Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới


Hồ Gươm Nấu Sử Sôi Kinh (13)



Bắc Thuộc Lần 2

Lý Bí học Phật- Lập Nước Vạn Xuân





Lý Nam Đế (503 548) hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lý và khai sinh nhà nước Vạn Xuân trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Lý Bí, còn gọi là Lý Bôn.

    Lý Nam Đế có tài văn võ. Ông đã lãnh đạo nhân dân vùng dậy, đuổi quân Tàu, xưng vua Nam Đế của nước Nam, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội).

    Về quê hương Lý Bí, các nguồn tài liệu ghi khác nhau. Đại Việt sử ký toàn thư Lịch triều hiến chương loại chí ghi ông là người Thái Bình, phủ Long Hưng. Tại khu vực này có nhiều đền thờ Lý Bí và những người gắn bó với ông như Triệu Túc, Phạm Tu, Lý Phật Tử.

    Ngày 6/10- 2012. Tại Hà Nội kỷ niệm 1.470 năm (542 - 2012) ngày cuộc khởi nghĩa Lý Bí bùng nổ, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và UBND tỉnh Thái Nguyên tổ chức Hội thảo khoa học "Một số vấn đề về Vương triều Tiền Lý và quê hương của vua Lý Nam Đế". Dựa trên cơ sở tư liệu điền dã thực địa ở các vùng: xã Tiên Phong- huyện Phổ Yên và huyện Thái Thụy, với thần tích, truyền thuyết… còn giữ tại các xã Giang Xá, Lưu Xá (huyện Hoài Đức), 27 tham luận tại hội thảo kết luận vua Lý Nam Đế có quê gốc ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên- Thái Nguyên.

    Lý Bí sinh ngày 12- 9 năm Quý Mùi (17- 10- 503). Lý Bí là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Lý Bí 5 tuổi, cha mất, 7 tuổi, mất mẹ. Ông đến ở với chú ruột. Một hôm, có một vị Pháp tổ Thiền sư đi ngang qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú, xin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy. Sau hơn 10 năm đèn sách, luyện Thiền, Lý Bí cao dày Tâm Đức, văn võ kiêm toàn, được tôn làm thủ lĩnh địa phương.

    Lý Bí được Thứ sử Tiêu Tư nhà Lương mời ra làm chức Giám quân ở Đức Châu (huyện Đức Thọ- Hà Tĩnh ngày nay).

    Thứ sử Giao Châu là Vũ Lâm hầu Tiêu Tư cai trị hà khắc, tàn bạo, dân Việt căm phẫn. Bất bình với các quan Tàu tàn ác, Lý Bí bỏ quan, về quê, chiêu binh chống lại chính quyền đô hộ nhà Lương.

Lương Vũ Đế lập nhà Lương

    Nhà Lương (502 - 557 ), còn gọi là nhà Nam Lương là triều đại thứ ba của Nam triều trong thời Nam- Bắc triều ở Tàu, sau thời của triều đại Nam Tề và trước thời của triều đại Trần. Kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh).

    Nhiều sử gia coi sự kết thúc thời trị vì của Lương Kính Đế Tiêu Phương Trí năm 557, khi ông bị buộc phải nhường ngôi cho Trần Bá Tiên, người sáng lập nhà Trần, là thời điểm kết thúc nhà Lương.

Lương Vũ Đế tin Phật- Vụng tu

    Lương Vũ Đế (464- 549) tên húy Tiêu Diễn tự Thúc Đạt là hoàng đế khai quốc của triều Lương thời Nam-Bắc triều .

    Lương Vũ Đế ham học, mở các trường học và các kỳ thi khoa cử, yêu cầu con trai của các quý tộc phải học. Mặc dù triều đình lấy Nho giáo làm tư tưởng cai trị, song Lương Vũ Đế tin Phật giáo và bị thu hút bởi nhiều phong tục Ấn Độ. Lương Vũ Đế cấm hiến tế động vật và chống việc hành hình.

    Vào cuối thời gian trị vì của mình, Lương Vũ Đế đã phải trả giá đắt do quá khoan dung đối với các quan tham trong hoàng tộc và nạn hủ bại của các hạ thần, cũng như thiếu cống hiến cho quốc gia.

