Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI

ANH KHÓA VỚI NHỮNG VẦN THƠ NƯỚC NON





   Trần Tuấn Khải  (4 tháng 11 năm 1895 – 7 tháng 3 năm 1983) là một nhà thơ  Việt Nam, nổi danh từ thời  tiền chiến.
    Ông  người làng Quan Xán, huyện  Mỹ Lộc, tỉnh  Nam Định. Xuất thân là nhà nho nghèo, có truyền thống yêu nước. Cha ông là Trần Khải Thụy, đỗ  cử nhân  khoa  thi Hương  tại Nam Định năm  Canh Tý  (1900). Năm lên 6 tuổi, ông bắt đầu học  chữ Hán  với cha. Nhờ mẹ ông cũng là người thuộc nhiều  ca dao, thi phú, lại hết lòng dạy dỗ con, vì vậy mới 12 tuổi, ông đã biết làm đủ các thể thơ bằng  chữ Hán.

     Mấy lần, Trần Tuấn Khải định xuất dương mà không thành: 1915-1916: dự định qua Đông Hưng (Trung Quốc), 1927: dự tính sang  Pháp. Nhà cầm quyền Pháp dò la biết ông có ý định trên, đồng thời có đến liên hệ các nhà cách mạng, như  Phan Bội Châu,  Huỳnh Thúc Kháng    Huế  và những nhà hoạt động lưu vong như  Đào Trinh Nhất,  Hoàng Tích Chu,  Trần Huy Liệu,  Nguyễn Trường Tam    Sài Gòn...nên cho người lùng bắt ông. Nhờ có người báo tin, ông lẻn ra ẩn trốn nơi động Huyền Không trong dãy  Ngũ Hành Sơn  (Quảng Nam).
Năm 1932, tác phẩm  Chơi xuân năm  Nhâm Thân  được xuất bản, nhưng ngay sau đó bị Pháp ra lệnh tịch thu, khám nhà rồi bắt giam Trần Tuấn Khải và chủ nhà sách Nam Ký. Ông bị giam hơn 2 tháng rồi bị kêu án 2 tháng tù treo về tội viết sách "phá rối trị an, xúi dân nổi loạn". Trong nhà giam Hỏa Lò, Trần Tuấn Khải gặp được  Nghiêm Toản  và nhiều nhà tri thức có tâm huyết khác.


TIỄN CHÂN ANH KHOÁ XUỐNG TÀU

     Nghe tiếng đàn bầu thánh thót rung lên quyện với tiếng hát mộc mạc thiết tha lòng ai mà không bồi hồi , xúc động:
 
Anh Khóa ơi! Em tiễn chân anh xuống tận bến tàu
Đôi tay em đỡ cái khăn trầu, em lấy đưa anh
Tay cầm trầu giọt lệ chạy quanh
Anh xơi một miếng cho bõ chút tình em nhớ thương

Đó là một cuộc chia ly như tất cả những cuộc chia ly từ nghìn thuở trên đất nước Việt Nam, có người phụ nữ giữ khăn trầu, cầm một miếng trầu đưa cho người nam, nhưng ở đây đã có dấu vết của thời cơ khí hiện đại, báo hiệu chia ly không còn là tiếng ngựa hí, tiếng nhạc reo, tiếng nước róc rách và tiếng gió phần phật… mà là tiếng còi tàu tu tu như hồi chuông nghiệt ngã của số phận, cắt đứt tình duyên đôi lứa.

