắm. Tắm xong, bà cảm thấy khoan khoái trong người lạ thường và từ đấy bà thụ thai. Bà mang thai đến 14 tháng trời mà vẫn chưa sanh đẻ.
Đến ngày 15 tháng giêng năm Đinh Hợi, bà vào rừng, đi đến tảng đá to của năm trước và trở dạ. Bà sanh được một đứa con trai, mặt mũi khôi ngô, tuấn tú. Ngay trong lúc đó, thì trên bầu trời trong vùng nầy, có đám mâynăm sắc bao phủ, hào quang chói lọi như lần trước. Hai ông bà mừng rỡ, đặt tên cho cậu con trai là Nguyễn Cao Tuấn. Chính cậu con trai lần  lớn lên, thông minh tuyệt đỉnh, có lòng thương người, hiểu biết nhiều kỹ năng của mọi nghề  nghiệp, rồi dạy cho dân chúng.
Truyền thuyết thứ nhì:
Theo một truyền thuyết khác được ghi chép lại trong Thần Phả của xã Trung Nghĩa và bia khắc tại ngôi đình làng nầy, thì: Thần Tản Viên còn có tên là Hương Lang, con Lạc Long Quân hoặc "Thần Trơ"  là 3 anh em Nguyễn Tuấn, Nguyễn Hiền và Nguyễn Sùng.
Cũng theo thần phả của làng Bất Bạt, tỉnh Hà Tây, một trong những làng tôn Tản Viên làm Thành Hoàng trong làng, thì mẹ của Thánh là bà Đinh Thị Nguộc, người xấu xí, nên không ai cầu hôn. Một hôm kia, bà đi vào rừng sâu kiếm củi, thì giẫm phải một vết chân người khổng lồ nào đó, trở về thụ thai. Vì là hoang thai, cho nên bà bị hương thân phụ lão trong làng ra khỏi làng và lại bị làng bắt vạ.
Ngay khi đó, từ trong rừng sâu, một đoàn hùm beo chạy ra, đuổi những người đến bắt vạ, để cứu được bà. Hàng ngày, hùm beo và thú rừng lại mang thực phẩm để nuôi bà Đinh Thị Nguộc.
Sanh được một cậu con trai, bà đặt tên là Nguyễn Tuấn. Sau nầy khi lớn lên Nguyễn Tuấn được thiên thần dạy dỗ nghề văn lẫn võ, lại được trời ban cho chiếc gậy thần và cuốn sách ước. Nguyễn Tuấn nổi tiếng khắp đất Giao Chỉ và được kết hôn với nàng công chúa Ngọc Hoa, con của Hùng Duệ Vương. Nhưng trong cuộc hôn nhân nầy lại phải tranh tài với nhiều chàng trai khác.
 Hình ảnh đó được nói lên trong truyền thuyết về Sơn Tinh, Thủy Tinh. Sơn Tinh giúp vua Hùng chiến thắng giặc ngoại xâm. Vua Hùng khi già yếu thì  truyền ngôi lại cho Sơn Tinh.
Sơn Tinh làm vua được ba năm, chỉnh đốn mọi việc trong nước được an cư, lạc nghiệp, dạy dân các nghề, rồi truyền ngôi cho Thục Phán. Từ đó thần Sơn Tinh (Tản Viên) đi khắp mọi nơi, truyền dạy cho dân chúng nhiều ngành nghề sinh sống. Dạy dân cách dùng lửa đốt: Ở vùng đất Cẩm Đái, thuộc huyện Ba Vì ngày xưa, hồi đó đang trong cuộc sống hang động, thâm u, lạnh lẽo. dân trong những hang động nầy chưa có lửa và biết giữ lửa.
 Sơn Tinh khi qua vùng nầy đã cho gọi một cụ già trong thổ dân lại, chỉ cho cụ thấy một đám rừng cháy do những bụi cây dang, cây nứa đang mùa hạn hán, khô hanh,  vị gió đẩy ma sát vào nhau mà sanh ra lửa.