    Khi tướng Hầu Cảnh nổi dậy, Lương Vũ Đế chỉ nhận được rất ít cứu trợ. Hầu Cảnh đã chiếm được kinh thành Kiến Khang, kiểm soát chặt chẽ Lương Vũ Đế và Giản Văn Đế. Đ ẩy Lương Vũ Đế vào khốn cùng. Lương Vũ Đế đã chết trong khi bị quản thúc. Một số sử gia tin rằng Hầu Cảnh đã bỏ đói Lương Vũ Đế đến chết.

Bao chắn quan tham ác- Nuôi họa

    Lương Vũ Đế thấy hai Nam triều Tống- Tề vì tàn sát lẫn nhau trong hoàng tộc mà bị diệt, nên ông hết sức khoan dung trước tội ác của các quan gian trong hoàng tộc, cũng như của các đại thần. Ông bao chắn cho những kẻ ác tham, đã có đóng góp cho việc kiến lập triều Lương.

    Lâm Xuyên vương Tiêu Hoành là người rất tham, ra sức thu vét tài sản. Trong vương phủ Tiêu Hoành có mấy chục gian kho, lúc nào cũng khóa kín. Có người nghi trong đó chứa vũ khí nên đã tố cáo với Lương Vũ Đế rằng Tiêu Hoành cất giữ vũ khí, định làm phản. Lương Vũ Đế tự dẫn cấm quân đến khám. Lương Vũ Đế lệnh mở hết các kho, phát hiện trong hơn 30 gian kho đều chứa đầy tiền đồng, tất cả có 300 tỷ quan, ngoài ra còn có rất nhiều vải, lụa, tơ, bông và các thứ khác. Lương Vũ Đế không trách tội, vì thấy Tiêu Hoành không có ý làm phản, nên càng tín nhiệm hơn trước.

    Năm 511. Khi Lương Vũ Đế đang trên đường đến nơi tế Thiên ở lân cận Kiến Khang, một lão nông đã chắn đường và kiến nghị rằng hình luật quá nặng nề với thường dân (khi một người phạm tội bỏ trốn, toàn họ tộc sẽ bị phạt khổ sai), trong khi lại quá nhẹ đối với các quý tộc và quan chức. Lương Vũ Đế tính đến chuyện sửa lại luật pháp. Song, ông chỉ cho sửa chút ít.

    Năm 522. Tiêu Chính Đức đã chạy trốn sang Bắc Ngụy, tự xưng mình là T hái tử bị phế truất và yêu cầu Bắc Ngụy trợ giúp. Bắc Ngụy đã không xem trọng chuyện này. Tiêu Chính Đức buộc phải về Lương, năm 523. Lương Vũ Đế đã không trừng phạt Tiêu Chính Đức. Vua trách nhẹ cháu trai, và còn phục tước Tây Phong hầu cho Tiêu Chính Đức.

Bất chấp lời can ngăn- Nhận thảm khốc

    Từ năm 514 trở đi, Lương Vũ Đế làm một dự án lớn. Xây một đập lớn trên sông Hoài Hà, xuôi dòng từ Thọ Dương.

    Lương Vũ Đế làm dự án. Nước Hoài Hà quá nhiều bùn đất. Các công trình sư khuyên, can. Ông không nghe. Bất chấp các khó khăn kỹ thuật, đập được tướng Khang Huyến xây thành công. Song nó đã cướp đi tính mạng của nhiều lao công do khối lượng công việc và bệnh dịch. Tư trị thông giám mô tả có 7 đến 8 phần người bị chết. Nhiếp chính Hồ thái hậu của Bắc Ngụy, phái tướng Lý Bình đến tấn công quân hộ tống Khang Huyến. Song đập cứ xây. Người cứ chết. X uân năm 516. Đập hoàn thành.

    Đập dài khoảng 4,5 km, quân lính có thể dựng trại ở trên mặt đập. Khang Huyến cố duy trì đập, khiến Thọ Dương bị ngập lụt. Lương Vũ Đế triệu Khang Huyến về kinh thành, trao quyền phụ trách đập cho tướng Trương Báo Tử. Nhưng Trương Báo Tử không khéo léo và chu đáo bằng Khang Huyến, nên không thể giữ đập. Do mực nước của Hoài Hà tăng cao vào mùa đông năm 516, đập đã bị vỡ, khiến 10 vạn người ở hạ du chết. Thọ Dương thì được cứu.