Anh Khoá ơi! Còi tu tu tàu sắp kéo cầu
Đường trần em sắp sửa gánh sầu từ đây
Trông anh, em chẳng nỡ rời tay
Nỗi riêng em dặn câu này anh chớ có quên
Anh Khoá ơi! Người ta lắm bạc nhiều tiền
Anh em ta phận kém duyên hèn mới phải long đong
Một mình anh nay Bắc lại mai Đông
Lấy ai trò chuyện cho khuây lòng lúc sớm khuya
Anh Khoá ơi! Chữ tương tư vai gánh nặng nề
Giang hồ anh sớm liệu trở về kẻo nữa em mong
Tính toan sao cho phỉ chí tang bồng
Ở nhà em cũng dốc một lòng giữ phận thuyền quyên…

Người làm bài “Tiễn chân anh Khoá xuống tàu” là nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải. Thân sinh Á Nam, cụ Cử nhân Trần Văn Hoán là chỗ thanh khí với Tam nguyên Vị Xuyên Trần Bích San và Trần Tế Xương. Điều mọi ngưòi băn khoăn: Anh Khoá này là ai mà hoài bão chí khí lớn lao muốn làm sao cho “phỉ chí tang bồng”.
Chúng ta được biết: “Khoảng năm hai mươi tuổi, tác giả thường giao du với các nhà chí sĩ, những bậc lão thành, cũng như những người thiếu tráng, ngày đêm mài miệt ngâm vịnh văn chương, nghiên cứu các học thuyết đông tây kim cổ. Lúc đó trong đám anh em, có nhiều người vì mang lòng phẫn uất với bọn thực dân Pháp, trốn tránh đi ra nước ngoài để tìm phương kế cứu giang sơn Tổ quốc. Trong thời gian đó, tác giả cũng đã có phen lần ra tận biên thuỳ ở miền Móng Cái, mong lân la sang bên Trung Quốc để tìm kiếm bạn đồng tâm. Chẳng may công chuyện không thành, đành buồn bã quay về. Sau đó, còn có nhiều phen lần theo các đường khác để đi (như vào Trung Kỳ, Nam Kỳ) song cũng đều thất vọng”. Tuy vậy, trong đám bạn bè cùng chí hướng của ông, những người gặp được cơ hội len lỏi ra nước ngoài cũng không phải là ít. Vì thế, trong lúc tiễn đưa bạn hữu, tác giả đã chan chứa cảm xúc, viết ra bài hát trên để tả tấm lòng tha thiết của mình. Bài hát rất phổ biến trong Nam, ngoài Bắc hồi đó.
Dụng ý của Á Nam mượn thơ văn để khích động lòng yêu nước, gây chí tự lập, nghĩa hợp quần đã được người đương thời nhận ra.
      -Tạp chí Nam Phong (Tháng 5.1921) viết: “Đã lâu nay, các văn thông được mấy quyển hay, nay mới lại được đọc tập “Duyên nợ Phù sinh” của ông Trần Tuấn Khải này thật là văn chương có giá trị… Nhiều bài hát thật là hay, như bài “Tiễn chân anh Khoá xuống tàu” và thứ nhất là bài “Gánh nước đêm” lời giản dị mà ý tứ sâu xa biết bao nhiêu… Cả tập thơ chỉ được một bài này, cũng đáng khen, huống còn nhiều bài hay nữa”.
     -Hoàng Ngọc Phách viết trong báo Trung Bắc Tân văn số 1282: “Tự bảo mình rằng lúc thơ phú tàn canh, mà còn có thơ này, lời lẽ thanh thoát, ý tứ dồi dào, cảm hoài những việc vẩn vơ mà cao thượng”… “Có người bảo văn ông có nhiều vẻ buồn, ký giả cũng tưởng như vậy”… “Nếu vì quốc văn, vì luân lý, vì hai vai thân thế, một gánh giang san, cuộc văn chương dẫu đến khi tàn, mà ngọn bút quan hoài biết bao giờ cho ráo mực” mà ông buồn, thì cái buồn ấy cũng có vẻ cao thượng”.
    -Tú tài Nam Định Nguyễn Xuân Xứng viết: “Quyển “Duyên nợ Phù sinh”… văn chương mực thước, lời lẽ thâm trầm, chẳng khác chi một mảnh gương soi suốt nhân tình thế thái, so với bốn chữ nhan đề quả là thích hợp…
