Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





HƯƠNG TƯỚNG – HƯƠNG TÂM






Không biết từ bao giờ người dân Châu Á có thói quen thắp hương để cúng kiến Phật và thần linh, mà nơi thắp nhiều hương nhất là các Chùa. Ngày nào cũng hương khói nghi ngút, nhất là những ngày lễ lớn. Sau Hương là tới vàng mã đốt để gởi cho người đã qua đời. Hậu quả là nhiều năm qua, cứ vào mùa sắp tết, cúng kiến, đưa ông Táo, đốt vàng mã là những đám cháy cũng kéo theo, tác hại kinh khủng! Sáng Mồng một Tết Ất Mùi vừa qua là 1 căn nhà và toàn bộ đồ đạc ở Phường Trường Thọ, Quận Thủ Đức. Ngày Mồng 4 Tết là gần 100 ki-ốt ở Huyện Kinh Môn, Hải Dương bị thiêu rụi làm bao nhiêu tiểu thương điêu đứng! Cũng vì đốt vàng mã mà năm 2013 cháy 8 căn nhà ở Quận Bình Tân TP. HCM. Năm 2014, cháy rừng vành đai phòng hộ ở Quy Nhơn phải huy động cả 800 người để dập lửa. Tháng 12 năm 2014, cả 3 người trong gia đình làm vàng mã bị chết cháy! Đó là mới tính sơ tai nạn do đốt vàng mã trong 2, 3 năm gần đây thôi! Những người đốt đó đã “hóa vàng” tất cả sản nghiệp mồ hôi nước mắt của mình và của nhiều người khác mà cả đời còn lại chưa chắc đã phục hồi nổi!

Vàng mã ngày càng phát triển, họ làm cả nhà lầu, biệt thự, xe hơi, máy tính, xe máy… thậm chí tháng 8 năm vừa qua, cộng đồng mạng hết sức bất bình trước hình ảnh của những nhà Sư và Tăng Ni, Phật tử đứng vây quanh và một vị tu sĩ đắp y màu mè châm lửa đốt mã Phật ngồi Tòa Sen trên một đài cao cả mét, mà theo diễn đàn đó là hình ảnh của Đức Đại Nhật Như Lai. Đành rằng hình ảnh đó chỉ là tượng trưng, nhưng mọi người đều thấy đó là một sự xúc phạm, khó thể chấp nhận!

Ai cũng biết là sở dĩ con người thắp Hương là vì nghĩ rằng phải có những nén hương mới chứng rõ lòng thành. Vàng mã là để gởi cho người cõi Âm, không hề biết là những việc làm đó không dính dáng gì đến Đạo Phật chân chính mà là một hủ tục được bày ra bởi những người sản xuất vàng mã ở Trung Quốc từ cách đây cả mấy ngàn năm. Xin trích bài từ Phatgiao.org/vanhoa do Hòa Thượng Tố Liên ở Miền Bắc đã viết từ hơn 50 năm trước về việc đốt vàng mã:

Theo Kinh Dịch của Nhà Nho thì tục chôn người chết của Trung Hoa thời thượng cổ thì không áo quan, không phần mộ. Nhưng đến đời vua Hoàng Đế (2697 trước Tây lịch) cho rằng con cháu đối với ông bà, cha mẹ như thế là thiếu bổn phận, mới sai ông Xích Dương chế ra quan, quách để chôn cất. Đến đời nhà Hạ (2205 trước Tây lịch), người Trung Hoa mới dùng đất sét nặn mâm, bát, dùng tre, gỗ làm nhạc khí để đem theo cho người chết, và chế bù nhìn bằng gỗ đem theo để hầu hạ người chết.

Đến đời nhà Chu (1122 trước Tây lịch) người Trung Quốc bắt đầu sử dụng lễ nhạc cho người chết và phân ra giai cấp sang hèn trong lễ nghi chôn cất. Vua và các quan lớn sẽ được mang theo những đồ dùng thật. Họ còn bịa ra lệ dã man là vợ, con, bộ hạ yêu quý của họ cũng phải được chôn sống theo họ. Vua Tần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ là Yếm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo. Về sau, người ta thấy rằng việc đem chôn người sống theo người chết là vô nhân đạo nên mới chế ra người gỗ để thay.

Đức Khổng Tử đọc thấy chuyện đó nên phẫn uất mà cho rằng kẻ nào chế ra tục chôn người gỗ theo người chết là bất nhân. Thầy Mạnh Tử cũng ác cảm tục hình nhân thế mệnh nên đã nguyền rằng: “Kẻ nào dùng người bù nhìn là tuyệt tự”.