Tàn bạo & Ma thuật

    Năm 524, tận dụng thời cơ quân Bắc Ngụy đang phải chiến đấu chống lại các cuộc khởi nghĩa phía bắc và phía tây, Lương Vũ Đế tiến hành một số cuộc tấn công nhằm vào lãnh thổ phía nam của Bắc Ngụy. Quân Lương chỉ gặp phải sự kháng cự yếu ớt. Mùa xuân năm 525. Tướng Bắc Ngụy Nguyên Pháp Tăng đã dâng Bành Thành (nay thuộc Từ Châu, Giang Tô) cho nhà Lương.

    Mùa hè năm 525. do nghĩ mình là con trai của Tiêu Bảo Quyển, hoàng tử Tiêu Tông của Lương Vũ Đế đã dâng Bành Thành cho Bắc Ngụy, kết thúc việc tiến quân theo hướng đông bắc của nhà Lương.

    Mùa hè năm 526. Thọ Dương rơi vào tay quân Lương . Trong vài năm sau đó, nhà Lương tiếp tục lấn chiếm được các lãnh thổ nhỏ trên biên giới Bắc Ngụy.

    Lương Vũ Đế ban nhiều quyền lực cho Hoàng thái tử Tiêu Thống. Năm 526. Sinh mẫu của Thái tử là quý tần Đinh Lệ Quang qua đời. Tiêu Thống tìm được một chỗ, an táng mẹ . Song một địa chủ đã hối lộ cho hoạn quan Du Tam Phó, thuyết phục Lương Vũ Đế rằng mảnh đất của hắn sẽ đem đến may mắn cho hoàng đế. Lương Vũ Đế mua đất ấy, an táng Đinh quý tần. Đinh quý tần được an táng. Ngụy Nhã, đạo sĩ Đạo giáo nói với Tiêu Thống, mảnh đất đó sẽ đem đến vận xấu cho Tiêu Thống. Tiêu Thống cho phép đạo sĩ chôn một vài món đồ để hóa giải vận xấu, như vịt sáp, tại vị trí dành cho người con trai trưởng. Khi Bào Mạc Chi bị Ngụy Nhã chèn ép trong nhóm người hầu Thái tử. Mạc Chi báo Lương Vũ Đế rằng Ngụy Nhã làm ma thuật nhân danh Tiêu Thống.

    Lương Vũ Đế điều tra, tìm thấy vịt sáp, sửng sốt, tức giận, muốn soi mói thêm. Từ Miễn can. Lương Vũ Đế dừng lại, và cho hành quyết đạo sĩ Đạo giáo.

    Năm 534. Khi nhìn thấy Sao Hỏa xuất hiện trong chòm sao Đẩu Túc (theo điềm báo truyền thống nghĩa là báo hiệu hoàng đế sẽ buộc phải dời khỏi hoàng cung), Lương Vũ Đế đi bộ chân không quanh hoàng cung, cố xua điềm xấu. Ngay sau đó Lương Vũ Đế biết tin Bắc Ngụy Hiếu Vũ Đế phải chạy khỏi Lạc Dương do tranh chấp với Cao Hoan. Lương Vũ Đế vừa hân hoan, vừa bối rối, nói: "Chẳng lẽ các dấu hiệu chiêm tinh cũng ứng nghiệm với cả người Hồ".

    Năm 541. Người dân Giao Châu (trị sở nay thuộc Hà Nội, Việt Nam) bất mãn trước sự cai trị tàn bạo của thứ sử Vũ Lâm hầu Tiêu Tư- cháu trai của Lương Vũ Đế, đã bùng nổi dậy dưới sự chỉ huy của Lý Bí. Quân Lương không thể nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy của Lý Bí. Lý Bí đã tuyên bố mình là hoàng đế của nước Vạn Xuân vào năm 544. Quân Lương không thể đánh bại hoàn toàn Lý Bí cho đến năm 548.

Lương Vũ Đế- Gửi thân cho Phật- Bất thành

    Lương Vũ Đế bắt đầu mộ đạo khi nào? Không rõ. Song từ năm 517, tư tưởng Phật giáo đã có ảnh hưởng rõ rệt đối với các chính sách của ông. Năm đó, Lương Vũ Đế hạ lệnh các công xưởng phục trang, không được dệt hình các Thần Thánh và động vật lên quần áo. Do khi mặc, các hình tượng này có thể bị hư hỏng, nhầu nát, là sự thiếu tôn trọng đối với các vị Thần Thánh và làm hại đến các động vật.