- Thiếu Sơn trong “Phê bình và cảo luận” (1933) đã nói rõ ràng hơn: “Ông Khải thường hay cảm về thời thế, mà nặng lòng với đất nước non sông, nên ông thường hay ngâm vịnh về lịch sử để dựa theo mà khóc cảnh tang thương…Vì ai? Độc giả cũng dư biết vì ai. Song lịch sử đã đầy những sự vẻ vang quá khứ, mà hiện nay trông lại, chỉ thấy rặt những cảnh thảm mục thương tâm, thì những nhà chí sĩ lo đời, há được bình an toạ thị?
Bởi vậy mà anh Khoá mới lên tiếng hô hào, rắp mong được nhiều người hưởng ứng”.
-Vũ Ngọc Phan trong “Nhà văn hiện đại” (1941) cũng viết: “Có lẽ ông (Trần Tuấn Khải) là một thi sĩ mà cách đây không lâu các bài ca đã được nhiều người hát nhất. Ở Bắc kỳ, hai bài “Anh Khoá” của ông, trong xóm bình khang, các đào nương lại thường hay hát lắm. Hai bài “Anh Khoá” phổ thông đến nỗi người ta đã lấy cả vào đĩa hát ở miệng những tay danh ca bậc nhất.
Những việc ấy đủ chứng ra rằng hai bài “Anh Khoá” đã hợp với tính tình của nhiều người, người học thức cũng như người ít học. mà không cứ hai bài “Anh Khoá”, những thi ca của Trần Tuấn Khải hầu hết đều nhẹ nhàng, dễ hiểu, đều có tính cách phổ thông như thế cả”.
Trong sách không thấy nói đến việc bài “Anh Khoá” sở dĩ được hưởng ứng nhiệt liệt vì nó đáp ứng đúng tình cảm yêu nước của quần chúng. Nhưng sau này, khi đọc hồi ký “Những năm tháng ấy” (1987), được Vũ Ngọc Phan cho biết: “Bài Anh Khoá của Trần Tuấn Khải xẩm họ hát ơi ới khắp nơi thì không sao, nhưng đưa vào sách (Nhà văn hiện đại) thì bị xoá liền”, chúng ta mới hiểu đoạn nói về nội dung yêu nước của “Anh Khoá” đã bị kiểm duyệt thực dân xoá bỏ.
Hiện tượng “Anh Khoá” nói lên một biến chuyển kỳ lạ và đặc biệt của văn học Việt Nam đầu thế kỷ 20, đó là sự xâm nhập mạnh mẽ của văn học dân gian vào văn học viết. Ý thức hệ nho sĩ phong kiến đã đến lúc tàn, không đủ sức gây dựng một luồng văn thơ có sinh khí và sức vang dội nữa. Nếu Á Nam chỉ làm những bài thơ hoài cổ như “Chơi thành Cổ Loa”, “Chơi núi Sài Sơn”, “Chơi thuyền Hồ Gươm”… thì ông cũng chỉ góp thêm vào tiếng thở dài của một thế hệ từ Nguyễn Khuyến cho đến Vũ Phạm Hàm, Chu Mạnh Trinh… hay nếu chỉ làm những bài thơ châm biếm trào phúng như “Lên chợ Giời”, “Trách đồng bạc”, “Vịnh ông Hộ Pháp”… thì ông cũng chỉ góp thêm vào tiếng cười mỉa mai cay độc của nhà nho thất thế như Từ Diễn Đồng, Trần Tế Xương… Sau khi Á Nam làm một số bài phong dao và câu hát vặt mang hơi thở lành mạnh, trong trẻo của dân gian, quần chúng nhân dân đã nhận ra người thi sĩ chân chính của mình, hà hơi tiếp sức cho ông, nâng thơ ông tới đỉnh cao, truyền bá thơ ông rộng rãi, choàng cho ông vòng nguyệt quế “ca sĩ của lớp người tấn công lên trời”. Trước sự ủng hộ và suy tôn nhiệt liệt của đông đảo quần chúng, giới văn học bác học đương thời không thể không dành cho ông một vị trí xứng đáng trong nền văn học. Bài “Anh Khoá” đã thổi một luồng gió trong lành, khoẻ khoắn vào không khí văn học già nua lúc bấy giờ, khiến nó tiếp cận hơn với văn mạch dân tộc, nguồn gốc dân ca, chất trữ tình của nó là chất lãng mạn tích cực khác xa với chất lãng mạn tiêu cực ẻo lẻ, bạc nhược tràn ngập văn đàn thời ấy … Á Nam không coi đời toàn là bể thảm như Đoàn Như Khuê mà xác định ông là người ở giời Nam bể Á (do đó mới lấy hiệu là Á Nam). Trong bài “Hồn luỵ” ông viết:
Giời Nam bể Á bao la
Nực cười vơ vẩn là ta với mình
Ham chi duyên nợ phù sinh?
Ngàn thu luống để vương tình nước non
Cái sầu này không phải là cái sầu vơ vẩn, vô cớ như Tản Đà “sầu không có mối, chém sao cho đứt, sầu không có khối, đập sao cho tan”, cũng không phải là sầu vì “duyên nợ phù sinh” như Tương Phố “Tình thu ai để duyên em bẽ bàng”, mà cái sầu có nguồn gốc rõ rệt “ngàn thu luống để vương tình nước non”. Tần số xuất hiện những chữ nước non, giang san, sơn hà, đất Việt, Hồng Lạc, biển Á, giời Nam, Nam Việt, Tổ quốc… chiếm đa số tuyệt đối, áp đảo trong văn bản của Á Nam, văn có non song mới có hồn, là nguồn thơ chủ yếu hầu như duy nhất của Á Nam thậm chí bài thơ khóc vợ “Non trách nước” (1932) cũng vẫn ngụ ý nói đến đất nước. Thiếu Sơn đã nhận xét: “Thơ ông Hiếu thì ngộ nghĩnh mà thần tình, còn thơ ông Khải thì trang nghiêm mà thống thiết”.
Sau loạt bài “Tiễn chân anh Khoá xuống tàu”, “Gửi thư cho anh Khoá”, “Mong anh Khoá”… Á Nam đã viết những bài có hàm ý kêu gọi đồng bào sớm tỉnh cơn mê giấc mộng, đoàn kết lại đứng lên chống Pháp như trong bài “Gọi đàn”:
Đời như nước mặt bể khơi
Người như chiếc lá ngược xuôi giữa dòng
Xiết bao sóng gió hãi hùng,
Chân sào tay lái ai cùng với ta?
Đừng theo con nhạn mới sa,
Thấy con sóng bạc tưởng là mồi ngon.
Lênh đênh bay lộn chập chờn
Biết bao hy vọng theo nguồn nước xuôi!...
Dầu sao bài này vẫn mang tính chất bóng gió, như bến giác có thể hiểu là giác ngộ cách mạng, nhưng đến những bài sau có nội dung yêu nước, cụ thể, mãnh liệt hơn, như “Văn tế Đức Trần Hưng Đạo” (in trong tập thơ “Với sơn hà 1” (1936) với lời kêu gọi hùng hồn: Hai mấy triệu nào con nào cháu, mài tim gan trông nếp cũ cùng theo, muôn nghìn năm nào gái nào trai, luyện vây cánh sấn đường mây thẳng trỏ, nghe như “Văn tế Phan Châu Trinh” của Phan Bội Châu. Trong bài “Hai chữ nước nhà” mượn lời Nguyễn Phi Khanh dặn Nguyễn Trãi, nhà thơ Á Nam viết:
Lời cha dặn khắc xương để dạ,
Mấy gian lao con chớ sai nguyền;
Tuốt gươm thề với sương thiên,
Phải đem tâm huyết mà đền cao sâu.
Gan tráng sĩ vững sau như trước,
Chí nam nhi lấy nước làm nhà,
Tấm thân sẻ với sơn hà,
Tượng đồng bia đá hoạ là cam công.
-Hơi văn bi hùng chẳng khác gì những bài ca của phong trào Việt Nam Quang Phục Hội thời bấy giờ. Bên cạnh sự hưởng ứng của quần chúng, còn có tác động của tình thế cách mạng sôi sục đương thời.
-Chúng ta phải thông cảm, khi chưa rõ phong trào tân nhạc ra đời, các nhà thơ phải làm những bài ca cách mạng cho quần chúng hát. Những bài ca của Á Nam trong hai cuốn “Bút quan hoài” và “Hồn tự lập” đã bị thực dân tịch thu, cấm tàng trữ, lưu hành trong toàn quốc, và khi in cuốn “Sách chơi xuân năm Nhâm Thân” (1932) trong có 10 bài thơ mượn lời bà Trưng Trắc nhủ em là Trưng Nhị khi nổi quân đánh đuổi Tô Định, ông bị bắt giam vào Hoả lò Hà Nội.
Cuốn “Hồn tự lập” tập II (1928) do Á Nam viết bằng văn xuôi, nội dung thuật chuyện ba nhà nữ cách mạng Nga, do Nhà in Nữ lưu thư quán, Gò Công, xuất bản. Bài thơ đề đầu cuốn sách như sau:
Lò vũ trụ đêm mù hiu hắt,
Cảnh muôn loài say giấc ngổn ngang.
Tiếng đâu kêu réo kinh hoàng
Nghe ra hùng tráng bi thương đến điều?
Mặt biển nọ nước reo chính khí
Đỉnh non kia mây hé tự do.
Ngọn đèn nhân loại khêu to,