Đến đời nhà Hán, giới Nho học cảm động với lời phản đối của Ngài Khổng, Mạnh trong tục chôn người sống theo người chết, nhưng làm ra nhà mồ để cho vợ, con, tôi tớ người chết ra để ấp mộ. Để cho nhà mồ thêm oai phong, họ đục phỗng đá, voi, ngựa để bài trí quanh phần mộ.

Đến đời nhà Hán, năm Nguyên Hưng Nguyên Niên (105) ông Thái Linh bắt đầu lấy vỏ cây, giẻ rách, lưới rách chế ra giấy. Khi đã có giấy, ông Vương Dũ liền chế ra vàng, bạc, quần áo... bằng giấy để cúng rồi đốt thay thế cho đồ thật. Sách Thông Giám Cương Mục chép: “Vị Vua Huyền Tôn mê thuật quỷ thần mới dùng ông Vương Dũ làm quan”.

Đến triều đại của Đại Tôn nhà Đường (762) lúc Phật Giáo cực thịnh ở Trung Quốc. Vị sư tên Đạo Tăng lợi dụng việc đốt vàng mã của nhân dân Trung Quốc nên tâu với vua ngày Rằm tháng Bảy là ngày Diêm Vương ở Âm Phủ xét tội phúc, nên cho thiên hạ đốt nhiều vàng mã để cúng biếu các vong nhân. Vua Đại Tông hạ chiếu cho thiên hạ, nên mọi người thi nhau đốt vàng mã vào dịp Rằm tháng Bảy. Nhưng không bao lâu, bị Chư Tăng bài trừ nên cũng bỏ dần làm cho những người sống bằng nghề làm vàng mã bị thất nghiệp. Vương Luân là dòng dõi của Vương Dũ, người đã bịa ra việc chế đồ vàng mã, bàn với nhau để phục hưng nghề nghiệp của họ.

Họ cho người giả ốm, rồi báo tin đã qua đời. Người giả chết được liệm vào quan tài, nhưng có chừa lỗ hổng để đưa thức ăn, nước uống vào. Rồi trong khi họ hàng, xóm làng đến viếng, Vương Luân liền mang vàng mã, hình nhân thế mạng ra đốt. Trong lúc mọi người đang khấn thì cỗ quan tài rung lên, người chết sống lại, kể rằng thần thánh đã nhận hình thế mạng và đồ mã nên tha cho ông ta được trở về nhân thế. Từ đó, hàng mã được phục hưng nhanh chóng”.

Hòa Thượng Tố Liên cho rằng do người Trung Quốc đô hộ chúng ta cả ngàn năm, nên chúng ta bị nhiễm phong tục của họ. Tinh thần của dân tộc chúng ta đều nhờ vào Phật Giáo và Nho Giáo, nhưng chưa hề thấy kinh sách nào của Phật Giáo và Nho Giáo dạy về việc đốt vàng mã. Nếu có thấy, Ngài xin cam tâm vào Địa Ngục, để khuyên mọi người đừng bị đầu độc bởi Vương Dũ và Vương Luân theo người dân Trung Quốc.

Kể cả việc Đúc hình tạc tượng Phật, việc dâng cúng Hoa và Hương theo đúng Chánh Pháp cũng không phải “y Kinh giải nghĩa” là dùng vàng, đồng, gỗ hay xi măng, đá, để tạc hình Phật và bứt cành, bẻ lá, bông hoa, hay thắp hương làm bằng bột gỗ của trần tục. Tổ Đạt Ma giải thích trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất như sau:


Nói ‘Đúc hình tạc tượng’, tức đó là tất cả chúng sanh cầu Phật Đạo cần tu các giác hạnh phỏng theo chân dung diệu tướng của Như Lai, há đâu chỉ là việc đúc vàng đồng tầm thường vậy thôi ru! Bởi vậy, người cầu đạo Giải Thoát phải lấy Thân mình làm lò, lấy Pháp làm lửa, lấy Trí Huệ làm tay thợ khéo, lấy ba Giới tu tịnh, sáu Ba La Mật làm khuôn phép, nấu chảy và rèn đúc chất Chân Như Phật Tánh ở trong Thân cho thâm nhập khắp tất cả hình thức Giới Luật, y lời dạy đó mà vâng làm, mỗi mỗi không hở sót thì tự nhiên thành tựu hình tướng của chân dung. Hình tướng đó đích thực là Pháp Thân Thường Trụ vi diệu và cùng tột, há phải là pháp hữu vi hư đốn sao?

Còn việc đốt hương ấy, nào phải hương hình tướng của thế gian, mà chính là hương của Pháp Vô Vi vậy, xông lên các thứ dơ, xấu khiến cho nghiệp Vô Minh thảy đều tiêu mất.

Hương Chánh Pháp có năm thứ:

  • Một là HƯƠNG GIỚI, gọi thế vì nó có thể dứt mọi điều dữ, tu mọi điều lành.

  • Hai là HƯƠNG ĐỊNH, gọi thế vì nó tin sâu phép Đại thừa, lòng không chùng nản.

  • Ba là HƯƠNG HUỆ, gọi thế vì lúc nào ở bên trong cũng tự Tâm quán xét.

  • Bốn là HƯƠNG GIẢI THOÁT, gọi thế vì có thể dứt tất cả mê mờ trói buộc.

  • Năm là HƯƠNG GIẢI THOÁT TRI KIẾN, gọi thế vì lúc nào nó cũng quán chiếu sáng soi, suốt thông không ngại.

Đó là Năm thứ Hương, gọi là Hương Tối Thượng, thế gian không gì sánh được.


Khi còn tại thế, Phật khiến các đệ tử lấy LỬA TRÍ HUỆ đốt thứ hương báu vô giá ấy để dưng cúng Chư Phật Mười Phương. Chúng sanh ngày nay không rõ nghĩa chân thực của Như Lai, chỉ đem lửa ngoài đốt gỗ trầm của thế tục, xông thứ hương vật chất lên, mong cầu phước thánh thì sao được ru?

Còn việc rắc hoa ấy, nghĩa cũng vậy. Ấy là diễn nói Pháp Tánh. Hoa Công Đức ấy gây lợi ích nhiều cho giống hữu tình, gieo rắc thấm nhuần tất cả, tự nơi Tánh Chơn Như bố thí khắp cùng, khiến cho tất cả trang nghiêm.

Ai rắc thứ Hoa ấy thì được phước không cùng. Bằng nói Như Lai bảo chúng sanh chặt cành, bứt nhánh, lấy hoa cúng Phật, làm tổn hại đến cỏ cây, điều ấy không đâu có được.

Vì đã giữ Tịnh Giới thì muôn tượng um tùm trong trời đất đều chẳng nên đụng chạm đến. Nếu lầm chạm phải đã mắc tội nặng rồi, huống nữa nay còn cố ý phá Tịnh Giới, gây hại muôn vật để cầu phước báo, muốn được thêm cho mình lại hóa thành mất bớt đi, há có thể như vậy được sao?”.


Lời Tổ đã dạy như thế, nhưng bao đời nay mọi người cứ hình tướng mà làm, cứ dùng bột mạt cưa, tẩm hóa chất đốt lên để cúng Phật năm này sang tháng nọ. Họ không hiểu rằng làm như thế chẳng những không được phước mà còn không biết rằng tự mình đang chuốc họa vào thân.

Theo thông tin trên tờ MIGnews, nghiên cứu của các nhà Khoa Học Đan Mạch nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của một số loại hương đến sức khỏe của con người thì việc thắp hương ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người. Người thường xuyên tiếp xúc với khói hương có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi và đường hô hấp; vì khi hương cháy, thành phần tạo mùi thơm, những hợp chất hữu cơ như benzen, những hợp chất carbonyl và những hợp chất hydrocarbon sẽ kích thích tác động liên kết bề mặt của đường hô hấp đến viêm hô hấp mãn tính, phá hủy các tổ chức cơ thể dẫn đến biến đổi tế bào, biến đổi gen gây ra các hiện tượng dị sản, loạn sản. Khi là tế bào ác tính chúng sẽ biến thành tế bào ung thư.

Người đốt hương tin rằng tàn hương càng cong thì thần linh càng chứng giám. Trong khi đó, Bs. Đặng Văn Nguyên, cựu cố vấn chuyên môn của Bệnh Viện Nguyễn Trãi cho biết: Để có được tàn hương uốn cong, người sản xuất phải tẩm hóa chất phosphoric acid (H3PO4) để ngâm tăm hương. Càng ngâm lâu thì tàn hương càng cong. Việc cắm chân hương vào đồ cúng cũng khiến cho hóa chất tẩm vào thức ăn, gây tác hại cho sức khỏe.

(Nguồn: www.nguoiduatin)


Chúng ta thấy, Đạo Phật chân chính không dạy điều gì sai lầm, chỉ vì Phật Tử không chịu đọc kỹ lời dạy trong Kinh, cứ tin theo những gì được nghe mà không cần kiểm chứng. Cứ tin vào thần linh, tin vào những người có hình tướng tu hành, không biết rằng việc tu hành cũng có năm bảy đường, đâu phải bất cứ vị nào có hình tướng tu hành hay tu lâu năm là đã tinh thông Phật Pháp, lời họ giảng đều đúng với Chánh Pháp. Ngay Phật Ngôn cũng đã dặn kỹ:


Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy ta đã nghe thấy có người nói một lần rồi. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được truyền lại từ xưa. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được đồn từ phương xa đến. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy được viết ra từ trong Kinh sách. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì chính chúng ta đã suy diễn và nói ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy bề ngoài tỏ ra như thế. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy hợp với thành kiến của ta. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì tính cách có thể chấp nhận của các điều ấy. Đừng chấp nhận điều gì chỉ vì sự kính trọng của ta đối với người đã nói ra điều ấy.

Nhưng khi tự các con, các con đã hiểu rõ ràng có một điều gì đúng với đạo lý, không thể bị chê trách, được các bậc thiện tri thức thiện tâm tán đồng và có thể mang lại hạnh phúc an vui. Các con phải thực hành điều đó”.


Những kiểu cúng kiến, đốt giấy tiền, vàng mã đều xuất phát từ những Phật Tử. Nhưng ngay cả những điều được viết ra từ trong Kinh sách mà Phật còn dặn dò không nên tin, huống là chỉ nghe đồn, thấy nhiều người làm mà ta vội tin, vội làm theo. Phật, thánh thần là những vị linh thiêng, vô tướng, đâu có hưởng nhang khói làm chi mà chúng ta phải đốt để tiến cúng đến các vị? Tiền, âm phủ mà được sản xuất bởi người dương gian, làm sao có giá trị để âm phủ chấp nhận tiêu xài? Vàng mã đốt đi làm sao tới được với người ở cõi Âm? Tại sao lúc mọi người còn sống không đối tốt với người thân, với ông bà, cha mẹ, đợi họ chết rồi, lại đốt quần áo, xe cộ, nhà lầu để cho họ? Vừa hao tổn tiền bạc vô ích, lại gây ra nhiều cuộc hỏa hoạn, vạ lây cho hàng xóm, láng giềng vô tội. Mỗi lần có đám ma lại rải giấy tiền, vàng bạc khắp đường, làm cho đường phố thêm dơ bẩn, những công nhân quét đường lại phải vất vả quét, hốt! Nhiều Chùa cũng đã khuyến cáo Phật Tử về việc rải, đốt giấy tiền vàng mã rồi.

Trong khi Đạo Phật chân chính dạy chúng ta nên làm các thiện pháp. Giữ Giới, Định, Huệ, hành theo con đường Giải Thoát như đó là Hương để dâng cúng Phật Tâm của ta. Thì chúng ta cứ tiếp tục tạo Nghiệp, lại dùng Hương, Hoa trần tục đốt lên trước hình tướng các vị Phật ngoài, để mong các các vị nhận mà ban cho chúng ta đủ thứ theo lời cầu xin. Xá cho chúng ta và người thân đủ thứ tội! Nếu Cầu xin mà được thì trần gian đã không còn Khổ, thế giới đã Hòa Bình lâu rồi! Bao giờ chúng ta mới nhận ra điều đó? Các nhà Khoa học cũng đã lên tiếng về các bệnh có thể gặp phải nếu cứ tiếp tục đốt và hít vào những khói hương. Nếu chúng ta lại tiếp tục làm chuyện vô ích thì rõ ràng tự mình trở thành nạn nhân của mê tín, hủ tục, không thể tiến bộ được. Chúng ta cứ nhìn vào những nước văn minh mà xem, họ đâu có nương tựa thần thánh, đâu có cúng bái, hương, khói, mà dân họ thì văn minh, đất nước họ thì giàu mạnh. Thần thánh nào phù hộ cho họ, vì họ đâu có xì xụp van vái cầu xin thành khẩn như ta? Trái lại họ cứ phát minh khoa học, kỹ thuật, tôn trọng luật pháp mà sống. Giới chức cầm quyền thì không tham nhũng. Dân thì trật tự, kỷ cương. Biết tự trọng. Đời sống có văn hóa. Láng giềng không xâm phạm nhau. Những chỗ vui chơi đông người cũng không nói, cười ồn ào. Không có cảnh bia rượu như suối, mỗi năm uống cả 3 tỷ lít bia tính ra là 3 tỷ đô, và gần 68 triệu lít rượu như dân ta để rồi hệ lụy là tai nạn giao thông, bạo hành gia đình, bệnh xơ gan hoành hành! Ngay cả đi mua sắm mà họ cũng theo thứ tự, xếp hàng đợi đến lượt, không tranh giành, nói lên văn hóa ứng xử của họ rất cao, dù đất nước của họ không lâu đời, không có cả mấy ngàn năm văn hiến như nước ta. Bao nhiêu đời nữa chúng ta mới tiến bộ được như họ? Những điều như vậy đâu phải chúng ta không làm được, nhưng tại sao không thể làm?

Theo tôi, có lẽ đến lúc người Phật Tử chúng ta nên xem lại cách sống, cách Tin Phật, tin thần thánh của mình để tiến bộ hơn về mặt tâm linh. Phật, thần nào có thể phù hộ khi ta sống thiếu đạo đức, làm những việc bất chính rồi hối lộ các Ngài bằng hương khói, hoa quả, hoặc bằng cách nhờ Chùa cúng để Cầu An? Nếu thật sự là Phật Tử, thì chúng ta nên tin Nhân Quả, đừng nghĩ rằng “có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành” rồi giao khoán cho các Ngài phải có nhiệm vụ cứu độ cho chúng ta rồi tha hồ làm quấy! Nếu làm được như vậy hẳn Đạo Phật trở thành một nơi để trao đổi, xin xỏ, không cần phải nhọc sức tu hành, sửa đổi gì nữa. Trong Đạo Phật, qua thời gian, qua những người bị ảnh hưởng các hủ tục từ Trung Quốc truyền lại, rồi những người Phật Tử đời nay thiếu suy xét cũng đã làm cho hình ảnh Phật, thần linh bị ô uế ít nhiều. Trong những ngày lễ lớn, hình ảnh các Tượng ở Chùa bị nhét tiền lẻ vô tay, để tràn đầy trước mặt thấy thật là phản cảm. Chẳng lẽ thần thánh lại cần những đồng lẻ mà cho ăn mày họ cũng không thèm lấy? Ta đang cầu xin sự phù trợ hay đang coi thường các Ngài?

Những tưởng rằng đời sống càng văn minh thì sự hiểu biết của con người ngày càng tiến bộ. Nhưng theo báo chí đưa tin, ở Hà Nội mỗi năm đốt khoảng 50.000 tấn hàng mã, trị giá khoảng 400 tỷ đồng! Riêng đền Bà Chúa Kho, lượng vàng mã mỗi ngày lễ “hóa” lên đến hàng tạ, tương đương 80 đến 100 triệu tiền thật. Quả là con số quá lãng phí, là tội ác, trong khi người nghèo một bữa ăn no lòng còn chưa có. Rõ ràng những người làm theo những hủ tục đó cái Tâm Tham của họ quá lớn, muốn mua chuộc thần thánh, đồng hóa thần thánh với tham quan. Nhận của cúng thì phải làm theo lời thỉnh cầu của họ! Quan trần tục mà tham nhũng còn bị mất ghế. Thần thánh làm sai lẽ nào vẫn được ngồi yên? Nếu cầu xin mà được thì chúng ta cần gì học hành, làm ăn, mua bán, sản xuất, cứ nhang khói mà cầu thôi. Nếu vừa cầu, vừa trao đổi mà vẫn phải làm ăn. Sự hộ trì ở đâu không thấy mà cứ phải bon chen đầu tắt, mặt tối thì chúng ta nên học hỏi người nước ngoài. Họ chỉ gây Nhân Thiện, là học hỏi, làm ăn theo đúng khoa học, kỹ thuật, thì Quả Lành tự nhiên đến. Đời sống của họ, đất nước của họ cũng phồn thịnh hơn. Đó cũng là điều mà Đạo Phật chân chính hướng người tin theo, vì Đạo Phật còn được gọi là Đạo Nhân Quả, vì đem Nhân Quả để giáo dục con người. Không biết bao giờ người Phật Tử của chúng ta mới thực sự tin Nhân Quả để bỏ đi những mê tín, thần quyền, những hủ tục kéo dân trí ngày càng thấp xuống đây?



(Tháng 2/2015)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 14.3.2015.
Trang Trước
Trang Tiếp Theo

TÁC PHẨM CỦA TÂM NGUYỆN TRONG VIỆT VĂN MỚI