    Tiến thêm một bước trong việc tách khỏi lệ tục Nho giáo, Lương Vũ Đế cúng chay các vị Tiên Tổ của hoàng thất, thay vì cúng bằng các loại động vật: , lợn , theo truyền thống. Trước tiên, ông chuyển sang cúng bằng thịt khô, và cuối cùng cúng bằng mô hình động vật giả làm từ bột, rau và quả. Ông bất chấp lối nghĩ phổ biến khi đó, cho rằng điều này khiến Tổ Tiên không hài lòng.

    Lương Vũ Đế là vua sùng Phật giáo. Ông xây một ngôi chùa có quy mô hùng vĩ tại kinh thành Kiến Khang là Đồng Thái tự. Mỗi buổi sáng, ông đều đến chùa thắp hương, cúng Đức Phật, giảng giải Phật pháp cho mọi người. Ông tin rằng làm như vậy sẽ tiễu trừ tai họa cho dân. Năm 527. Lương Vũ Đế xá thân (xuất gia làm hòa thượng) tại Đồng Thái tự, dành vài ngày ở tại ngôi chùa này. Đây là lần đầu tiên một vị vua Tàu đi làm sư. Không ai dám phản đối. Phật giáo khi đó đang thịnh hành tại Nam triều và cả nước Tàu.

    Sau đó, Lương Vũ Đế nghĩ làm như ông, không thỏa đáng. Theo phong tục dân gian, một người muốn hoàn tục phải bỏ tiền ra cho chùa để "chuộc thân".

    Mùa thu năm 529. Lương Vũ Đế lần thứ hai xá thân tại Đồng Thái tự. Song không đơn giản lần trước. Lần này, ông đã trút bỏ long bào và mặc trang phục của hòa thượng, và dành cả ngày để thực hiện các công việc của nhà chùa. Ông làm các việc vặt hằng ngày và giảng Đại Bàn Niết Bàn kinh. Các đại thần mời vua về cung. Ông không chịu.

    Lương Vũ Đế ở tại chùa 12 ngày. Ông trở về hoàng cung. sau khi các đại thần đã chuẩn bị 10 triệu quan tiền cho Đồng Thái tự để "chuộc thân" cho Lương Vũ Đế.

    Năm 546. Lương Vũ Đế xá thân lần thứ ba. Lần này ông tuyên bố để tỏ lòng tôn kính Đức Phật, ông không chỉ gửi bản thân, mà còn gửi toàn bộ người trong hoàng cung và tất cả đất của nhà Lương cho Phật. Ông đã ở Đồng Thái tự trên một tháng. Các đại quan đem 20 triệu quan tiền nộp cho nhà chùa để chuộc ông về.

    Đúng ngày hôm đó, tòa tháp của Đồng Thái tự bị hỏa hoạn . Hòa thượng trụ trì vội báo cho Lương Vũ Đế. Lương Vũ Đế cho đó là do tà ma quấy rối và hạ thư nói "Đạo càng cao, Ma cũng càng thịnh" và phải xây tháp cao hơn nữa mới có thể trừ được tà khí.

    Một năm sau. Lương Vũ Đế lại xá thân phụng sự Đức Phật lần thứ tư. Ông dành 37 ngày tại Đồng Thái tự và chỉ trở về hoàng cung sau khi các hạ thần đã xuất kho 10 triệu quan tiền để chuộc vua về.

    Cuộc đời làm vua Lương Vũ Đế đã bốn lần xuất gia làm hòa thượng. Ông muốn gửi thân cho Phật. Không thành. Các đại thần phải xuất kho 40 triệu quan tiền để chuộc thân cho hoàng đế. Tốn tiền thuế máu của dân đen. Nghiệp chướng chất chồng nặng, cao hơn núi.

Lý Bí đánh Tiêu Tư, cháu Lương Vũ Đế

    Được nhiều người dân tụ hội, lực lượng của Lý Bí lớn mạnh. Triệu Túc, t ù trưởng Chu Diên (Hải Dương) cùng con trai Triệu Quang Phục, tin tài đức của Lý Bí, đem quân nhập với đạo quân Lý Bí. Tinh Thiều, một người giỏi từ chương, từng đến kinh đô nhà Lương xin được chọn làm quan, nhưng chỉ cho chức "gác cổng thành", nên bỏ về Giao Châu theo Lý Bí. Trong lực lượng của Lý Bí có một võ tướng là Phạm Tu đã ngoài 60 tuổi. Thần phả ghi nhận các tướng theo giúp Lý Bí là Trịnh Đô, Lý Công Tuấn.