Những ai soi rạng cơ đồ bấy nay?
Mở lịch sử đông tây coi thử,
Kìa anh hùng hiệp nữ là ai?
Mấy phen động đất kinh giời,
Máu hồng lai láng muôn đời còn in.
Lầu cố quốc khêu đèn tự lập
Chén hô quần mong nhấp cùng ai?
Phấn son ai cũng kiếp người,
Tình non nước, nghĩa giống nòi, sao đây?
Chúng ta thấy lời hô hào yêu nước của Á Nam không mang ý thức hệ sĩ phu phong kiến mà đã mang ý thức cách mạng tư sản dân quyền, nhiều câu trong bài “Hai chữ nước nhà” rất giống với những câu trong bài La Marseillaise, Quốc ca Pháp (1792). Thí dụ câu: Chí nam nhi lấy nước làm nhà, tấm thân sẻ với sơn hà, Tượng đồng bia đá hoạ là cam công,
-Còn bài đề cuốn “Hồn tự lập II” thì lại phảng phất giọng văn của Lương Khải Siêu, người cha tinh thần của Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc. Trong cuốn “Hồn tự lập I” (1927), Á Nam nêu tấm gương đấu tranh của nhà yêu nước Ấn Độ Gandhi, chống thực dân Anh.
Chủ nghĩa yêu nước của Á Nam đã thấm nhuần tinh thần dân chủ và quốc tế.
-Á Nam không những đã đọc tân thư của Trung Quốc mà còn đọc cả sách chữ Pháp, ông đã dịch nhiều bài thơ của Alfred de Musset, Victor Hugo… sang tiếng Việt.
-Á Nam còn dịch những tiểu thuyết Trung Quốc ca ngợi những anh hùng khởi nghĩa nông dân như Thuỷ Hử, Hồng Tú Toàn…
-Á Nam còn viết bộ tiểu thuyết “Thiên thai lão hiệp” (1934 – 1935) lợi dụng phong trào kiếm hiệp thời ấy mà đưa ra những nhân vật dị kỳ, cổ quái nhằm hấp dẫn độc giả, nhưng cốt ý là để cổ xuý cách mạng.
Sau khi thực dân Pháp bắt giam tác giả và cấm lưu hành tác phẩm của Á Nam, không nhà xuất bản nào dám in sách của ông nữa. Lúc toàn quốc kháng chiến tháng 12.1946 nổ ra ở Hà Nội, ông mang được một rương đựng đầy bản thảo thơ văn cùng gia đình đi tản cư ba bốn chỗ, sau mới về ngụ ở làng Sơn Lộ, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, thì rủi bị giặc Pháp tới nơi đốt phá tan tành không còn sót được một mảnh chữ nào. Mãi sau này ông mới nhớ lại được một số bài đưa in trong cuốn “Với sơn hà” tập II (1949).
Lúc còn ở Bắc, ông đã theo kháng chiến ở Vân Đình Chợ Đại một thời gian. Nhưng kỳ diệu thay sức sống bất khuất của thành phố Sài Gòn, chính ở đây, Á Nam đã tìm được chỗ đứng xứng đáng trong cuộc chiến của nhân dân thành phố chống đế quốc Mỹ và tay sai. Ông đã tiếp xúc với nhiều hội đoàn dân chủ nhất là phong trào Tự quyết và thường đến họp với tổ chức này từ năm 1964.
Năm 1966, Trần Tuấn Khải được bầu làm Chủ tịch danh dự của Lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc cùng với giáo sư Dương Minh Thới. Lời phát biểu mạnh mẽ của ông trong lễ ra mắt ngay trước “Hạ viện” Sài gòn, được mọi người hết sức hoan nghênh.
. Sau 30.4.1975, Trần Tuấn Khải làm cố vấn Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Khi hai nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận từ miền Bắc vào Nam, đến nhà thăm Á Nam, hôm ấy cụ còn yếu mệt, đang nằm giường bệnh, nghe anh Huy Cận cười hỏi: “Nay anh Khoá đã về, bà Khoá đã hả lòng chưa?”, thì cụ Á Nam bất giác tươi tỉnh, sau khi tiễn bạn ra về, cụ đã viết ngay bài “Mừng anh Khoá về” (1975)
Mấy tháng trước khi qua đời ngày 7.3.1983, cụ đã làm bài thơ “Tám mươi tám tuổi tự vịnh” (1982), như sau:

Ta nghĩ mình ta cũng nực cười,
Sống trong thanh bạch vẫn yên vui.
Lấy câu trung nghĩa khuyên con cháu,
Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi
Nghĩa cả giang sơn ghi đáy dạ,
Chuyện đời danh lợi gác ngoài tai
Tám mươi tám tuổi xuân còn mãi,
Còn vững lòng son chẳng đổi dời.

LỜI KẾT
    -Phong dao là một trong những cống hiến đăc sắc của Á Nam. Hồn ca dao của dân tộc đã thấm sâu vào “anh Khóa” bình dân, khiến cho thi sĩ viết ra những bài ca như của một chị “nhà quê”, một anh trai cày đích thực:
       Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
       Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao
(   Bút quan hoài I)
    hay:           
Rủ nhau xuống bể  tìm  cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau
( Duyên nợ phù sinh)
Từ thi pháp cho đến tâm tình đều thấm nhuần lời ăn tiếng nói, ca dao của người nông dân Việt Nam. Trách chi nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan lại chẳng lầm mà đưa hai bài ấy vào mục ca dao về “Tình yêu nam nữ” trong công trình  Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam  của ông.  Ngoài hai bài ấy ra, Á Nam còn nhiều bài phong dao khác nữa mà khi để cạnh ca dao người ta khó có thể phân biệt được đâu là Á Nam và đâu là dân gian.
-Bài “Anh Khoá” là bài hát rất phổ biến trong Nam, ngoài Bắc hồi đó.
Dụng ý của Á Nam mượn thơ văn để khích động lòng yêu nước, gây chí tự lập, nghĩa hợp quần đã được người đương thời nhận ra.
-Gần một thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và văn học, Á Nam Trần Tuấn Khải đã thể hiện trọn vẹn đúng như tâm nguyện của cụ buổi đầu: “Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết, Gửi với sơn hà một áng văn”.

(Tham khảo: Sách báo - Internet)

. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 14.3.2015.