Tản Viên cũng dùng haitảng đá nhẵn, cọ sát vào nhau để làm ra lửa. Thần cũng dạy cho cụ già lấy ống dang và đống bùi nhùi để giữa lửa được lâu dài. Thần cũng chỉ cách nấu nướng, công dụng của lửa, để thay đổi cuộc sống của người dân trong vùng nầy.
  Dạy dân làm ruộng: Theo thần tích Việt nam thì nghề cày ruộng (lúa nước) bắt đầu từ   xã Lạc Quyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Sơn Bình. Nghề nông lúa nước phát triển ở cuối thời kỳ đồ đồng thau, chuyển sang thời kỳđồ sắt.  Thần phải ghi: Người đầu tiên dạy cho dân làm ruộng là thần Tản Viên (Sơn Tinh) sau khi đánh bại được Thủy Tinh để kết hôn với công chúa Ngọc Hoa.   Thời đó, dân chuyên làm nghề trồng trên đất khô, vì thường hay bị ngập nước. Thần Tản Viên khi ngang qua vùng nầy, đã cho gọi những nông dân kinh nghiệm trong làng, chỉ dẫn cho họ cách đắp bờ, giữ nước và làm ruộng nước.
Tản Viên đưa ra một nắm hạt giống, dạy cho họ cách chọn giống và cách gieo mạ, cùng với những kỹ thuật canh tác trong từng khâu một của nghề. Chính Tản Viên đã gieo mạ  và xuống đất ruộng nước cấy, để cho mọi người bắt chước. Cho đến khi lúa vừa chín tới, thần Tản Viên trở lại, dạy cho họ gặt lúa, phơi khô, giữ gìn, chọn giống cho mùa sau. Tản Viên cũng dạy dân múa hát, tổ chức lễ hội, diễn xướng, cầu cho được mùa. Hội múa xãLạc Quyết sau nầy được gọi là thể điệu "Múa Rô".
Ngày ngày thể điệu "Múa Rô" rất hiếm; theo thông lệ tuần hoàn cứ 36 năm (9 x 4) thì mới được mở một lần theo chu kỳ vào ngày 10-15 tháng Giêng âm lịch.  Múa Rô bao gồm: hát, múa, gõ sênh, giữ nhịp. Những trò diễn xướng khác trong Múa Rô là: Kéo co, đấu vật, đánh cờ người. Dạy dân săn bắtNgười dân miền thượng du thường tôn thờ 2 vị: Tản Viên và mẫu Thượng Ngàn.
Tản Viên dạy dân đi rừng nghề săn bắt; bà chúa Thượng Ngàn bảo hộ cho dân đi rừng tránh thú dữ. Nghề săn bắt  khởi đầu trong khu rừng Măng (Trúc Sơn) tỉnh Hà Sơn Bình. TảnViên chỉ dẫn cách làm cung tên, làm hầm gài thú, cách vây bắt, cách dùng lưới săn và chỉ dẫn các thú hiền và thú dữ. Tản Viên cũng dạy dân cách "thuần dưỡng" để chăn nuôi gia súc, gia cầm.
 Dạy dân kéo vó bắt cá: Ngoài nghề nông, nghề rừng, Tản Viên cũng dạy dân nghề đánh bắt thủy sản nữa. Vùng cúng tế thần Tản Viên về ngư nghiệp dọc theo dòng sông Tích. Tản Viên dạy cách đan vó. Vó được chia làm ba loại: vó có cần, vó có trục, vó có dây keo. Tản Viên cũng đan vó và xuống nước để đặt vó cho dân chúng bắt chước. Tản Viên cũng khuyên nên thả cá con và chỉ bắt những cá lớn, để phát triển nghề.
 Nhớ ơn Sơn Tinh, dân chúng trong vùng ven sông, ven biển lập đền thờ, bên cạnh điện thờ bà Mẫu Thoải. Dân thường chọn những con cá đánh bắt to nhất, góp làm lễ cúng đức Thánh Tản, như là để ghi lại những lời dạy dỗ trong nghề đánh bắt. Tại đền Và, xã Trung Hưng lễ hội Tản Viên lớn nhất tại miền bắc.