    Lý Bí liên kết với các Châu lân cận, cùng chống Tiêu Tư. Cuối năm 541. Lý Bí chính thức khởi binh chống nhà Lương. Khí thế hùng mạnh. Theo sách Lương thư của Tàu, Tiêu Tư liệu thế không chống nổi quân Lý Bí, phải sai người mang tiền, của đến đút lót cho Lý Bí để được tha chạy thoát về Quảng Châu. Quân Lý Bí đánh chiếm được thành Long Biên.

    Tuy Tiêu Tư đã bỏ chạy về Tàu, nhưng Lý Bí chỉ kiểm soát được vùng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay. Các Châu phía Nam vẫn trong tay nhà Lương.

    Tháng 4- 542. Lương Vũ Đế sai Trần Hầu, thứ sử Việt Châu. Ninh Cự, thứ sử La Châu. Úy Trí thứ sử An Châu. Nguyễn Hán thứ sử Ái Châu, dồn dập hợp binh, đánh Lý Bí. Nhưng Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước. Lý Bí phá tan quân Lương ở phía Nam. Lý Bí làm chủ toàn bộ Giao Châu.

Đánh lui cuộc phản công của nhà Lương

    Cuối năm 542. Lương Vũ Đế (Vua Ác) lại sai Tôn Quýnh, thứ sử Giao Châu, Lư Tử Hùng, thứ sử Tân Châu sang đàn áp. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng sợ thế mạnh của Lý Bí. Không dám tiến quân, xin khất, mùa thu năm sau. Thứ sử Quảng Châu là Hoán không đồng ý. Tiêu Tư cũng thúc giục, nên Quýnh và Hùng buộc phải tiến quân.

    Được tin quân Lương lại tiến sang. Lý Bí chủ động mang quân ra bán đảo Hợp Phố đánh trước. Tôn Quýnh và Lư Tử Hùng đi đến Hợp Phố, bị quân Lý Bí đánh bại, 10 phần chết đến 6- 7 phần. Quân Lương tan rã.

    Chiến thắng này giúp Lý Bí kiểm soát toàn bộ Giao Châu, tức là miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam, cộng thêm quận Hợp Phố (nay thuộc Quảng Đông, Trung Quốc)

Lý Bí đánh quân Lâm Ấp

    Trong khi Lý Bí bận đối phó với nhà Lương ở phía Bắc thì tại phía Nam, vua Lâm Ấp định nhòm ngó Giao Châu.

    Biên giới giữa Giao Châu và Lâm Ấp lúc đó là dãy Hoành Sơn. Tháng 5 năm 543. Vua Lâm Ấp mang quân xâm chiếm quận Nhật Nam và tiến đến quận Cửu Đức. Lý Nam Đế sai Phạm Tu cầm quân vào Nam đánh Lâm Ấp.

    Sử sách ghi sơ lược diễn biến trận đánh này. Phạm Tu tiến quân vào Nam đánh tan quân Lâm Ấp ở Cửu Đức. Vua Lâm Ấp phải bỏ chạy.

Lý Bí dựng nước Vạn Xuân

    Tháng giêng- năm 544. Lý Bí tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu là Thiên Đức (Đức Trời). Vua có Đức Trời trao, lập trăm quan, đặt tên nước Vạn Xuân. Khẳng định sơn hà xã tắc nước Nam, vững muôn đời. Lý Bí đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội). Dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Thành lập triều đình với hai ban văn, võ. Lấy Triệu Túc làm thái phó. Tinh Thiều đứng đầu ban văn. Phạm Tu đứng đầu ban võ.

Lý Bí giao Triệu Quang Phục giữ Vạn Xuân

    Tháng 6- 545 . Nhà Lương cho Dương Phiêu làm thứ sử Giao Châu. Trần Bá Tiên làm tư mã, đem quân xâm lấn. Lại sai Tiêu Bột, thứ sử Định Châu, hội với Phiêu ở Giang Tây.

    Trần Bá Tiên đem quân đi trước. Khi quân của Bá Tiên đến Giao Châu. Lý Nam Đế đem 3 vạn quân ra chống cự, bị thua ở Chu Diên, lại thua ở cửa sông Tô Lịch, tướng Tinh Thiều tử trận. Lý Bí chạy về thành Gia Ninh (xã Gia Ninh, huyện Vĩnh Lạc- Vĩnh Phúc (nay thuộc xã Thanh Đình, thành phố Việt Trì- Phú Thọ). Quân Lương đuổi theo, vây đánh.