 Hội lễ và diễn xướng
Tản Viên đền Và cứ 3 năm thực hiện 1 lần; lễ hội vào ngày 15 đến17 tháng chín âm lịch. Trong lễ, dân ngư phủ phải cúng 99 cái đuôi cá lớn, dâng lên đức Thần Tản.
Những truyền thuyết chung quanh lịch sử tranh đấu chống thù nhà đền nở nước của hai chị em Trưng Vương khá phổ biến tại những vùng trong địa phận của các huyện Tam Đảo, Vĩnh Lạc, Lập Thạch, Vĩnh Yên, Mê Linh: 
Biên kỳ đóng ở Mê Linh,  Lĩnh Nam riêng môt triều đình nước ta. Ba thu gánh vác sơn hà, Một là báo phục, hai là bá vương...
Đi liền với các địa danh, truyền thuyết, những tập tục, lễ nghi,còn có những công trình kiến trúc, điêu khắc, đồ hoạ, tạo hình  nổi tiếng khác thực hiện qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau:  Tháp Bình Sơn (xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch) cao 16,6 mét, hiện nay còn lại 11 tầng.
Tháp xây hình vuông, nhỏ dần về phía trên ngọn, cạnh của tầng dưới cùng là 4,55 mét và của tầng trên cùng là 1,55 mét. Những hoa văn trang trí nơi đây rất đa dạng, thể hiện điệu thức nghệ thuật đời nhà Trần.  Đền Phú Đa có nhiều công trình điêu khắc đá rất công phu; tính ra có đến 48 công trình nổi tiếng như trụ đá, rồng đá, chó đá, voi đá, ngựa đá, sư tử đá, sập đá, án thư bằng đá, mâm đá, người đá,  những võ sĩ đá, bia đá...
Đình Thổ Tang nổi tiếng về những bức chạm gỗ, tính ra có đến 21 công trình nổi tiếng. Những đề tài thực hiện như: ngày hội xuống đồng, tranh bắn hổ, tranh đá cầu, cảnh gia đình sum họp...
Lễ hội và diễn xướng: Trong những hình thức văn hoá của vùng Vĩnh Phú còn phải kể đến những sinh hoạt lễ hội, diễn xuớng. các nghi thức và tập tục mang dấn ấn của nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, trải qua bao nhiêu thế kỷ mà nay còn bảo tồn lại được.
Tiêu biểu nhất cho những hình thái sinh họat hội lễ và diễn xướng trong vùng nầy là hội đền Hùng mà dân chúng thường nhắn nhủ nhau rằng:
"Dù ai đi người về xuôi; nhớ ngày giỗ Tổ mồng muời tháng ba"  với những hẹn hò:  Này lên! này lên! này lên!  Lên non Cổ Tích, lên đền Hùng Vương.
Ngoài nghi thức long trọng là lễ dâng hương ở đền Thượng mang tính quốc lễ truyền thống từ nhiều đời, những trò diễn xướng mang tính tái hiện lại dấu vết của lịch sử, những cuộc thi tài, các trò vui giải trí nhiều ý nghĩa.  Thông thường thì những lễ hội theo dạng thức đó gắn liền với đời sống sản xuất của dân chúng trong vùng.
Đó là các nghi thức cúng bằng cung tên, nghi thức đi săn tập thể của nhiều thôn bản, tục chài lưới đánh cá thờ và những ngày tháng chạp, tục lệ cúng gỏi cá vào khoảng tháng ba và tháng tám.   
Săn bắn, chài lưới tập thể ghi lại vết tích của sinh hoạt thời  đại Hùng Vương; những thú săn bắt được đều chia đều chung cho mọi người cùng tham dự; trong trường hợp không có thú rừng thì cũng tìm vật khác để thay thế, tượng trưng cho cuộc sống phồn vinh,    thích nghi, tương thân, tương trợ với nhau.
  Tại nhiều thôn trong địa phận của xã Phú Đức (Phong Châu) còn giữ lại tục săn bằng lưới nhất là trong những dịp tình bằng diễn   xướng trong hội lễ.  
Các nghi thức tương quan với canh tác nông nghiệp, như tục lệ thờ Thần Viá Lúa, trục Trình Nghề Nông, tục Cầu Mùa màng, lễ Xuống  Đồng mở đầu cho mùa gieo trồng, những nghi thức đảo vũ (rước tượng Tứ Pháp), lễ cúng Thần Nông, lễ Cúng Cơm Mới... 
Nhìn chung lại thì những hội lễ và diễn xướng nầy phần nhiều đã được in đậm nét của lịch sử thời cổ; đồng thời những nhân vật thờ cúng đều có gắn liền với những sự kiện lịch sử nữa.   Phần lớn đều được giữ gìn cho đến nay, mặc dù phần lớn những đền miếu đã bị hư hỏng khá nhiều qua những giai đoạn chiến tranh triền miên trong lịch sử.

 Thần phả và truyền thuyết

Trong những thần phả, thường hay huyền thoại hoá sự tích các vị thần. Thánh Gióng theo họ là sự kết hợp giữa bà mẹ Việt nghèo  nàn, tần tảo với dấu chân ông Ðổng khổng lồ.
Thần Tản Viên được sinh ra từ một cây cổ thụ thành môt chú bé, được dê rừng cho bú để sống, lớn lên bằng sự thiêng liêng của rừng núi. Thần Mộc Trang giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp được lọan của 12 sứ quân thì được sinh ra từ bà mẹ ngủ mơ thấy sao sa vào miệng mà có thai vào ngày 9 tháng 10 tức là 9 phương trời, 10 phương đất).
Vua Lê Đại Hành được làng quê hương Yên Lập - Thọ Xuân - Thanh Hoá thờ làm Thần hoàng đế cũng là do bà mẹ nghèo nàn đi cấy ăn ngó sen mà thụ thai sinh thần.  
Thần Linh Lang hiện nay được thờ tại đền Thụy Khuê và đền Thủ Lệ ở bên Hồ Tây Hà Nội; sử chép thần là con vua Lý Thái Tông, nhưng mẹ là người ở động  Bồng Sơn, mang thai 14 tháng sinh ra thần giúp nhà vua dẹp xong giặc, đến khi hoá nói là con thủy phủ, nên hoá thành con rắn trườn xuống hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) rồi biến mất. 
Thần Lâm Hổ do bà mẹ ở làng Thụy Vân (Sơn Tây) vào ruộng kiếm  củi nghe hổ gầm 3 tiếng, nên thảng thốt về nhà có thai 14 tháng mà sinh ra thần. Vị thần nầy có công giúp vua Trần giẹp tan giặc ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì) được vua phong Đô Thống Đại Vương Thượng Đẳng Thần Tối Linh Thần, đền thờ bên cầu Sa Lộc - Việt Trì.
Thần Thành hoàng của kinh thành Thăng long là Long Đỗ, thờ ở đền Bạch Mã, phố Hàng Buồm Hà Nội. Khi vua Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long, đắp thành nầy nhưng luôn luôn bị sụt lở. Vua sai đến lễ thần ở đền nầy, thấy có con ngựa trắng từ trong đền chạy ra vòng quanh thành Thăng Long rồi lại trở về lại đền. Vua theo vết chân ngựa nầy đấp lại thành Thăng Long và đã thành tựu.
Thực chất thờ thần ở đền nầy, trấn giữ phía đông kinh thành, nên thần biểu hiện mặt trời. Ngựa trắng thuộc Ngọ, dương biểu hiện mặt trời.  Hay như chuyện Bố Cái Ðại Vương (Phùng Hưng) được ghi chép lại như sau: Khi ngài mới mất, đã hiển linh như nghìn xe vạn ngựa bay trên ngọn cây mái nhà, như mây kết lại năm màu, văng vẳng tiếng đàn tiếng sáo ở trên trời. Cầu tạnh, cầu mưa, hồ nghi việc trộm cướp tranh chấp cầu đều đuợc bầy rõ ngay, Thần Cao Lỗ, tướng tài của An Dương Vương, "Chỗ dinh của thần đóng quân trước đây ở sông Bình Than, thường nổi mây đổ mưa,  thành những cơn phong ba dữ dội; ai qua đây vào đền lễ kêu cầu thì thuyền vượt giữa sông dù gặp sóng gió, cũng không bị nguy hiểm".
 Những điều trên đây cho thấy: con người đã tạo ra những sự kiện  thiêng liêng của thần linh, không gì khác hơn là theo yêu cầu trong cuộc sống thực tế mà ra.  Trong sách sử ghi chép về Thành hoàng cũng thường đề cập đến "Tứ  bất Tử". Đây là do ảnh hưởng của Đạo Giáo mà ra.
Về 4 vị nầy ghichép cũng không thống nhất. Có người cho rằng: Tứ bất Tử là Phù Đổng Thiên Vương, Tản Viên Sơn thần, Chữ Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.   Phù Đổng Thiên Vương Thánh Gióng tiêu biểu cho ý chí bất khuất, tinh thần cương quyết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước là thiên chức chung cho mọi người dân, kể cả em bé lên ba tuổi. Tản Viên Sơn thần, Sơn Tinh thắng Thủy Tinh tiêu biều cho phương thức trị thủy của người dân Việt.
Huyền thoại nầy cũng khẳng định vai trò của con người chế ngự miền núi trung du.  Chử Ðồng Tử, chàng trai nghèo khổ, sống trên bờ Màn Trù ven sông Hồng, kết duyên với con gái của vua hùng, công chúa Tiên Dung.  Huyền thoại nầy còn mang ý nghĩa của con người từ trung du xuống khai cơ lập nghiệp, sinh sôi phát triển vùng đồng bằng.   
Theo Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp, thoại nầy còn đề cập   đến việc mở mang thương nghiệp và ảnh hưởng Phật Giáo. Những hình thức âm nhạc dân gian có phong cách rất cổ như hát Xoan ở Vĩnh Phú, hát múa Dậm, hát múa Lải Lê ở Hà Nam Ninh, hát múa Rô ở Hà Sơn Bình, hát múa Xuân Phả ở Thanh Hoá, hát múa Ải Lao ở ngoại thành Hà Nội, hát bài chòi tại Bình Định, hát sắc bùa tại Phò Trạch (Thừa Thiên Huế) hát chầu văn phụ họa cho múa lên đòng bóng trong những điện thờ mẫu.

 Tín ngưỡng về Hùng Vương
 Tâm linh sùng bái những vua Hùng không mấy tính toán, so đo, cật vấn nguyên ủy. Như quan niệm của Như Bá Sĩ "Việt nhân hà tất tri Nghiêu Thuấn" (Người Việt cần gì phải biết đến vua Nghiêu, vua Thuấn!).
Niềm kiêu hãnh của dân Việt thể hiện trong việc ngang nhiên so sánh với tầm thước với nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên... như Nguyễn Trãi nhận định.
Thành thử ra, phần sâu đọng nhất trong việc tín ngưỡng nằm trong tâm thức của người dân. Huống hồ, trong từng đời của các vua Hùng được ghi trong Ngọc Phả lại còn được đưa ra những sự kiện, truyền thuyết, giai thoại, kể cả chính sử, để tô đậm thêm những đời vua Hùng. Chẳng hạn như đời Hùng Huy Vương phải đánh giặc Ân, nên xuất hiện Phù Đổng Thiên Vương, người anh hùng làng Gióng.
 Đời Hùng Duệ Vương có nàng Tiên Dung lấy Chữ Đồng Tử, hai vợ chồng cùng lập "đạo Tiên" là một lối tín ngưỡng xưa nhất của dân Việt. Và cũng trong đời vua nầy có câu chuyện chiến tranh Hùng - Thục; lại có chuyện hôn nhân giữa Tản Viên và Ngọc Hoa để sau nầy là một loạt chuyện Tản Viên dạy cho dân chúng nhiều ngành nghề để cải thiện cuộc sống, giúp đất nước ngày thêm thịnh vượng...
 Thành ra, Ngọc Phả Hùng Vương có thể đủ để chứng minh rằng: Trong nếp sống tâm linh của người dân Việt, ý thức "quay về cội nguồn" là điều quan trọng. Rồi từ trong kiến giải nầy, lại còn có cả sự lạm dụng "dựng nước, giữ nước" cũng được đưa ra để mê hoặc.
Một điều đáng cho chúng ta suy nghĩ thêm là trong cuộc sống tâm linh của dân chúng, nhất là cư dân miền Bắc Việt Nam, những đờivua Hùng được xem là tổ tiên khai sáng quốc gia, mà lại còn được xem là người khai sáng cho nhiều làng quê, nơi chôn nhau, cắt  rốn. Họ tôn thờ những vị đó làm những Thành hoàng của làng xã mình. Năm 1985, những nhà biên khảo Hà Nội đã thống kê được 1027  nơi thờ các vua thời Hùng Vương trên miền Bắc (tài liệu "Các vua Hùng có công dựng nước"- trang 117). 
 Việc thờ những vua Hùng làm Thành hoàng được diễn ra nhiều làng  xã trong những tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tây, Hải Hưng và lan vào cả đất Thanh Hoá, Nghệ An và Hà Tĩnh của miền Trung nữa. Những vùng thờ vua Hùng nhiều nhất trong những làng mạc chạy dọc theo sông Đuống, sông Dâu.
 Hệ thống thờ Thành hoàng vùng nầy rất đa dạng. Tại xã Ái Lữ, huyện Thuận Thành, người dân ở đây đã thờ cả 3 vị Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và nàng Âu Cơ làm Thành hoàng,  đồng thời xây lăng mộ. Lăng Kinh Dương Vương đến nay vẫn còn được bảo lưu, trên có ghi dòng chữ "Nhật Trùng Quan, Nam bang thủy tổ".
Hàng năm cứ đến tháng giêng từ ngày 18 cho đến ngày 24 âm  lịch, làng mở hội nghênh tế cả ba vị: cha, con trai và con dâu.  Những ngày hội như vậy thường có tổ chức lễ "Phục ruộc" (rước  nước) có cả nam tế quan và nữ tế quan, vì cần có nữ quan đi theokiệu của Âu Cơ. 
Không chỉ Thành hoàng những vị vua Hùng trong xã, mà cả đến trong nhiều thôn ấp nhỏ cũng thờ phụng những nhân vật chung quanh 18 đời vua Hùng, chẳng hạn như lối thờ phượng trong thôn Ngọc Khám,    thôn Đình Chợ (xã Gia Bông) thôn Bình Ngô, thôn Yên Ngô, thôn Nghi Khúc, thôn Thượng Vũ (xã An Bình) thôn Ngọc Xuyên, thôn Đoạn Bái, thôn Đại Bái (xã Đại Bái).
Trong những ngày lễ chính, nhiều làng trong vùng có thờ phụng những vua Hùng thường tổ chức ngày hội chung với nhau:  trường hợp của bốn thôn Bình Ngô, thôn Yên Ngô, thôn Nghi Khúc, thôn Thượng Vũ, vào trung tuần tháng 4 âm lịch hằng năm đều tổ chức chung, gọi là ngày hội Tứ Xã, suốt 400 năm nay vẫn còn duy trì.
Trong những ngày hội nầy có những trò vui chơi, ca múa như hội Treo khăn, hội Đánh vật, hội Di Tế,  hội Trăm trứng... trong đó có một số không rõ được xuất xứ và ý nghĩa từ đâu, nhưng vẫn duy trì. Chẳng hạn như trò "rồng lột" làng Ngọc Xuyên để tế Lạc Long Quân, hội "bạch kê" (gà trắng) ở làng Đại Bái mà những nhà dân tộc học vẫn chỉ đưa ra những giả thuyết mơ hồ và tồn nghi mà thôi (theo tài liệu của Nguyễn Đổng  Chi và Vũ Ngọc Phan). 
Số lớn những chi tiết nầy được vận dụng theo điển tích được ghi  chép trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp nói về "50 người con theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi", nhưng đã  không thể giải minh được vị trí nào và họ đã đi về phương nào?  Dân chúng trong những thôn có thờ phụng những vua Hùng tin rằng:  100 người con của Lạc Long Quân đã "đi về từng đơn vị xóm thôn" (theo hương phả làng Đại Bái) để khai hoang, lập ấp, sau đó trở  thành vị Thành hoàng của làng họ.
 Chẳng hạn như vị vua Hùng Vương thứ 2. Họ giải thích: Vua đầu là  Hùng Vương thứ nhất đóng đô tại Phong Châu, dĩ nhiên là Hùng Vương thứ hai phải đến làng Trí Quả (tục gọi là làng Kể Cả) trên  bờ sông Dâu. Vì trong bài vị tại làng Trí Quả có ghi rằng "Đệ nhị Nam Lạc Long Quân". Vị vua nầy còn được gọi là Đệ Nhị Thủy Vương, căn cứ theo chuyện 50 người con xuống miền biển.
Cũng vì được gọitên là "vua nước" cho nên khi cúng tế, dân làng phải kiêng ăn những loài cá, nhất là "cá chuối", "cá chép". Người con trai thứ ba tức là "đệ tam Nam Lạc long Quân" thì được tôn làng Thành hoàng tại làng Cổ Giang (huyện Gia Lâm).
Vị nầycũng được dân chúng trong làng tôn thờ với danh hiệu là "Hùng  Triều Nhất Vị Thủy Thần", đồng thời xưng tán là "khai sáng Thiênhạ, Hộ quốc, Tí dân" (trích Hương phả làng Cổ Giang).
Theo truyền thống của riêng làng nầy thì trong lễ tế Thành hoàng  nầy, cần nhất là cúng ba đĩa xôi và ba đĩa bỏng thóc nếp.
Rất nhiều chi tiết ly kỳ chung quanhviệc ghi nguồn gốc và tục cúng bái. Tại xã Phú Mỹ, dân chúng trong làng đã thờ Thành hoàng là người con thứ 37 của Lạc Long  Quân. Muốn phong phú hơn trong nguồn tài liệu, họ lưu lại một bản tiểu sử đầy giai thoại dày đến 106 trang.
 Trong thần phả được nói trên thì vị nầy được vua cha là Lạc Long Quân giao phó trọng trách khai khẩn vùng đất Quảng Hoá. Do đó, trong bài vị ghi là Quảng Hoá Đại Vương. Vì Lạc Long Quân có quá nhiều con, mà trong truyền thuyết được ghi chép của những làng nầy, người con nào cũng trưởng thành, tài ba và nhiều công lao, nên đều được tôn vinh là Đại Vương từng ngành.
 Những làng Đại Mãn, làng Đông Miếu, làng Thụy Mão cũng thờ những người con (trong số 100 người con) và được xưng tán là Lạc Thị hay Lạc Long Quân Đại Vương. Trong những tài liệu Hương Phả  ghi lại, hầu hết những vị Đại Vương nầy đều có công trừ giặc xâm lăng và công khai khẩn đất hoang cho dân làng.
Trên đây là những trường hợp nói về người cha và những người con trai (xuống biển) trong truyện tích Hùng Vương ảnh hưởng đến việc thờ Thành hoàng. Lại còn bà Âu Cơ và những người con gái? Trong  Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp là tài liệu chính để dẫn giải, không cho biết là ông bà Lạc Long Quân có con gái hay không? Trong cái bọc 100 cái trứng, thì có bao nhiêu trứng nở ra con gái?   Nhưng trong những di chỉ của những làng có thờ phụng "con gái ông  bà Lạc Long Quân" thì xác tín là "nhiều con gái". Để cụ thể hoá,  họ nêu ra những thứ bánh của những người con gái nầy tạo nên chodân làng noi theo để hành nghề.
Trong địa phận của tỉnh Hà Bắc,  rất nhiều làng thờ vị Thành hoàng là con gái của Lạc Long Quân. Họ cũng lưu lại những thần phả viết về các nữ Thành hoàng nầy.   Đây là cả một hệ thống những vị nữ thần, như các bà Chuá Dâu (dạy cho dân chúng trong vùng về nghề trồng dâu, chăn tằm) và Chằm Chỉ (làng Đại Trạch) dạy cho dân xe tơ, xe chỉ).
Có những vị nữ thầnkhác như bà Thành hoàng xã Hoài Thượng ở ven bờ sông Đuống; bà nầy được dân chúng xem là chị ruột của ba vị thần Bách Noãn (trăm trứng) được thờ tại thôn Đông Miếu, đã chết cùng ba người em trong cùng một ngày chiến đấu chống ngoại xâm (giặc Ân). 
Tại xã Vạn Linh cũng có thờ bà Hồng thị, cũng là chị em trong  Bách Noãn; bà lại còn có hai đứa con - gọi bà Âu Cơ bằng bà ngoại,  gọi Hùng Vương bằng cậu - cùng với mẹ có công tát sông để giúp cho  dân chúng tránh khỏi nạn lũ lụt, cứu dân chúng trong ba tổng trong vùng nầy.
Thành thử trong những cuộc lễ Rước Nước trong làng nầy hằng năm đều đưa kiệu cúng bà xuống thuyền ra giữa dòng  sông Đuống, quay 3 vòng, để múc nước đựng vào trong choé, đem về  đình làng Vạn Linh, để tôn vinh bà đã từng cứu dân.  Qua những điều trên, cho thấy rõ rằng ý nghĩa "trăm trứng" trong tâm linh của dân chúng nhiều nơi rất sâu sắc. Rất nhiều hình thức để trình bày những công đức nầy: thi ca, hát tuồng, điệu múa,tiểu sử, giai thoại, điếu văn...  Trong trí tưởng của người dân trong những vùng nầy, qua những tài liệu kể trên thì chuyện "trăm trứng" thường được mô tả như có thật.
Những câu chuyện chung quanh các nhân vật liên hệ đến 18 đời vua Hùng được trình bày rất nhiều. Nhiều giai thoại khá sâu sắc; trong nền tín ngưỡng cổ truyền như đã thấy trên, những người dân trong những vùng trên lại còn có những thể tài sâu sắc khác: đó  là "Tứ bất tử". Theo lý thuyết nầy thì trong tâm hồn của dân Việt, nhiều người có công đã trở thành "bất tử" vĩnh cửu, miên trường. Họ không thể chết và không bao giờ chết.
Dù những làng có thờ hay không thờ 4 vị nầy, bao giờ cũng là những hình ảnh thiêng liêng trong tinh thần sùng kính tiền nhân. Đó là: Tản Viên, Thánh Gióng, Chữ Đồng Tử và Liễu Hạnh công chúa. Trong 4 vị kể trên,  thì đã có đến 3 vị là người trong thời đại của vua Hùng.  Thánh Gióng là người chiến thắng ngoại xâm. Chử Đồng Tử còn được tôn là Chử Đạo Tổ, là nhân vật thường được xem là người "sáng lập ra đạo Việt Nam".
Những nhà phân tách tôn giáo học thường xem đây là tôn giáo xuất hiện đầu tiên tại đất Giao Chỉ trước khi Nho, Thích, Lão chưa phát triển tại nước ta. Thánh Gióng và Chử ĐồngTử đều là con rễ hoặc là thần dân của Hùng Vương và cũng là làm vinh dự cho triều đại vua Hùng bằng những chiến công hay những phép mầu nổi tiếng.
Đến Tản Viên lại có một vị trí đặc biệt trong dòng họ nhà vua cũng như trong toàn cõi đất nước hồi đó. Tản Viên là con rễ vua Hùng, đã từng thay vua Hùng cầm quân trị nước và cũng là người vừa chiến thắng, vừa hoà giải được mối quan hệ giữa vua Hùng và vua Thục.
Đặc biệt hơn thế nữa, Tản Viên còn ghi  nhiều ấn tượng sâu xa trong đời sống tâm linh của dân Việt qua  nhiều thời kỳ. 

... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản chuyển từ HoaKỳ ngày 22.3.2015.