    Tháng giêng năm 546 . Trần Bá Tiên đánh, lấy được thành Gia Ninh. Tướng Phạm Tu tử trận. Lý Nam Đế chạy vào đất người Lạo ở Tân Xương. Quân Lương đóng ở cửa sông Gia Ninh.

    Sau một thời gian tập hợp và củng cố lực lượng, tháng 8, Lý Bí đem 2 vạn quân từ trong đất Lạo ra đóng ở hồ Điển Triệt (xã Tứ Yên, huyện Lập Thạch- Phú Thọ), đóng nhiều thuyền đậu, chật cả mặt hồ. Quân Lương sợ. Chúng đóng quân ở cửa hồ. Không dám tiến vào. Đêm hôm ấy, nước sông lên mạnh, dâng cao 7 thước, tràn đổ vào hồ. Trần Bá Tiên nhân đó đem quân theo dòng nước tiến trước vào. Quân Vạn Xuân không đề phòng, tan vỡ.

    Lý Nam Đế phải lui giữ ở trong động Khuất Lão. Ông giao cho con thái phó Triệu Túc là tả tướng Triệu Quang Phục, giữ việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên.

    Ngày 20- 3- 548 . Lý Nam Đế ở động Khuất Lão lâu ngày bị nhiễm lam chướng, ốm qua đời. Ông ở ngôi được 5 năm (543- 548), thọ 46 tuổi.

    Lý Bí lập nước Vạn Xuân. Người Việt giành lại quyền tự chủ. Thời Bắc thuộc lần 2 chấm dứt.

Lý Nam Đế xây Chùa Khai Quốc

    Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993 ) chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541 - 547 ) tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông được nhân dân quen gọi đến ngày nay.

    Phía trên cửa chùa có câu đối hai bên viết bằng chữ Nôm:

            Vang tai xe ngựa qua đường tục/ Mở mặt non sông đứng cửa Thiền

    Chùa Trấn Quốc tọa lạc trên một hòn đảo phía Đông Hồ Tây linh thiêng hồn Khai Quốc suốt 1.500 năm nay. Ngôi chùa cổ xưa nhất Thăng Long - Hà Nội hài hoà giữa uy nghiêm, cổ kính với cảnh quan thanh nhã trên nền tĩnh lặng của hồ nước mênh mang. Là Trung tâm Phật giáo của kinh thành Thăng Long vào thời và thời Trần .

    Gần hai nghìn năm nay, chùa Khai Quốc- Trấn Quốc là Trung tâm Tâm linh- Nguyên khí Quốc gia Vạn Xuân truyền muôn đời nơi Hồ Tây Mắt Ngọc.

    Người Nấu sử Sôi Kinh bên Hồ Gươm nghe tiếng sóng Thánh Thần nước Việt, vẫy vùng Hồ Tây Mắt Ngọc Tâm linh:


Tây Hồ Hùng Khí


    “Tây Hồ Rồng cuộn sóng ngầm/ Lạc Long Quân đâm Cáo Chín Đuôi/ Khổng Lồ mưu lược đòi Tầu của/ Chuông Đồng đen, Trâu Vàng yểm khí thiêng/ Hai Bà Trưng hồ Mù Sương xua Mã Viện/ Cao Biền cưỡi diều giấy cúi đầu/ Dâm Đàm nổi gió cuốn Tầu văn công/ Lý Nam Đế dựng đền Khai Quốc/ Hai công chúa pháp thuật thu Xác Cáo/ Trời sai Trấn Vũ dẹp nhiễu nhương/ Chối tước lộc tu thành quả lớn/

   Hùng khí Hồ Tây Trâu Vàng rực sáng/ Đêm đêm bừng tỏa nước non ta/ Anh hùng hào kiệt ngàn năm tụ/ Mẫu Liễu Hạnh Mẹ trần gian/ Vị Thần bất tử sữa tràn lung linh/ Lê Văn Thịnh, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du/ Hồ Xuân Hương, Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm/ Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Huy Lượng…/ Khí chất Tây Hồ công năng Việt vô hình/

   Bùng cháy đời đời, giặc biết không?/ Chớ ngu ngơ mó máy tới Hồ Tây!/ Uất giận Thần dạy nôm na/ Là cha mách qué đập tan mưu tà/ Tây Hồ Hùng Khí bao la/ Lửa thiêng Nhân quả nhớ mà ghi sâu/ Gieo tội ác giáng đầu tội ác/Trấn Quốc chuông chùa vọng thu không».


(… Còn tiếp ...)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 21.3.2015.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn